Thứ Ba, 12 tháng 4, 2011

Đọc thơ Trần Dần

Nhắc đến Trần Dần, có lẽ không có người Việt Nam nào lại không biết. Tôi cũng vậy, dù chỉ biết loáng thoáng rằng ông là một trong những nhân vật của nhóm Nhân văn - Giai phẩm ngày nào.

Và tất nhiên, tôi biết ông là một nhà thơ. Nhưng thơ ông viết ra sao thì quả thực tôi chưa bao giờ đọc. Trừ một vài câu rất nổi tiếng như "Tôi bước đi, không thấy phố không thấy nhà/Chỉ thấy mưa sa trên màu cờ đỏ".

Đối với tôi, thì chỉ cần mấy câu thơ ấy thôi cũng đủ cho thấy văn tài của Trần Dần là như thế nào rồi. Những câu thơ đau đáu, những hình tượng thật ám ảnh. Không khí của cả một thời đại được vẽ lên trong chỉ vài câu thơ mà thôi.

Trần Dần nhà thơ là như thế đấy. Chỉ vài câu thơ, mà hoàn toàn chinh phục tôi với tư cách một người đọc.

Và hôm nay tôi lại tìm được một vài bài thơ khác của Trần Dần. Cũng vậy, một giọng thơ ám ảnh. Tôi đọc, và không thể không suy nghĩ. Một thông điệp ở đâu đó trong thơ ông, rất rõ ràng nhưng lại cũng rất mơ hồ.

Chép lại ở đây cho chính mình, và cho các bạn bè, thân hữu của tôi.

Nhân tiện, Trần Dần cũng là người Nam Định, nơi quê cha của tôi đó! Giữa ông với tôi có chút gì giống nhau không?

------------
Sổ bụi 1989

.canh bạc giao thừa - thua cũng được?
đời
đau - thi
cách rõ ràng…

.quán thế - con mắt chiêm bao?
tia mắt chiêm bao ngạt ngào quanh thế?
người về bang cũ có buồn không? cố quốc
cố nhân bang mới buồn như khói? tấm lòng ga cuối lặng như đêm? trăng?

.ba bang chẳng có người chờ? không ai chung đắp mùng mưa chín vùng? não nùng ga cuối thu không? tàu đi?
chưa bừng con mắt chiêm bao? mưa còn lã chã nỗi đau thế trần?

.ngã ba đen? ngã ba đen?
sự vật không đèn?
ai khóc?
ngã ba tim?

.chôn sống tôi?
hãy chôn sống tôi?
ngay
đêm nay?
tôi nằm thênh
thang
dưới sao thắp
- bạt ngàn?

.tôi sẽ về chiêm bao trong vĩnh cửu đất
dưới một trời ay áy náy sao bay?

.hoa soi? hoa sói. hoa sòi. hoa khói? ga cuối của lòng? tim cuối? hai bàn chân cuối? “đây rồi phố cuối - khóc đi thôi?”

.tuổi cuối?
hai bàn chân cuối vẫn ra đi?

.tuổi cuối đi về xứ cuối?
có còn tia cuối nào không?

.tim cuối lê về phố cuối
hay là tia khói cuối đã tan đi?
nghĩ gì
xá gì khi khói - cuối đã bay đi?
mây cuối của lòng?
con mắt cuối vẫn chong trong?
đắm đuối cuối - cuối chân mây? khói cuối cay xè đôi mắt cuối?
tuổi cuối?
ga cuối của lòng
nghe hát thương hoa…

.bóng cuối?
cuối? cuối?
nhảy qua bóng cuối của mình?

.mùa quả cuối - cho nhau ngày hạ cuối? - chân trời bóng cuối chung đôi? - ngã ba tim…

.người tuổi cuối nô cô cô người cuối tuổi? là tô lồ tồ ngày - năm tháng hạc hà bay? - mêli mêlô gì khúc cuối thương hoa - vết máu ngã ba tim?

.ngã ba tim - từ ngã ba tuổi - từ đèn ngã ba? - ông già hòe? ông già kòe? tôi iêu ông già hòe? không iêu ông già kòe? - tôi êu ông già kòe? tôi iêu ông già hòe?

.tìm gì?
ráng lạc ngã ba tim?
tìm gì? tìm?
cô lộ ngã ba tim?
tìm gì?
Tư Mã ngã ba tim?
tìm gì?
nam nữ - ngã ba tim?

.mùng khói? ba sinh - mùng khói? ngỡ rằng bén khói để bay đi? ngỡ rằng khói bén để bay đi? ngỡ rằng él-khói để bay đi?
ba sinh mùng khói? đâu dè él - khói chẳng bay đi? đâu dè bén khói chẳng bay đi?

.cho tôi ngồi phố khói? ga khói của lòng? bướm khói liệng sân ga? tàu khói - chung nhau màu tuổi khói? đâu dè mắt khói chói chiêm bao. mây bay? chung đôi ngồi kể khói? mưa rất xưa mà thu rất xanh - mắt khói thế này - mắt khói để cho ai?


-----
Uẩn khúc ga cuối (Sổ bụi 1988)

ga cuối của lòng
chẳng nói -
sợ rằng như khói
- nói bay đi…
sợ rằng như nói
- khói bay đi...
ga cuối của lòng…

.ngày 23 tháng 1 năm 89. tức 10 chạp thìn.
dương đã 89 - âm vẫn chửa sang trang kỉ tị. thời gian châu Á vẫn tiêu sâm... tôi chẳng muốn mang sang gì cả. nỗi buồn ga cuối còn nguyên.

-----------
Thơ mi-ni

Tác phẩm là bản gốc ? đời là bản sao ?
Ối Ôi, luôn tam sao thất bản

Tôi khóc những chân trời không có người bay
Lại khóc những người bay không có chân trời

tôi khóc những chân trời - bụi đỏ
Ở đó: vắng người
không có người biết khóc – các chân mây

vô tư như thuở ngày xưa
Nhìn một vì sao
buồn bên ngưỡng cửa

Em hãy giữ gìn đôi mắt lệ.
Đừng đau mứt lệ hạ huyền
Nỗi buồn sáng thế còn nguyên.

1988 - 1989

Thứ Hai, 11 tháng 4, 2011

"How to fail"

Bài viết ngắn ấy của Seth Godin vừa được gửi vào hộp thư của tôi cách đây một tiếng đồng hồ.

Seth là ai, tôi hoàn toàn không biết. Chỉ biết anh ta (ông ta?) là một fellow blogger, viết bằng tiếng Anh. Một ngày đẹp trời nào đó, tôi đã tìm ra blog của anh qua google, khi đang tìm tài liệu cho một vấn đề gì đó.

Theo đường dẫn do Google cung cấp, tôi vào blog của Seth, và cảm thấy thú vị vì những bài viết ngắn, dễ đọc nhưng rất thâm thúy của anh. Và vì thấy trang blog này có công cụ cho phép đăng ký để nhận mail mỗi khi có entry mới, tôi đã đăng ký để hàng ngày nhận update từ trang của anh, và hầu như không bao giờ trở lại blog ấy nữa (vì mọi thứ cần đọc thì đã được gửi vào trong mail rồi).

Cũng không phải bài viết nào của Seth thì tôi cũng đọc. Ngược lại thì đúng hơn: rất ít bài của Seth được gửi đến tôi đã được đọc. Thường thì tôi chỉ nhìn cái tựa, và nếu không thấy có gì đáng quan tâm thì bỏ qua.

Nhưng cái tựa entry mới hôm nay đã làm tôi dừng lại đọc. Và thấy bài viết thật sâu sắc, đáng suy nghĩ. Nên đưa nó lên đây để lưu, để suy gẫm, và để chia sẻ với các bạn bè của tôi.

Mọi người đọc dưới đây nhé. Còn ai muốn vào tận trang blog của Seth để tìm hiểu thì vào đây.

Chúc các bạn rút ra được những kết luận có ý nghĩa cho riêng mình từ bài viết của Seth.

------------
How to fail
By Seth Godin


There are some significant misunderstandings about failure. A common one, similar to one we seem to have about death, is that if you don't plan for it, it won't happen.

All of us fail. Successful people fail often, and, worth noting, learn more from that failure than everyone else.

Two habits that don't help:
- Getting good at avoiding blame and casting doubt
- Not signing up for visible and important projects

While it may seem like these two choices increase your chances for survival or even promotion, in fact they merely insulate you from worthwhile failures.

I think it's worth noting that my definition of failure does not include being unlucky enough to be involved in a project where random external events kept you from succeeding. That's the cost of showing up, not the definition of failure.

Identifying these random events, of course, is part of the art of doing ever better. Many of the things we'd like to blame as being out of our control are in fact avoidable or can be planned around.

Here are six random ideas that will help you fail better, more often and with an inevitably positive upside:
- Whenever possible, take on specific projects.
- Make detailed promises about what success looks like and when it will occur.
- Engage others in your projects. If you fail, they should be involved and know that they will fail with you.
- Be really clear about what the true risks are. Ignore the vivid, unlikely and ultimately non-fatal risks that take so much of our focus away.
- Concentrate your energy and will on the elements of the project that you have influence on, ignore external events that you can't avoid or change.
- When you fail (and you will) be clear about it, call it by name and outline specifically what you learned so you won't make the same mistake twice. People who blame others for failure will never be good at failing, because they've never done it.

If that list frightened you, you might be getting to the nub of the matter. If that list feels like the sort of thing you'd like your freelancers, employees or even bosses to adopt, then perhaps it's resonating as a plan going forward for you.

Thứ Tư, 6 tháng 4, 2011

Tôi là cựu sinh viên La Trobe!


Tôi vừa nhận được bản tin điện tử của Hội cựu sinh viên La Trobe gửi đến hộp thư của mình.

Và rất bất ngờ, cũng như thú vị, khi thấy mẩu tin về buổi gặp mặt cựu sinh viên La Trobe cách đây ít lâu tại TP HCM. Mà không chỉ có thế, còn có cả hình của tôi (chụp cùng với 2 bạn cựu sinh viên La Trobe khác) nữa chứ. Ở đây này.

La Trobe. Đã xa lắm rồi. Tôi rời La Trobe vào sáng ngày 30/12/1996 sau đúng 36 tháng dùi mài kinh sử. Sống ở Melbourne 3 năm mà chẳng biết gì ngoài ký túc xá Chisholm College dành cho sinh viên quốc tế, thư viện Bundoora, văn phòng làm việc trong Graduate School of Education nơi tôi học. Và siêu thị gần nhà, trạm xe buýt .... Chấm hết!

Nghĩ lại mà xem, lúc ấy tôi chỉ mới có 36 tuổi, thật không ai ngờ được! Một con bé (well, 36 tuổi thì chẳng còn trẻ nữa nhưng ở VN thì vẫn bị xem là con nít, không được quyền có chính kiến). Về nước với tấm bằng tiến sĩ đầu tiên ở trường XHNV (lúc ấy cả hiệu trưởng, hiệu phó của tôi đều vẫn còn là Phó Tiến sĩ, chưa có chủ trương quy ngang thành tiến sĩ), từ một nước tư bản về trong khi tất cả những người khác nếu có bằng sau đại học thì đều thuộc khối Đông Âu. Tôi đã khó khăn biết chừng nào để hòa nhập lại với cộng đồng. And, of course, I did it by keeping a low profile - for a long time.

Đã ý thức vậy, mà cũng không nhịn được với những bất bình xung quanh, để cuối cùng phải bật ra khỏi cái khoa mà lúc ấy tôi vô cùng tâm huyết với nó, vì nghĩ rằng nó sẽ làm được rất nhiều việc cho một đất nước lúc ấy đang bắt đầu mở cửa.

Để giờ đây, đến năm 2011 này thì tôi giật mình: tôi đã có 15 năm tiến sĩ rồi đó. Nhìn lại mình, đời đã xanh rêu. Tôi đã làm được gì chưa cho chính mình, cho gia đình, và quan trọng hơn (phải không?) là cho xã hội nhỉ?

Hy vọng là cũng có một chút! Để những năm dài đằng đẵng nơi quê người cũng không đến nỗi uổng công.

Nhưng dù gì thì gì, tôi vẫn rất yêu La Trobe, nơi đã đem lại cho tôi sự trưởng thành về trí tuệ, để tôi là tôi ngày nay.

Và rất cám ơn nước Úc với chính sách cấp học bổng cho các nước nghèo trong khu vực, trong đó có VN, ròng rã hơn hai thập niên qua (bắt đầu từ cuối thập niên 1980, sau khi VN rút khỏi Campuchia).

Vâng, tôi là cựu sinh viên La Trobe. Và rất tự hào là cựu sinh viên La Trobe người VN đầu tiên.

Thứ Hai, 4 tháng 4, 2011

Bạn bè tôi

Chỉ là lưu lại vài tấm hình đàn đúm với bạn bè.

Tấm này hình như là ở Nhà hàng Hoàng Yến, trước ngày tôi đi Indo, trong tháng 3 vừa qua.

Còn tấm này thì mới chủ nhật vừa qua, 3/4/2011, ở nhà (chị của) Lộc. Một kiểu ăn tân gia. Nhà rất đẹp, riêng phòng của Lộc thì còn thiếu đồ, ai có dư đồ, hoặc có đồ cũ không dùng, thì xin cứ alô cho Lộc đến lấy, Lộc sẽ đa tạ (phải vậy không Lộc?)

Đấy là những bạn bè chí cốt của tôi, những tình bạn trên 20 năm, những người từ thời ĐH Tổng hợp vẫn còn chưa bị mất tên.

Thôi ta còn bạn bè, đó là những lời của TCS. Luôn luôn đúng.

Đọc lại "Hoàng tử bé" của Saint Exupery


Có lẽ không ai trong thế hệ chúng tôi là không biết đến cuốn truyện nho nhỏ ấy, cuốn "Hoàng tử bé" của Saint Exupery.

Tôi nhớ lúc ấy tôi khoảng 12, 13 tuổi, đang học cấp 2 ở trường Gia Long. Cuốn "Hoàng tử bé" hình như có bìa màu vàng, trên vẽ hình cậu bé mặc áo choàng, mặt mày trông ngơ ngác lắm. Tôi tìm được nó trên kệ sách thiếu nhi của nhà sách Khai Trí, một địa điểm mà bố tôi thường đưa anh chị em tôi đến gần như hàng tuần. Một cuốn sách nhỏ và mỏng, chỉ khoảng vài chục trang thì phải.

Tôi đọc cuốn sách ấy một lần, nó dễ đọc, kể lại câu chuyện một cậu hoàng tử bé tí rơi từ hành tinh khác đến trái đất, gặp gỡ và trò chuyện một vị phi công bị rớt máy bay trong sa mạc. Câu chuyện không đầu không đuôi, và lần đầu tiên đọc nó (khi còn là thiếu niên), tôi không có ấn tượng gì mạnh mẽ lắm. Vì câu chuyện được viết với giọng văn hơi buồn buồn, đều đều, nhàn nhạt - ấy là ấn tượng về cuốn truyện ấy của một đứa bé 12, 13 tuổi là tôi lúc đọc nó lần đầu.

Tôi đọc xong, rồi quên phắt cuốn truyện, cũng chẳng giữ lại nó nữa (tôi có thói quen lưu giữ những gì mình cho là quý báu hoặc quan trọng). Nhưng điều tôi không ngờ là rất nhiều câu văn trong cuốn truyện be bé ấy lại in sâu trong ký ức của tôi. Để mỗi khi có dịp thì nó tuôn ra ào ạt.

Chẳng hạn như "mùa quân sự" (tức một tháng học quân sự trong chương trình bắt buộc của sinh viên đại học) năm ấy, năm học 1978-1979. Lúc ấy, VN đang có chiến tranh với Campuchia ở vùng biên giới Tây Nam, và chiến tranh với TQ ở vùng biên giới phía Bắc. Bọn tôi lúc ấy 18-19 tuổi, đang học năm thứ nhất, những kẻ cực kỳ may mắn được học đại học, vì thời ấy việc lọt qua kỳ thi đại học là vô cùng khó khăn, đặc biệt là những đứa có lý lịch không lấy gì làm sạch sẽ như tôi.

Nếu không đậu đại học, và nếu là con trai, thì chắc chắn là phải đi nghĩa vụ quân sự, vì lúc ấy đất nước đang có chiến tranh mà. Thực ra, có cả những "đứa" thi đậu rồi nhưng chưa kịp nhận giấy báo trúng tuyển của trường (có thể là vì bưu điện làm trễ?) thì đã nhận được giấy báo trúng tuyển ... nghĩa vụ quân sự, thế là lên đường - chỉ 3 năm sau khi chiến tranh hai miền Nam Bắc vừa chấm dứt:

Chưa yên vui cho trọn ngày
Áo lính lại khoác vào ngay ...


Đấy là bối cảnh chính trị-xã hội của đất nước mà thế hệ của chúng tôi đã lớn lên thời ấy. Trên nền của bối cảnh lớn ấy, đám thanh niên nam nữ 18-19 tuổi của bọn tôi được tập trung lên Thủ Đức 1 tháng để rèn luyện quân sự, theo chủ trương quốc phòng toàn dân của nhà nước ta. Thủ Đức thời ấy còn rất hoang vu, thơ mộng. Bọn tôi thì ở tập trung, ngày thì đi tập lăn lê bò toài, nhưng đến tối, và chủ nhật (ngày ấy chưa được nghỉ thứ bảy) thì rảnh, nên thường đi dạo chơi thơ thẩn. Và ... buồn, một nỗi buồn vu vơ ....

Tôi không biết những người khác trong lớp thì như thế nào, nhưng riêng tôi thì mùa quân sự năm ấy tôi buồn lắm. Buồn, mà chẳng hiểu tại sao. Có lẽ vì nhớ nhà, mẹ tôi lúc ấy một tay buôn bán tần tảo nuôi cả gia đình (bố tôi nghỉ việc sau năm 1975), các em tôi thì còn bé, anh chị ruột của tôi thì đi di tản và thỉnh thoảng vẫn viết thư về nhà nhưng không đều như mẹ tôi mong muốn. Tôi trở thành chỗ dựa tinh thần đồng thời là chân tay, đầu sai duy nhất của mẹ tôi (các em tôi thì còn nhỏ, vì đứa em trai kế tôi thua tôi đến 5 tuổi), vì thế, đi xa nhà trong thời gian dài (một tháng) lần đầu tiên trong đời cũng làm tôi bồn chồn, không yên tâm lắm.

Mà cũng có có thể cái buồn đó là vì tôi đang lớn, xung quanh thì khung cảnh hữu tình, hồ nước xanh, hoa mua tím, cỏ dại và lau sậy ngút ngàn ... khiến tâm hồn "thi nhân" của tôi (!) cứ thế mà trỗi dậy. Buổi trưa, tôi không ngủ (thói quen từ nhỏ) nên hay đi lang thang, hái hoa bứt cỏ, thơ thẩn .... Buổi chiều sau khi ăn cơm xong, tôi cũng hay đi như thế, nhìn mặt trời hoàng hôn dần xuống, một màu đỏ rất lạ lùng, có khi đỏ cam, có khi đỏ tím, nhưng bao giờ cũng buồn hiu hắt....

Và trong bối cảnh như vậy, tự nhiên trong đầu tôi bỗng "tua" lại như một cuộn băng, những giòng chữ, những mẩu đối thoại trong cuốn Hoàng tử bé mà tôi đã đọc từ khi học cấp 2:
"Một ngày nọ, tôi đã nhìn mặt trời lặn liên tiếp bốn mươi ba lần!"

Và ít lâu sau, chú nói thêm:

"Bác biết đó... lúc người ta buồn quá đỗi, người ta yêu dấu cảnh mặt trời lặn xiết bao..."

"Cái ngày chú nhìn bốn mươi ba lần nọ, chú đã buồn quá đỗi phải không?

Nhưng hoàng tử bé không đáp.

Đấy chỉ là một ví dụ về Hoàng tử bé. Tôi cũng nhớ nhiều câu, nhiều đoạn khác trong cuốn truyện nhỏ của Saint Exupery, ví dụ như mẩu truyện về những con số. Đại khái là khi anh tả ngôi nhà xinh xắn của anh, với hoa thơm cỏ lạ trong vườn, thì chẳng ai có ấn tượng chi. Nhưng khi anh nói rằng căn nhà đó có giá, well, 2 triệu đô la Mỹ chẳng hạn, thì mọi người bỗng ồ lên, "ôi, sao mà xinh thế!".

Và dễ thương vô cùng là những lời hỏi đáp giữa hoàng tử bé và đóa hồng kiêu sa với những trò dối trá ranh ma, láu cá của cô. Cậu hoàng tử dù biết rằng cô dối trá, nhưng đã quá yêu nên vẫn thấy tất cả con người cô là đáng yêu, chỉ có cậu là đáng ghét. Cậu hoàng con của tôi thất tình ...

Một cuốn truyện vô cùng dễ thương, nhưng dường như thế hệ của các con tôi thời nay không đọc. Trong khi tôi nghĩ, lẽ ra cuốn truyện này phải được đưa vào chương trình chính thức, phần giới thiệu văn học nước ngoài. Vì nó phù hợp với tâm lý học sinh biết bao, và - dù tác giả có lẽ không đặt ra mục đích này - nó thật có tác dụng làm thanh lọc tâm hồn, nó dạy ta những tình cảm dịu dàng, những triết lý đơn sơ về cuộc sống. Nó trò chuyện với từng người, nó chạm đến từng thớ tim, những ngóc ngách sâu kín nhất của tâm hồn của mỗi cá nhân. Nó giống như một người bạn thân tình, lắng nghe và an ủi những nỗi buồn của chúng ta, ân cần, thủ thỉ ...

Nhưng tại sao tôi cần đọc lại Hoàng tử bé vào lúc này nhỉ? Ừ, tôi cũng có một chút buồn.

Chiều hôm qua, tôi thấy mình cũng như ngày Hoàng tử bé trong ngày nhìn ngắm mặt trời lặn đến bốn mươi ba lần ấy.

Ai chưa đọc Hoàng tử bé, hoặc đọc rồi nhưng vẫn muốn đọc lại, xin vào đây.

Để gặp lại người bạn tâm giao của mình qua cuốn sách nho nhỏ ấy.

Thứ Sáu, 1 tháng 4, 2011

Bài đáng đọc và suy nghĩ: "Minh bạch trong quản lý"

Đọc Tuần VN sáng nay, tôi chú ý đến bài viết của tác giả Vũ Quốc Tuấn với tựa đề mà tôi đã đưa trong tựa của entry này: Minh bạch trong quản lý. Bài ấy ở đây.

Toàn bộ bài viết đều đáng đọc, nhưng ở đây tôi chỉ xin trích một vài đoạn mà tôi cảm thấy tâm đắc nhất.
Trong tình hình nước ta hiện nay, minh bạch gắn với trách nhiệm giải trình không chỉ là một yêu cầu cấp thiết để thực hành dân chủ, bảo đảm quyền của dân trong tham gia quản lý đất nước, mà quan trọng hơn nữa, chính là một giải pháp hữu hiệu nhằm phòng, chống tệ nạn tham nhũng - nỗi nhức nhối của xã hội, làm trong sạch bộ máy và củng cố niềm tin của dân đối với Nhà nước. Trên thế giới, khi nêu ra vấn đề kiểm soát tham nhũng, người ta cũng đã nêu ra phương trình: Tham nhũng (corruption) = Độc quyền (monopoly) + Quyền tự quyết định (discretion) - Trách nhiệm giải trình (accountability) - Tính minh bạch (transparency) (theo Klitgaard, Robert E. 1988, "Controlling Corruption").


Trong đoạn trích ở trên, đáng chú ý nhất là công thức về tham nhũng, trong đó minh bạch (hoặc không minh bạch) là một trong 4 yếu tố có tác động đến tình trạng tham nhũng. Khi thử áp dụng công thức đó vào những công việc hàng ngày ở các cơ quan nhà nước - kể cả cơ quan quản lý nhà nước lẫn các cơ quan sự nghiệp công - thì tôi thấy rõ lý do tại sao mà VN lại đứng trong top đầu các quốc gia có tệ nạn tham nhũng trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương (cụ thể là đứng hạng 5 trên tổng số 16 nước), như tin đã đưa ngày 30/3/2011 trên trang mạng ABS-CBNNews, có thể tìm thấy ở đây.

Tại sao thế? Đây này:

- Độc quyền: Chắc chắn là chúng ta có nạn độc quyền, mặc dù Nhà nước đang ngày càng cố gắng giảm bớt (nhưng những nỗ lực này dường như chưa thành công lắm). Ví dụ minh họa thì đầy khắp nơi, cụ thể là việc bầu cử quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp sắp tới. Rõ ràng là chỉ có đảng viên mới có đầy đủ quyền công dân mà thôi (= quyền ứng cử vào các cơ quan lập pháp, mặc dù trên nguyên tắc thì ai cũng có thể tự ứng cử). Còn những người khác thì ... xin lỗi nhé, đi chỗ khác chơi cho người lớn nói chuyện.

Cũng vậy, trong các chức vụ "chính quyền" (tôi dùng từ chính quyền theo nghĩa rộng, tức những bao hàm cả những vị trí điều hành, quản lý trong các đơn vị sự nghiệp công) thì cũng chỉ có đảng viên là có đầy đủ thông tin, biết trước các định hướng phát triển của đơn vị, biết rõ những gì sẽ xảy ra về mặt nhân sự, ngoài ra còn được quyền diễn giải thông tin được cung cấp theo cách riêng của mình mà không có mặt những người không đảng để có thể trao đổi, và làm rõ vấn đề. Tình trạng độc quyền thông tin này khiến cho chỉ có những người trong đảng mới có thể làm việc và phát triển thực sự (tất nhiên, nếu có thực tài), còn tất cả những người khác thì bị rơi vào tình trạng cạnh tranh ở thế yếu. Độc quyền như thế tất sẽ dẫn đến tham nhũng, như công thức trên đã chỉ rõ.

2. Quyền tự quyết định: Theo kinh nghiệm của tôi (có thể không chính xác 100%, nhưng tôi cũng rất mong là mình sai vì như thế có nghĩa là thực tế tốt hơn những gì tôi cảm nhận và viết ở đây) thì mặc dù Nhà nước đang kêu gọi toàn dân sống và hành động theo pháp luật, nhưng dường như pháp luật chỉ dành cho thường dân không Đảng, còn đảng viên thì trước hết và trên hết cần phải làm theo nghị quyết Đảng. Nói chung, tôi tin rằng các đảng viên đều là người tốt vì đã trải qua một quá trình sàng lọc, lựa chọn rất gắt gao, rồi sau đó tiếp tục phấn đấu, rèn luyện trong đảng. Như vậy, hẳn là các quyết định của những con người ưu tú như thế hẳn phải đúng đắn nhất cho từng tình huống cụ thể. Nhưng tôi vẫn rất băn khoăn khi thấy có nhiều trường hợp một nghị quyết của đảng bộ của một đơn vị có tác dụng phủ quyết mọi quy định sẵn có trước đó trong đơn vị.

Tôi hiểu là theo luật của VN thì Đảng lãnh đạo tuyệt đối và toàn diện trên mọi mặt hoạt động của xã hội và ở mọi cấp độ của quản lý, nhưng nếu vậy thì tôi không hiểu là dân thường, không có đảng phái nào cả sẽ làm sao để theo kịp các chủ trương, quyết nghị, nghị quyết (hai từ này dường như có khác nhau, nhưng tôi không rõ chúng thực sự khác như thế nào) của Đảng để mà làm cho đúng nhỉ? Và, ngộ nhỡ các đảng viên lỡ (vô tình hoặc cố ý) làm sai quy định của pháp luật, rồi sau đó lại ra nghị quyết chấp nhận những điều sai quy định đó, thì sao?

3. Trách nhiệm giải trình: Riêng khoản này thì tôi tin rằng Nhà nước đang cố gắng thực hiện, ví dụ như trước đây đâu có những cuộc chất vấn của Hội đồng nhân dân hoặc Quốc hội đối với chính quyền như hiện nay. Việc buộc chính quyền, tức cơ quan hành pháp, phải giải trình trước Quốc hội và Hội đồng nhân dân, tức cơ quan lập pháp, là một bước tiến rất xa trong việc xây dựng một nhà nước dân chủ tại VN. Tôi không than phiền gì về điều này cả, chỉ mong là quá trình dân chủ hóa này ngày càng được đẩy mạnh ở mọi nơi và mọi cấp. Vì như thế sẽ có tác dụng giảm bớt tham nhũng, như theo công thức ở trên.

4. Minh bạch: Theo tôi, đây là cốt lõi của vấn đề. Mặc dù theo công thức tham nhũng ở trên thì minh bạch là yếu tố cuối cùng, và chỉ là một trong 4 yếu tố, nhưng tôi cho rằng nó lại là yếu tố quyết định cho việc chống tham nhũng. Vì tham nhũng chỉ xảy ra được khi không có ai biết. Muốn chống tham nhũng có hiệu quả thì phải có giám sát toàn dân, mà giám sát toàn dân thì chỉ thực hiện được nếu mọi người đều có được một lượng thông tin ngang nhau và cùng một lúc. Nhưng làm sao để có được điều đó?

Tôi nghĩ, vai trò của một hệ thống thông tin, truyền thông-báo chí ở đây là rất lớn. Ở các nước tiên tiến, người ta gọi truyền thông là quyền lực thứ tư (ba quyền lực kia là lập pháp, hành pháp và tư pháp). Nhưng liệu ở VN thì truyền thông có thể, có nên, và nếu có thì khi nào, được trao cái quyền lực ghê gớm ấy không, và nếu không thì tại sao - đấy lại là một câu hỏi quá lớn vượt quá tầm hiểu biết của tôi, một bà già ngoài 50 tuổi (một cô giáo làng, actually) với kiến thức về chính trị và xã hội có lẽ còn ít ỏi hơn nắm xôi cúa Bờm nữa, thì tôi hoàn toàn chịu phép không trả lời được.

Thế tác giả của bài viết nói gì? Xin đọc tiếp đoạn trích sau:
[C]ần có cơ chế ràng buộc mọi cơ quan nhà nước phải thực hiện đúng đắn các quy định về công khai, minh bạch trong quản lý. Những vấn đề hoặc văn bản nhà nước thuộc loại "mật" hoặc "tuyệt mật" cần được quy định chặt chẽ, có giám sát, phòng ngừa những trường hợp lạm dụng để hạn chế quyền được thông tin và quyền giám sát của dân. Chúng ta đã có khá nhiều quy định về vấn đề này, như lấy ý kiến của dân trong quá trình soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật hoặc quy chế dân chủ ở cơ sở, v.v... nay cần được thực hiện nghiêm túc
.
Những điều tác giả nêu ở trên đều đúng. Tác giả đã chỉ ra được là chúng ta cần phải làm gì. Vấn đề còn lại là: làm như thế nào? Nhưng điều này hình như cũng vượt quá tầm của tác giả mất rồi. Cũng giống như rất nhiều việc khác ở VN.

Lấy một ví dụ trong giáo dục: chúng ta dều biết là hiện nay cần phải làm gì, vd cần giảm tải chương trình, cần nâng cao năng lực giáo viên, cần chú trọng các kỹ năng mềm, cần đào tạo đáp ứng nhu cầu xã hội. Tất cả đều đúng. Nhưng làm như thế nào, ai có thể làm được, và làm sao biết là cách làm của mình sẽ đem lại thành công, thì dường như không ai thống nhất với ai, mỗi người kéo đi một hướng. Cứ y như trong hình phạt "tứ mã phân thây" vậy: 4 con ngựa kéo đi bốn hướng.

Thế nên, đọc thì đọc, nghĩ thì nghĩ, nhưng hình như vẫn chưa ai tìm được giải pháp cả. Vì giải pháp không chỉ là nêu ra cần phải làm gì, mà quan trọng không kém (nếu không muốn nói là quan trọng hơn) là phải làm như thế nào, bắt đầu từ đâu, ai làm?

Nhưng hình như cứ đến chỗ này thì mọi câu hỏi đều trở thành câu hỏi lớn không lời đáp!

Có người hỏi tôi ...

"Có người hỏi tôi" là mấy từ trong câu đầu tiên của một bài hát ngày xưa mà có thời tôi rất thích. Đại khái, câu hát ấy như thế này: "Có người hỏi tôi, hỏi sao lâu rồi không về thăm quê miền Trung...".

Nhưng entry này của tôi không liên quan đến bài hát ấy, mà chẳng qua là có một vài bạn bè cũ của tôi gọi đến, hỏi: đang làm việc hẳn hoi, công việc đang phát triển vậy, cũng còn đến gần 5 năm nữa mới hưu, rồi đùng một cái tự nhiên viết mấy bài về "từ quan" nghe rầu quá vậy, là sao?

Xin thưa: tôi vẫn làm việc chứ, vì không hiểu người khác thì sao, chứ với tôi, làm việc là một nhu cầu rất căn bản, giống như ăn, như thở. Nhưng làm việc gì, và quan trọng hơn nữa là làm với ai, thì đó là điều tôi luôn cho phép mình được quyền lựa chọn, dù có phải trả giá đôi chút.

Huống gì tôi đã ngoài 50 rồi - dù vẫn còn rất ngơ ngác - mà đi làm cũng chỉ còn 2 năm nữa là trọn 30 năm, lại đã phải trải qua những công việc và kinh nghiệm việc làm gay go, mệt mỏi nhất, và sức khỏe cũng giảm sút nhiều, thì tại sao đến lúc này tôi lại không thể cho phép tôi nghỉ ngơi một chút?

Chưa kể, từ chức hay nghỉ việc là một cách hữu hiệu để bày tỏ thái độ của mình một cách dứt khoát.

Tôi nhớ đến Nguyễn Khuyến, người đã cáo quan để về dạy học. Và nhớ 2 câu thơ nổi tiếng sau của Nguyễn Bỉnh Khiêm:

Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ
Người khôn người đến chốn lao xao...


Từ quan ... có gì đâu, sao mọi người lại quan tâm đến thế? Chẳng phải là ở VN ta vẫn nói, "quan nhất thời dân vạn đại" đó sao?