Hiển thị các bài đăng có nhãn poetry. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn poetry. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 4 tháng 4, 2013

"Chim hót trong lồng"

"Chim hót trong lồng" là tựa của một cuốn tiểu thuyết của nhà văn Nhật Tiến mà tôi đã đọc từ thời còn bé. Đọc lâu quá rồi nên cũng không nhớ rõ cốt truyện, chỉ biết nó được viết theo dạng một cuốn nhật ký của một cô bé được mẹ gửi vào học nội trú ở một trường dòng. "Chim hót trong lồng" chính là cô bé ấy, nhân vật chính của cuốn tiểu thuyết.

Nhưng tự nhiên sao tôi lại nhớ cái tựa của cuốn tiểu thuyết này? À, là do sáng ra mở fb, tôi đọc được một bài thơ rất hay về một chú chim (mà sao lại phải là chú nhỉ, nếu gọi là cô chim thì có được không ta?) tuy bị nhốt trong lồng nhưng vẫn (phải) ca hót (làm như) vui vẻ, giọng cao lảnh lót. Bài thơ ý tứ rất sâu xa, hàm chứa một thông điệp lớn: chỉ có những kẻ mất tự do thì mới thấy được đầy đủ ý nghĩa và giá trị của tự do. Và tự nhiên cái "trí nhớ nghịch thường" (tức là: quên chuyện mới, nhớ chuyện xưa) của tôi, một bà già đã "ngoại ngũ tuần" (hic hic hic, nghe già quá đỗi!) bỗng nhớ ngay đến cuốn sách mà mình đã đọc từ thuở xa xưa, "khi mới lớn tuổi mười lăm mười bảy/làm học trò mắt sáng với môi tươi".

Bài thơ ấy đây, xin chép lại đây cho chính tôi và cho các bạn. Tôi đang bận quá nên bản dịch dưới đây chỉ mới là dịch thô, chưa ưng ý lắm, tạm chép ra đây  để các bạn có thể hiểu ý chính, nhưng chắc chắn đây sẽ là một trong những bài thơ mà tôi sẽ quay lại dịch trau chuốt hơn khi có thời gian (và nếu cái trí nhớ nghịch thường của tôi vẫn còn nhớ, hu hu!)

Và, khi đọc/ dịch bài thơ này tôi lại nhớ đến phiên tòa ở Hải Phòng với vụ án Đoàn Văn Vươn, cùng mức án đang được đề nghị là 5, 6 năm tù, chưa biết kết cục ra sao. Nhưng dù kết cục thế nào thì anh Vươn hiện nay tình cảnh cũng chẳng khác gì một chú chim trong lồng, "cánh bị xén chân bị buộc/ chỉ còn có lời ca". Không biết làm gì để chia sẻ với anh, thôi thì xin tặng bài thơ này đến anh và cầu chúc cho anh và gia đình anh những điều tốt đẹp nhất, in spite of everything. Mọi người đứng bên cạnh anh, anh Vươn ạ!

The Caged bird
Maya Angelou

A free bird leaps
on the back of the wind   
and floats downstream   
till the current ends
and dips his wing
in the orange sun rays
and dares to claim the sky.

But a bird that stalks
down his narrow cage
can seldom see through
his bars of rage
his wings are clipped and   
his feet are tied
so he opens his throat to sing.

The caged bird sings   
with a fearful trill   
of things unknown   
but longed for still   
and his tune is heard   
on the distant hill   
for the caged bird   
sings of freedom.

The free bird thinks of another breeze
and the trade winds soft through the sighing trees
and the fat worms waiting on a dawn bright lawn
and he names the sky his own
But a caged bird stands on the grave of dreams   
his shadow shouts on a nightmare scream   
his wings are clipped and his feet are tied   
so he opens his throat to sing.

The caged bird sings   
with a fearful trill   
of things unknown   
but longed for still   
and his tune is heard   
on the distant hill   
for the caged bird   
sings of freedom.

Chim hót trong lồng
Chú chim trời tự do
Chân sáo nhảy vui theo nhịp gió
Chao liệng qua mặt sông
Bay đến cuối cầu vồng
Chạm cánh vào mặt nước
Rồi vút bay đến tận trời cao


Nhưng chú chim nhà
Trong chiếc lồng chật hẹp
Tầm mắt bị chắn ngang
Bởi những chiếc nan bằng sắt
Cánh bị xén, chân bị buộc
Chỉ còn có lời ca. 


Chú chim trong lồng
Cất lời ca lảnh lót
Hát về chân trời xa
Suốt đời mộng ước
Tiếng hát tự đáy tim
Trên núi đồi vọng mãi
Trong lồng chim vang hót
Cho khát vọng tự do. 

Chú chim trời tự do 
Chờ làn gió mát rung ngọn cây
Tìm chú sâu non trên bãi cỏ
Chiếm giữ cả không gian khoảng khoát
Đâu biết chú chim nhà
Đứng trên nấm mồ hy vọng
Bóng phủ lên ác mộng hãi hùng
Cánh bị xén, chân bị buộc
Chỉ còn có lời ca. 


Chú chim trong lồng
Cất lời ca lảnh lót
Hát về chân trời xa
Suốt đời mộng ước
Tiếng hát tự đáy tim
Trên núi đồi vọng mãi
Trong lồng chim vang hót
Cho khát vọng tự do.  

 Phương Anh dịch T4/2013

Thứ Ba, 2 tháng 4, 2013

Nửa đêm, đọc Phong kiều dạ bạc

Trước hết xin khẳng định, tôi hoàn toàn chưa bao giờ nghe đến tên bài thơ Phong kiều dạ bạc này, cho đến tận sáng chủ nhật Phục Sinh mới cách đây có vài hôm thôi.

Số là gần đây tôi có đăng lên trên blog mấy bài bình thơ Đường của bạn bè, thân hữu, và được khá nhiều người đọc và thích thú. Trong số những bạn đọc ấy có cả những người bạn cũ của tôi giờ sinh sống ở nước ngoài, là công dân của những nước lớn, thậm chí là siêu cường trên thế giới như Mỹ, Anh, Đức, Pháp .... Những người đã sinh sống ổn định ở quê hương mới ít cũng gần chục năm, nhiều là trên 30 năm, nhưng dường như thỉnh thoảng vẫn có những đêm trằn trọc nhớ về quê hương xưa cũ, rất xa xôi nhưng vẫn rất gần trong trí nhớ.

Một trong những người như vậy sáng chủ nhật Phục Sinh đã rụt rè gửi cho tôi bài thơ Phong kiều dạ bạc (bản Hán Việt) kèm một chùm 3 bản dịch của mình. Thư viết rất dễ thương như thế này:

Chị Phương Anh ơi,

Lâu lắm rồi không liên lạc, nhưng em vẫn 'âm thầm' và 'chuyên cần' đọc FB và blog của chị.  Bữa trước đọc mấy bài về Hoàng Hạc Lâu và Tống Biệt Hành, tự nhiên em nhớ lại một bài thơ khác: Phong Kiều dạ bạc, vốn là bài thơ Đường em yêu thích nhất từ hồi còn học phổ thông.  

Em thì không tỏ kim văn, không tường cổ tự, cũng không có tài viết văn, làm thơ nhẹ nhàng, dễ dàng như hơi thở giống chị và những người bạn tài hoa của chị trên blog, nhưng vì cảm tình của em với bài thơ, em muốn chia sẻ với chị 3 bài thơ em dịch, mục đích chỉ là để thỏa mãn cái mong ước thuở nhỏ là được diễn đạt bằng tiếng Việt một bài thơ bất hủ.  Em thấy chị hay có bài bình thơ/văn/nhạc cuối tuần nên bữa nay 'đánh bạo' gửi cho chị mấy bài này, vì thiệt ra em không biết chia sẻ những bài này với ai khác :-))

Mở ngoặc một chút: Các bạn thấy tôi có những người bạn dễ thương quá chừng hay không? Những người đến với nhau hoàn toàn vì những mối quan tâm chung vô cùng trong sáng: cùng yêu cái đẹp, yêu tiếng Việt (và đất Việt, người Việt, tất nhiên rồi) và muốn chia sẻ những hiểu biết cũng như cảm xúc của mình đến mọi người. Welcome quá đi chứ, và tôi rất mừng là blog này đã làm được công việc mà nó cần làm, ấy là: thành một diễn đàn nho nhỏ để mọi người tụ tập và chia sẻ.

Mở ngoặc thêm một chút nữa: Bạn có biết tại sao tôi đăng lại thư của người bạn lên đây không? À, là vì tôi thích nhất lời khen của bạn tôi, dù có lẽ hơi quá một chút nhưng mà nghe vẫn rất thích,  rằng tôi (và những người bạn tài hoa khác trên blog này) "có tài viết văn, làm thơ nhẹ nhàng, dễ dàng như hơi thở" - trời ơi nghe mà sung sướng đến run rẩy, hóa ra là mình tài đến thế ư? Đăng lên đây là để tự khoe, giống như trong chuyện cười dân gian có anh chàng đi ăn đám cưới mặc quần áo mới, đang đứng thì có người túm lại hỏi về con lợn cưới chạy ngang qua, và anh ta chỉ chờ có thế để trả lời: "Từ lúc tôi mặc cái áo mới này thì chưa thấy con lợn nào chạy ngang qua cả!"

Vâng từ lúc bạn tôi khen tôi là làm thơ viết văn dễ dàng như hơi thở thì tôi chưa viết thêm entry nào cả, nên giờ mới viết đây các bạn ạ!!!!!! ;-)

Nào, mở ngoặc xong rồi, bây giờ xin quay lại Phong kiều dạ bạc. Như đã nói ở trên, tôi chưa bao giờ đọc hoặc thậm chí nghe nói đến PKDB, mà nghe cái tựa bài thơ thì cũng rất chi là ... Tàu, rất chi là ... cải lương, nên không có thiện cảm gì cả. Bèn không thèm đọc kỹ bản Hán Việt (vì thực ra có đọc kỹ thì cũng chẳng đủ sức mà hiểu đâu) và xông vào đọc luôn bản dịch, mà tôi cho là chứa rất nhiều cảm xúc của bạn tôi. Bản Hán Việt và 03 bản dịch ấy đây:

Nguyệt lạc, ô đề, sương mãn thiên
Giang phong, ngư hỏa đối sầu miên
Cô Tô thành ngoại Hàn San tự
Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền

(1) Trăng tà lặn khuất xa khơi
Quạ kêu xao xác, sương trời mênh mang
Bên sông phong đứng lặng hàng
Lửa chài leo lắt, lòng miên man buồn
Hàn San chùa vẳng tiếng chuông
Ngân nga canh vắng đêm trường Cô Tô
Sương khuya bến đỗ bơ vơ
Thanh âm khuấy động giấc hồ tha nhân

(2) Trăng tà lặn khuất xa khơi
Quạ kêu xao xác, sương trời mênh mông
Hàng phong lặng đứng ven sông
Lửa chài leo lét, tơ lòng miên man
Cô Tô lũy, chùa Hàn San
Thoảng đâu có tiếng chuông vàng ngân nga
Đêm khuya canh vắng đưa xa
Tha nhân thao thức âm ba vọng thuyền

(3) Trăng tà lặn khuất mù khơi
Quạ kêu tao tác nửa vời thinh không
Hàng phong lặng đứng bên sông
Lửa chài leo lắt, sương mênh mông trời
Một mình thao thức chơi vơi
Sinh tình tức cảnh lòng người miên man
Cô Tô chùa cổ Hàn San
Nửa đêm về sáng chuông vàng ngân nga
Vui buồn ở tại lòng ta
Tiếng chuông cộng hưởng dạ sầu tha nhân

Ba bài dịch thực ra cũng không khác nhau nhiều, chỉ thay đổi một vài từ ngữ và cách sắp đặt thứ tự các hình ảnh trong bài thơ. Nhưng tôi thấy thích nhất là bản dịch số 1, có lẽ vì tôi đọc nó đầu tiên và đã thấy thích rồi, còn hai bản còn lại thì không thấy có gì khác nhiều.

Thực ra, bảo là dịch xuất sắc thì không đúng, đơn giản là vì tôi có hiểu bản gốc đâu mà có thể đánh giá được bản dịch. Bảo là thơ rất hay cũng không đúng, vì tôi thấy nó sử dụng khá nhiều hình ảnh ước lệ (trăng tà, hàng phong đứng lặng,  chuông vàng ngân nga ...), mà tôi thì là chuyên gia ... không theo luật lệ, thích sự tự do, phóng túng của thơ mới. Nếu làm thơ kiểu cổ (7 chữ) thì phải phá cách mới thấy hay, ví dụ như câu thơ trong bài HHL "Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản" (mà theo thầy GNLT thì nó phá cách nhất trong bài thơ ấy, vì được viết theo các thanh B T T T T T T, tức không theo luật lệ nào hết; không tin thì bạn mở lại bài giảng của thầy, bài số 2 mà tôi mới đăng lên hôm qua).

Cái hay mà tôi cảm nhận được từ các bản dịch ấy có lẽ nằm ngoài bài thơ hơn là nằm trong bài thơ. Chứ gì nữa, có ai đời một người đang sống ở trời Tây, vậy mà một buổi sáng chủ nhật (tối thứ bảy nơi bạn ấy sinh sống), lại nhân dịp lễ Phục Sinh, một dịp lễ lớn ở bên Tây, không lo enjoy cuộc sống mới, với nào là TV, phim ảnh, máy tính và đồ chơi multimedia các kiểu, còn không nữa thì đi shopping, mua sắm, ăn uống vv, mà lại ngồi ở nhà, đọc blog của bạn bè bên VN, và nhớ đến những kỷ niệm cũ ở quê nhà, rồi nhớ đến Phong kiều dạ bạc. Bóng đèn khuya leo lắt, hàng phong đứng lặng bên đường (cái này có lẽ bên Tây cũng có như bên Tàu, chỉ có bên Ta là không có!), nghe tiếng chuông xa xa (cái này chắc chuông nhà thờ hơn là chuông chùa), lòng buồn rười rượi nhớ về quê cũ....

Trời ơi, hay quá đi chứ, tự nhiên tôi thấy bản Phong kiều dạ bạc đúng là đã nói hộ bạn tôi thật đầy đủ những cảm xúc trong lòng bạn ấy.

Vì đang học lại (hic hic hic) về Đường thi với thầy GNLT nên tôi chuyển bản dịch của bạn tôi đến cho thầy để thầy nhận xét, và chẳng mấy chốc thì nhận được những nhận xét rất ... khắc nghiệt (thì bạn có thể đoán được mà!) nhưng cũng rất xác đáng. Lời nhận xét ấy được chuyển cho bạn tôi, một người mà ngày xưa khi đi học tôi vẫn thầm kính phục vì sự giỏi giang và mức độ nghiêm túc rất cao mà tôi hầu như không bao giờ có được. À thì tôi cũng nghiêm túc chứ, nhưng là nghiêm túc trong ý đồ, trong mục đích và trong các giá trị mà mình theo đuổi thôi, chứ về hình thức bên ngoài thì tôi là người rất tự do phóng khoáng, không chịu gò mình theo khuôn phép và ước lệ.

Và, vì bạn tôi là bạn tôi, với tất cả sự nghiêm túc tiếp thu, cùng với sự yêu thích bài thơ từ hồi 15 tuổi đến giờ, nên bạn ấy lại tiếp tục sửa bản dịch của mình để cho ra một bản dịch khác, cũng rất độc đáo dưới đây:

Trăng tà xế bóng, quạ kêu khan    
Bàng bạc sương mờ buông mênh mang
Lửa chài leo lắt, phong lặng đứng
Tức cảnh sinh tình, dạ ngổn ngang

Chùa cổ Hàn San đêm về sáng
Tịch mịch canh tàn tiếng chuông vang
Ngân nga xao động Cô Tô lũy 
Vọng đến thuyền côi, khách ngỡ ngàng 

Bài thơ này tại sao lại độc đáo nhỉ? Ừ, thì trước hết là nó đổi từ lục bát sang thơ thất ngôn, tức là thơ 7 chữ. Bảy chữ 8 câu, có phải là thất ngôn bát cú không? À, không đâu, nếu như ta đọc kluật ngâm của thơ Đường mà thầy GNLT đã chỉ ra trong bài giảng của mình mà tôi vừa đăng lên. Theo thầy GNLT tđây là dịch một bài tứ tuyệt thành 2 bài tứ tuyệt, khá sáng tạo. Còn tôi, thì tôi thấy bản lục bát sẽ làm cho giọng thơ nhẹ nhàng, du dương, trong khi thất ngôn thì có cái gì đó ngập ngừng hơn, thao thức hơn. Thì cảm nhận thế thôi mà, có thđúng có thể sai khi xét theo lý thuyết gì gì đó, nhưng đã là cảm xúc thì có gì là đúng hoặc sai đâu cơ chứ, miễn là cảm xúc thật thì thôi. Quan trọng là phải có cảm xúc cái đã, và chỉ cần thế thôi!
  
Và tôi cũng tiếp tục gửi bản dịch mới cho ông thầy dạy Văn GNLT, và, bạn có thđoán được, thầy lại tiếp tục phê bình (à, thì tôi cũng là nhà giáo, tôi biết tâm lý của nhiều thầy cô là học trò yếu thì thầy khuyến khích rất nhẹ nhàng, mà học trò khá rồi thì thầy lại khắt khe để cho nó khá lên thêm nữa ấy mà, phi không thầy GNLT). Nhưng trong những lời nhận xét (khắt khe) của thầy GNLT, tôi thấy có một câu mà tôi đồng ý gần như hoàn toàn: "bản dịch nghe như ca mấy câu vọng cổ mùi mẫn - nói toạc hết cảm xúc, chẳng ẩn giấu gì cả".

Nhưng đó là tính cách người Nam Bộ mà, và tôi lại thấy như thế mới hay chứ, nó cho thấy sự khác biệt, đa dạng của thế giới và của chính người VN. Trong khi thầy giáo dạy Văn của chúng ta lại có tính cách của sĩ phu Bắc Hà, nói năng với nhiều tầng nghĩa, ẩn giấu đủ thứ trong đó, nên khi đọc phải vô cùng cảnh giác, nói 1 mà đọc ra đến 2, 3, 4, và n!!!!. Tất nhiên cũng rất hay ạ, và thú vị nữa (và nói thêm: cái này tôi cũng có một chút, vì gốc Bắc Kỳ, cha Nam Định mẹ Bắc Ninh, nên cũng hiểu được và thích được).

Đọc đi đọc lại Phong kiều dạ bạc, chủ yếu qua bản dịch của bạn tôi, và lời nhận xét và phân tích của thầy GNLT, thì rồi đến lượt tôi cũng nổi máu văn nghệ, cũng ... muốn dịch nó ra tiếng Việt. Bản dịch của tôi dưới đây rồi, tuy nó của là của tôi nhưng chắc chắn nó sẽ chịu ảnh hưởng rất nhiều về những lời nhận xét và bản dịch nghĩa của anh GNLT, cộng với ngôn ngữ và cảm xúc của bạn tôi qua các bản dịch của bạn ấy. Và đây là "tác phẩm" của tôi, muốn gọi nó bản dịch hay là họa hay là cái chi chi cũng được, nhưng nó đã xong thì tôi cứ trình làng thôi, và xin nhắc lại một nguyên tắc: nó có thể hay, có thể dở, nhưng hay dở gì cũng chỉ được khen, không được chê các bạn nhé!

(À, nếu mà các bạn thấy nó quá dở mà vẫn bắt khen thì biết khen thế nào bây giờ, thì xin chỉ cho các bạn một cách: đừng động tới chất lượng của bản dịch hoặc cái đẹp của ngôn ngữ, mà hãy khen ... entry này viết dài quá, nỗ lực đăng  bài của chủ nhân blog thật tuyệt vời, đăng đều đặn, tinh thần phục vụ cao gì gì đấy, thì vẫn là khen mà vẫn không bị dối lòng các bạn ạ, hi hi hi!!!)

Đây, bản dịch/họa Phong kiều dạ bạc của tôi, chẳng niêm luật gì ráo. Nó là một bài tứ tuyệt phải không thầy GNLT? Xin nói trước, thầy GNLT có khen chê gì thì tôi vẫn cứ trơ trơ ra thôi, không sợ chút nào, vì ngày trẻ đi học tôi quen nghe thầy cô phê phán mình rồi mà vẫn cứ thế này, rồi cũng ổn, mình vẫn là mình, có sao đâu, ha ha ha!

Trăng lặn, quạ kêu, sương nặng rơi      
Chấp chới đèn chài, phong chơi vơi    
Hàn San chùa cũ Cô Tô ấy
Vẳng tiếng chuông đêm dạ bời bời  


Phương Anh dịch T4/2013
-------
PS1: Từ "chơi vơi" cuối câu hai là do góp ý của một bạn đọc (xem comment bên dưới, còn từ ban đầu tôi dùng là "lả lơi", một từ rất lạc điệu trong bài thơ này mà tôi chưa hài lòng nhưng chưa tìm được từ nào khác để sửa). Rất cám ơn bạn đọc đã thương tôi mà cung cấp cho từ rất phù hợp này.

PS2: Lại nhận được thư của bạn bè, đề nghị thay một từ trong câu đầu: trời --> rơi. Anh bạn ấy bảo: thử xem, nghe sẽ thấy cảm giác chênh vênh, lửng lơ, hay lắm. Đúng rồi anh T. ạ, nhưng vì thế phải sửa luôn từ trước đó (thay vì "sương đầy trời" thì thành ra "sương nặng rơi"). Cám ơn anh nhiều nhé, bài thơ bây giờ thành ra là của nhiều tác giả chứ không là của riêng tôi nữa rồi. Nếu phải để tên, nó sẽ là của người bạn đã dịch thơ ban đầu và gửi cho tôi, rồi anh GNLT đã giải thích bài thơ và nhận xét bài dịch, rồi đến bạn đọc tặng tôi chữ "chơi vơi", rồi bây giờ là từ "rơi" của anh T. nữa. Tôi chỉ việc tiếp thu và viết vào thành câu thất ngôn, thế thôi!

PS2b: Lại nhận được một đề nghị khác, cũng rất hay, của một bạn trẻ trên fb, về câu chót đây này: Vọng tiếng chuông ngân dạ tơi bời. Cũng rất hay, đúng không các bạn?


PS3: Dịch/họa xong ra thơ tứ tuyệt rồi (đăng ở trên) nhưng mà tôi vẫn chưa ưng ý lắm, vì bài thơ vẫn còn gò bó theo số từ của thơ tứ tuyệt, nên vẫn ít nhiều trung thành với thơ Đường (bản gốc). Mà tôi thì theo trường phái "nhã" hơn là "tín" (văn học trước hết là cảm thụ, mà cảm thụ thì phải có dấu ấn cá nhân, các bạn nhỉ?) nên tôi vẫn còn loay hoay muốn có bản dịch/họa khác. Và đây là phiên bản 2 của tôi, có thể hay có thể dở, nhưng ... nguyên tắc là gì các bạn đã biết rồi, không cần nhắc lại phải không? ;-)

Trăng thì lặn
Trời thì sương
Tiếng quạ kêu
Lạc lõng

Cây thì lặng
Đèn chài khuya
Chấp chới
Ánh đỏ vàng

Chùa thì xa
Thấp thoáng
Bên Cô Tô
Thành cũ

Chuông thì ngân
Đêm vắng
Buông từng tiếng
Vọng muôn đời.

Phương Anh T4/2013
PS3b: Lại một người bạn yêu thơ khác có một comment rất độc đáo, tôi chép lên đây để mọi người cùng đọc này:

Bài thơ dịch/họa PKdb mới của PA là theo thể Haiku (hài cú)của thơ Nhật. Tôi sẽ thích bài thơ hơn nếu PA bỏ tất cả các chữ THÌ trong đó...:

Trăng lặn
Trời sương
Tiếng quạ kêu
Lạc lõng

Cây lặng
Đèn chài khuya
Chấp chới
Ánh đỏ vàng


Chùa xa
Thấp thoáng
Bên Cô Tô
Thành cũ

Chuông ngân
Đêm vắng
Buông một tiếng
Vọng ngàn đời.


Vâng, đúng thế, bản bỏ các chữ "thì "(màu xanh ở trên) hay quá phải không các bạn? Thanh thoát hẳn, và rất giống "hài cú". Nhưng cũng xin giải thích về chữ "thì": Thực ra tôi bị ám ảnh bởi câu thơ trong bài Bến My Lăng của Yến Lan mà tôi rất thích (Trăng THÌ đầy rơi vàng trên mặt sách). Nên vẫn thích có tất cả những chữ "thì "ở trong bản dịch/họa của mình, vì nó cho ra một phong vị khác, nằng nặng, quê quê, nôm na, thô thô, nhưng cũng rất tâm trạng. Well, ít ra là tôi nghĩ thế.

PS4: Về bản dịch đầu tiên (tứ tuyệt). tôi lại nhận được vài góp ý khác nữa. Thầy GNLT thì nhận xét nếu thay từ "lặn" bằng từ "rụng" ở câu đầu thì sẽ hay hơn, còn một bạn đọc khác thì đề nghị thay từ "ấy" cuối câu 3 bằng từ "lũy".


Như vậy, phiên bản khác của bài thơ (rất nhiều người cùng góp tay làm nên) bây giờ như sau:

Trăng rụng, quạ kêu, sương nặng rơi
Chấp chới đèn chài, phong chơi vơi
Hàn San chùa cũ Cô Tô lũy
Vẳng tiếng chuông đêm dạ bời bời

 Đã hay nhất chưa các bạn nhỉ? Đúng là "đông tay vỗ nên bộp" mà!

PS5: Hôm nay, người bạn phương xa của tôi lại cống hiến cho chúng ta những nhận xét và một phiên bản rất hay cho bản dịch (hài cú) của tôi, như sau:

Thấy nhiều người 'tài hoa', 'trình độ' tham gia góp ý bài thơ 'Haiku' của chị, em cũng muốn góp thêm 1 'tay': em vẫn cảm nhận được cái nỗi buồn bàng bạc, mông lung của người khách thuyền nhiều tâm sự, đêm khuya trằn trọc không ngủ được, đưa mắt nhìn ra bầu trời tịch mịch, chỉ có tiếng quạ kêu, thấy trăng lặn, sương sa, cây ven sông, đèn leo lét, v.v., em muốn thử thay bằng , nên khổ thơ đó sẽ là:
Cây lặng
Đèn chài khuya
Chập chờn
Cơn ngủ muộn
Vậy đó, các bạn đã thấy cô bạn tôi tài hoa chưa, ý thơ mong manh mà tứ thơ thì rất mạnh như bạn TS đã nói bên dưới, mặc dù thực ra tôi (cũng như bạn tôi) vẫn chưa thực sự hiểu như thế thực ra có nghĩa là gì!

Cuối cùng, rất cám ơn người bạn ở phương xa đã giới thiệu bài thơ PKDB và cho tôi cảm hứng để dịch/họa bài thơ này, dù chỉ có thể dịch/họa bằng những bài thơ con cóc!!!

Thứ Hai, 18 tháng 2, 2013

"Hold fast to dreams" của Langston Hughes - một bản dịch khác

Hold fast to dreams - hãy giữ chặt ước mơ - là câu đầu tiên trong bài thơ Dreams (Ước mơ) của Langston Hughes, nhà thơ Mỹ da đen của thế kỷ 20 mà tôi rất thích. Có thể đọc về Langston Hughes ở đây: http://www.poets.org/poet.php/prmPID/83

Trong số khá nhiều bài thơ của Hughes mà tôi thích, thì bài Dreams có lẽ là bài mà tôi thích nhất. Trước hết là bởi vì tôi đọc bài ấy vào năm đang học đại học, hình như là năm thứ ba, "Khi anh vừa tròn 20 tuổi", là tuổi có rất nhiều ước mơ nhất trong đời. Không những thế, cũng trong thời gian này tôi đọc được cả bản dịch rất hay của một anh bạn cùng lớp, mà hiện nay tôi chỉ còn nhớ được có khổ thơ đầu như thế này:

Hãy ôm lấy mộng vàng
Vì khi giấc mộng tàn
Đời như chim gẫy cánh
Không còn thời dọc ngang.

Bài thơ Dreams của Hughes là một bài thơ cực ngắn, chỉ có 2 khổ thơ, mỗi khổ thơ 4 câu, mỗi câu chỉ 4 âm tiết (tiếng Việt gọi là thơ 4 chữ - chữ - syllable ấy, chứ không phải là từ, word), trừ câu số 3 trong mỗi khổ thơ là 6 âm tiết. Nguyên văn bài thơ như sau:

Hold fast to dreams 
For if dreams die
Life is a broken-winged bird
That cannot fly.


Hold fast to dreams
For when dreams go
Life is a barren field
Frozen with snow.

Thông thường, bài thơ nào mà tôi thích thì trước sau gì tôi cũng sẽ tìm cách dịch ra tiếng Việt, dù chỉ để cho chính mình thưởng thức. Riêng bài Dreams thì hồi ấy sau khi đọc bản dịch quá hay của anh bạn cùng lớp nên tôi không có ý định dịch nữa, cho đến hôm nay.

Hôm nay, khi trao đổi email với một người bạn (khác, không phải là người đã dịch bài thơ), tôi chợt nhớ đến bài thơ này. Và muốn gửi tặng bản dịch của bạn tôi cho anh bạn mới (cũng rất thích thơ). Nhưng rồi nhớ mãi cũng vẫn không trọn bài mà ngày xưa tôi đã đọc (cách đây hơn 30 năm rồi!) nên tôi ... ghét quá, đành phải "ra tay" dịch bài thơ này ra tiếng Việt vậy. Và dưới đây là bản dịch của tôi:



Hãy giữ chặt ước mơ
Để đời mãi là thơ
Ước mơ kia nếu tắt
Đàn sẽ đứt đường tơ

Hãy sống trọn mộng mơ
Vì khi cạn nguồn thơ
Đời chỉ còn tuyết trắng
Phủ cánh đồng chơ vơ.

Nói thêm một chút về bản dịch của tôi: Chắc chắn là nó không hay bằng bản dịch của anh bạn tôi, trước hết hết là vì nó không giữ được hình ảnh chim gẫy cánh trong bản gốc, mà đã bị thay bằng hình ảnh đàn đứt dây. Ngoài ra, nó còn bị ảnh hưởng bởi bài thơ đã dịch trước đây, đó là dịch sang thành thơ 5 chữ trong tiếng Việt.

Đóng góp duy nhất của tôi là tôi đổi vần của bài thơ từ "vàng" sang "mơ", vì nói gì thì nói tôi cũng không thích chữ "vàng" trong bài thơ ấy lắm: nó hơi nặng, và vần một cách rất tự nhiên với chữ "tàn" của câu sau (mặc dù nó cũng rất hợp). Chữ "mơ" của tôi hy vọng nghe hay hơn (tất nhiên là chỉ đối với tôi thôi), nhẹ hơn, và nó vần với mấy chữ mà tôi thích hơn: thơ, tơ, và chơ vơ).

Nhưng thôi, hay dở gì thì còn tùy người đọc, tôi chỉ biết dịch để thỏa mãn chính mình thôi. Dịch rồi, thì đưa lên đây chia sẻ với mọi người, mua vui không biết có được trống canh nào không đây?

Enjoy các bạn nhé!
----
Cập nhật 28/2 (hết tháng 2 rồi!)

Dịch lại bài thơ đầu cho sát nghĩa hơn:

Hãy giữ chặt ước mơ
Để đời mãi là thơ
Đời như chim gãy cánh
Khi lòng hết mộng mơ.

Hãy sống trọn ước mơ
Vì khi cạn nguồn thơ
Đời chỉ còn tuyết trắng
Phủ cánh đồng chơ vơ.

Thứ Bảy, 16 tháng 2, 2013

Đọc bài thơ của Thanh Thảo: "Ghi trong ngày 17 tháng 2"

Hôm nay là ngày 17/2. Ba mươi bốn năm trước, vào ngày này, "tiếng súng đã vang trên bầu trời biên giới."

Lúc ấy, tôi mới chưa tròn 19 tuổi, vừa vào đại học. Những ngày ấy, tôi nhớ cả nước sôi sục trong không khí chiến tranh, khó khăn không sao kể xiết, và trên báo, đài truyền hình, phát thanh đâu đâu cũng nghe những bài ca chiến đấu. Những bài hát như "Điệp khúc tình yêu" (Nhớ, nhớ cái hôn đầu tiên anh chưa dành cho em ... nhớ cái hôn đầu tiên là hôn lên đôi mắt người bạn đã hy sinh/ nhớ bản tình ca đầu tiên là hành khúc lên đường ...), "Em vẫn đợi anh về" (Em vẫn đợi anh về như buồm căng đợi gió ... như lòng em khát anh, như đời khát hòa bình ...) là những bài hát tình yêu của lứa tuổi chúng tôi, một thế hệ khổ đau, the lost generation của Việt Nam như tôi vẫn thường nói.

Có một điều mà mọi người Việt Nam đều băn khoăn, là cuộc chiến biên giới phía Bắc với Trung Quốc vào năm 1979 rất ít được đề cập đến trong sách vở và báo chí chính thống của VN, trong khi cuộc chiến với Mỹ thì đã mấy chục năm rồi nhưng năm nào cũng vẫn được nhắc lại đầy đủ, kỹ lưỡng. Chúng ta đều hiểu những khó khăn của nhà nước Việt Nam trong mối quan hệ với người đồng chí lớn Trung Quốc, nhưng lẽ nào sự hy sinh của các chiến sĩ đã hy sinh mạng sống để bảo vệ sự vẹn toàn của đất nước lại có thể bị quên đi một cách dễ dàng như vậy?

Không, thực ra không có ai quên các anh, các chị cả, dù cho truyền thông chính thống có cố tình im lặng đi nữa (xin mở ngoặc: hôm nay trên báo Thanh Niên có một bài rất hay, nhắc về cuộc chiến này http://www.thanhnien.com.vn/pages/20130217/nhin-lai-chien-tranh-bien-gioi-1979.aspx
 một cách trực diện, một sự dũng cảm đến ... bất ngờ. Hoan hô báo Thanh Niên!).

Tổ quốc và toàn dân luôn ghi công các anh hùng, liệt sĩ chống Trung Quốc xâm lược, cho dù chỉ là lặng lẽ trong lòng, hoặc nói ra bằng lời và đưa ra đến công chúng. Như bài thơ của nhà thơ Thanh Thảo mà tôi vừa tìm thấy trên mạng hôm nay: http://thongcao55.blogspot.com/2013/02/ghi-trong-ngay-17-thang-2.html

Xin mời các bạn cùng đọc, và hãy im lặng một phút để tưởng niệm những người con của Tổ quốc  đã bảo vệ giang sơn Việt Nam của chúng ta.


I

thú thật, có một nhà lãnh đạo Việt Nam

ngày trước tôi không mấy yêu quí:

đó là Tổng bí thư Lê Duẩn

bây giờ biết những điều ngày xưa chưa biết

bỗng thấy quí Ông vô cùng

dù đời Ông không ít sai lầm

thì đó vẫn là lãnh tụ duy nhất chống Trung Quốc bành trướng từ trong máu

người đầu tiên thoát Hán

người nhìn thấy dã tâm của “anh bạn lớn” từ rất sớm

người thề quyết chiến với một triệu rưỡi quân Tàu

ngay lúc họ mới tung chiêu “nạn kiều”



II

tháng 6/1978 tôi có mặt ở bến Nhà Rồng

chờ xem chiếc tàu Trung Quốc đón “nạn kiều”

rất nhiều người đứng trên bến tàu mặt căng thẳng

không biết họ đang nghĩ gì

tôi cũng không biết mình đang nghĩ gì

chỉ biết lúc ấy

chưa ai nghĩ có một ngày 17/2/1979



Lê Duẩn đã nghĩ



vậy mà ngày 17/2/1979

Ông vẫn bất ngờ



III

những ai đã khiến Tổng bí thư ngày ấy bất ngờ ?

trả lời câu hỏi này, là tìm ra kẻ phản bội



IV

chỉ một gã thượng tá Tám Hà chiêu hồi

đủ cho cả đợt 2 Mậu Thân tơi bời



V

xưa nay, tởm nhất là bọn phản bội

nhưng đáng sợ nhất, cũng là chúng



VI

17/2/2013

những “cuộc chiến tranh mềm”

những lệnh miệng khuất lấp từ đâu đó

những ấp ứ trong cổ

báo in sợ viết hai chữ “Trung Quốc” như sợ phỏng lửa

giặc rập rình ngoài ngõ

đêm thanh vắng “người nhái Tàu” trồi lên từ chân sóng Trường Sa

cười dọa và giết


trong nhà cứ ăn nhậu vô tư


nên gọi cái này là gì nhỉ?

Nhà thơ Thanh Thảo kết thúc bài thơ bằng câu hỏi: "Nên gọi cái này là gì nhỉ?" Nhưng thực ra là ông đã trả lời rồi: Đó chính là sự phản bội.

Người Việt Nam vốn vẫn tự hào vì mình là những con người chung thủy. Chúng ta sẽ không bao giờ phản bội. Chúng ta sẽ không quên ngày 17/2.

Đọc thơ Trịnh Hoài Giang, nhớ năm 1979

Theo đường dẫn trên trang facebook của mình, tôi tìm được một bài thơ có cái từa là lạ: "Bài thơ của một người có tội". Tên tác giả bài thơ: Trịnh Hoài Giang.

Trịnh Hoài Giang? Đây là lần đầu tiên tôi nghe thấy và đọc tác phẩm của nhà thơ này. Và thật bất ngờ vì bài thơ quá hay, quá nhiều cảm xúc. Bài thơ này có lẽ đã được tác giả của nó làm nhân dịp cầu Cần Thơ bị sập, chuyện đã cũ rồi nhưng nỗi đau thì không cũ. Một cái đau có lúc buốt nhói, lúc thì âm ỉ, lúc thì cay đắng: Đất nước đang trong những ngày buồn/Không còn nước mắt để mà khóc/Trời đang gào than, mưa đang tuôn ...  Những người chết - những người nghèo nhất/Sống tranh tre và chết bê-tông/Sống rơm rạ và chết sắt thép/Bê-tông sập và niềm tin sập/Thơ đi đâu và thơ ở đâu? ... Chỉ có máu xương là chết thật/Còn vu vơ toàn những chuyện trên trời ...

BÀI THƠ CỦA MỘT NGƯỜI CÓ TỘI
1.

Đất nước đang trong những ngày buồn

Không còn nước mắt để mà khóc
Trời đang gào than, mưa đang tuôn…


Đất nước đang trong những ngày buồn

Thơ vẫn thơ mà không thể viết

Thơ vẫn thơ mà không thể đọc

Tivi nhoè và chữ nghĩa nhoè

Cây cầu sập và trời đất sập

Không còn nước mắt để mà khóc



Đất nước đang trong những ngày buồn

Những người chết - những người nghèo nhất

Sống tranh tre và chết bê-tông

Sống rơm rạ và chết sắt thép

Bê-tông sập và niềm tin sập

Thơ đi đâu và thơ ở đâu?

Đè dúm dó  tre pheo úp sấp

Thơ đi đâu và thơ ở đâu?

Khung người như bó nan bầm dập

Thơ đi đâu và thơ ở đâu?

Xơ xác nghèo và xơ xác chết

Thơ đi đâu và thơ ở đâu?



VTV1 đưa tin:

Nước Mỹ năm… cũng đã sập cầu 30 người chết

Ấn Độ năm…. cũng đã sập cầu 50 người chết

Trung Quốc năm … cũng đã sập cầu 100 người chết…

Có nghĩa rằng: Sập cầu Cần Thơ không là cá biệt

Cũng như là vân vân … vân vân…



Cả nước đói nghèo tương ái tương thân

Dân tộc khổ đau dân tộc khóc



Một nén nhang xa không tới được.

Tôi viết bài thơ: Ai điếu trái tim mình.



2.

 Có nhà thơ thời hậu chiến tranh

Khi sắp chết viết câu thơ Di cảo:

"Mậu thân, 2000 người xuống đồng bằng

Chỉ một đêm còn sống có 30

Ai chịu trách nhiệm về cái chết của 2000 người đó?

Tôi!  Tôi, người viết những câu thơ cổ võ

Ca tụng người không tiếc mạng mình trong mọi lúc xung phong *"



Thưa anh linh nhà thơ Chế Lan Viên:

Không chỉ riêng ông mà lớp lớp đàn em

Cũng đang viết những trang Di cảo

Cũng đang viết về một thời dông bão

Máu xương dằng dặc Trường Sơn

Cũng đang viết về:

"Một trong 30 người kia ở mặt trận về sau 10 năm

Ngồi bán quán bên đường nuôi đàn con nhỏ.

Quán treo huân chương đầy, mọi cỡ

Chả huân chương nào nuôi được người lính cũ *"



Hệ luận là:

Người lính không thể nuôi được đàn con nhỏ

Chúng dắt díu nhau ra khơi co sò, con hến

Chúng dắt díu nhau lên rừng tổ ong, tổ kiến

Chúng dắt díu nhau trôi dạt Cửu Long đội đá vá cầu



Rồi đất nước buồn, đất nước thương đau.

Không còn nước mắt để mà khóc

Chỉ chớp mắt hai nhịp cầu dài nhất Đông Dương đã sập

Chỉ chớp mắt hàng trăm người bị thương và chết

Ai? Tôi

Cứ véo von ca ngợi đất trời

Cứ âm u giả câm giả điếc

Cứ ngậm miệng ăn tiền để ròi bọ róc xương xả thịt

Cả những dòng sông cả những nhịp cầu

Rồi chỉ xuống địa tầng, chỉ lên khí quyển, chỉ tận đẩu đâu

Nguyên nhân cầu sập



Chỉ có máu xương là chết thật

Còn vu vơ toàn những chuyện trên trời,



3.

 Xin thưa cùng các thi sỹ hôm nay

Viết những trang thơ rất nhiều giai điệu

Những trang thơ tình phiêu diêu

Nhưng trang thơ say huyền diệu

Những trang thơ véo von như chim khướu

Sao vắng cánh cò lặn lội bờ sông

8 giờ sáng hôm qua hai tảng bê tông

Đè sập xuống đàn cò con lặn lội

Đè sập xuống

Những trái tim văng ra và hỏi:

Thơ ở đâu hay thơ đã chết rồi?



Đất nước đau thương

Đất nước sẽ mỉm cười

Khi nhà thơ biết khóc

Khi những tảng bê tông đổ sập

Đè dúm dó tre pheo úp sấp

Đè dúm dó đói nghèo bầm dập

Không ở tận đẩu đâu

Đè chính trái tim mình



* Ai ? Tôi ( Chế Lan Viên- Di cảo )

Nhà xuất bản Thuận Hoá

Nguồn: http://www.vanchuongviet.org/


Lần mò trong trang vanchuongviet.org nơi có đăng "Bài thơ của một người có tội" của Trịnh Hoài Giang, tôi tìm được thêm những bài thơ khác cũng rất hay của nhà thơ này, và đặc biệt hơn là thông tin rất đáng quan tâm về gia đình người vợ yêu thương của ông, nhà thơ Dư Thị Hoài.

Thông tin về nhà thơ Trịnh Hoài Giang ở đây: http://www.vanchuongviet.org/index.php?comp=tacgia&action=detail&id=1462

Trịnh Hoài Giang

Tên thật: Trịnh Văn Trọng

Bút danh: Trịnh Hoài Giang, Đan Thầm, Trọng Văn

Sinh ngày: 25.5.1938

Hiện sống : Hải Phòng ,

Quê gốc : Thanh Oai Hà Đông

Tốt nghiệp Đại Học sư phạm văn khoa Hà Nội -1961

Từng dạy văn trường Trung học Hoa Kiều Hải Phòng.

Biên tập viên tạp chí Cửa Biển Hải Phòng

Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam

Hội viên Hội Nhà báo Việt Nam



Tác phẩm:



Hoa trăm miền -Thơ in chung , NXB Vă n Học ( 1975)

Sau những tháng năm -Thơ in chung , NXB Tác phẩm mới  (1983)

Gió đất ,Hội VHNT Hải Phòng (1977)

Độc thoại , NXB HNV (1991)

 ---
Còn đây là thông tin về gia đình ông: http://trannhuong.com/tin-tuc-6272/moi-tuan-mot-chan-dung-vui---trinh-hoai-giang.vhtm

MỖI TUẦN MỘT CHÂN DUNG VUI - TRỊNH HOÀI GIANG


Trần Nhương
Thứ sáu ngày 5 tháng 11 năm 2010 10:13 PM


Trịnh Văn Trọng-Trịnh Hoài Giang (1)
Một đời ôm ấp cô nàng làm thơ
Thị Hoàn công chúa họ Dư (2)
Chơi cho trịnh trọng đứ đừ Hoài Giang 
Hoa trăm miền nở miên man
Độc thoại, Gió đất cả làng làm thuê
Hải Phòng nếu có ai về

Hoài Giang trịnh trọng đón xe chơi Đồ…(4)
--------
(1)- Tên khai sinh của Trịnh Hoài Giang là Trịnh Văn Trọng
(2)- Nhà thơ Dư Thị Hoàn là vợ nhà thơ Trịnh Hoài Giang
(3)- Các chữ in đậm, gạch dưới là tên tác phẩm của THG
(4)- Đồ là Đồ Sơn thuộc Hải Phòng
Còn đây là bài phỏng vấn nhà thơ Dư Thị Hoài trên BBC năm 2009, kỷ niệm 30 năm chiến tranh biên giới phía Bắc, ở đây: http://www.bbc.co.uk/vietnamese/indepth/story/2009/02/090223_duthihoan_memories.shtml

Cứ đến Tết là tôi muốn bỏ nhà đi





Quân Trung Quốc tham gia cuộc chiến 1979
Cuộc chiến Việt - Trung 1979 đem đến khổ đau cho nhiều người dân


Cứ đến Tết là tôi muốn bỏ nhà đi…lang thang, đến một nơi nào đó thật xa, không ai hỏi han mình, thuê một quán trọ hoặc nhà của một thổ dân nào đó… mua mỳ ăn liền, bánh quy mặn và phomai, dự phòng cho mấy ngày Tết không có tiệm ăn nào mở cửa, đêm giao thừa chỉ cần một tách café, thật nóng.

Trong làng văn chương nhiều người biết nhà thơ Trịnh Hoài Giang - ông xã tôi, là người hiểu biết và chiều chuộng vợ con (tuy phải chịu nhiều thiệt thòi ở cơ quan công sở, chỉ vì lấy vợ là Hoa kiều).

Hai cậu con trai tôi đều đã trưởng thành, không ăn bám. Cậu thứ hai Tuệ Giang sau khi tốt nghiêp, được giữ lại làm giảng viên trường đại học kinh tế quốc dân Hà Nội. Cậu đã dạy bảy năm ở trường và được thỉnh giảng ở các tỉnh Thanh Hóa, Quảng Ninh, Nha Trang… Cậu vốn là đứa ít nói, còn lập thuyết về cái tật ngôn bất xuất khẩu của mình: “Người ta tập một năm để biết nói, nhưng lại tập sáu mươi năm để biết im lặng đấy mẹ ạ!”. Thế mà lại rơi vào đúng cái nghề nói nhiều, không biết lúc đứng trên bục giảng cậu ta lảm nhảm ra làm sao, chịu! 


Vi Thùy Linh, nhà thơ, bảo: “U Hoàn không biết chứ, anh ấy là mì chính cánh của trường đấy!”. Hiện nay cậu nhận được học bổng, xong chương trình thạc sĩ, tiếp tục bảo vệ luận án tiến sĩ ở Úc. Năm ngoái có đón bố mẹ sang Úc chơi ba tháng. Cậu đã có vợ là một cô gái người Indonesia gốc Hoa theo đạo thiên chúa, đang công tác tại ngân hàng Nam Úc. 


Cậu cả của tôi Thy Giang, làm đại diện cho một hãng dầu nhờn Mỹ, biệt phái sang văn phòng đại diện của hãng ở Oman đựơc mấy tháng là xẩy ra chiến sự ở Iraq. Cậu trở về dồn toàn bộ đồng lương kiếm được từ tay đế quốc tư bản, về mở quán café Giang guitar ở Hải Phòng. Cậu học guitar từ lúc 8 tuổi, và nay đã gần 40 tuổi mới có cơ hội thực hiện ước mơ “một mình với guitar” theo đúng nghĩa là vô giá. Cậu có khả năng mua nhà riêng và lo được cuộc sống tươm tất cho một gia đình. 


Tôi có một gia đình êm ấm, hạnh phúc, như thế đấy... Giá như không có cuộc chiến 1979, giá như không xảy ra biến cố người Hoa.


Biến cố người Hoa

Đã ba mươi năm trôi qua, vẫn còn tươi rói những hình ảnh: Tết thanh minh năm nọ, không ngờ lại là bữa tiệc cuối của sum họp đại gia đình, hình ảnh má và các em các cháu tôi chen lấn trong dòng người lũ lụt ra ga, leo lên tàu hỏa. 


 Tết thanh minh năm nọ, không ngờ lại là bữa tiệc cuối của sum họp đại gia đình

Thê thảm nhất là đàn bà con trẻ, họ lếch thếch, hỗn loạn, và yếu ớt, họ giao phó nỗi hốt hoảng cho bất kỳ ai có mặt hôm đó, giao phó cho đoàn tàu chở họ tới một đất nước được gọi là tổ quốc trong muôn vàn bất trắc và mong manh? Họ trở về quê hương và không hiểu tại sao, vì lẽ gì? 


Chị chồng tôi ra tận nhà ga ôm lấy ba mẹ con tôi đang gào khóc nhìn đoàn tàu mất hút trong đêm tối. Đúng vào thời điểm đó, chồng tôi thay mặt ban thường vụ Hội Văn nghệ Hải Phòng cùng với hội phó Văn Tiến, đi dự lễ thành lập Hội văn nghệ thành phố Đà Nẵng. 


Ít lâu sau nghe tin đại gia đình tôi được phân nhà có đủ nồi niêu bát đũa chăn màn ở một nông trường Hải Yến, Đài Sơn, Quảng Đông. Người lớn đều đi trồng mía và đủ ăn. 


Một năm sau, tôi mới nhận được lá thư của má từ trại tị nạn Hong Kong gửi về. Khóc rằng hai cậu em trai tôi đã mất tích, bỏ lại một mớ vợ góa con côi, ở nông trường không sống nổi. Má tôi dắt díu cả nhà 11 mạng nhược tiểu xuống thuyền chài bến cảng Bắc Hải, bán hết vàng để đánh cược trong cuộc chạy loạn lần thứ hai. 


Từ đó tôi mất liên lạc với gia đình, nghe đồn rằng họ đã được chấp nhận sang định cư ở nước Mỹ.

Qua thư tôi biết thêm chi tiết hai cậu em trai ở Trung Quốc năm đó (đầu năm 1979) bị lãnh đạo nông trường gọi lên để giao nhiệm vụ, làm phiên dịch cho quân đội chuẩn bị tham chiến đánh Việt Nam.


Ngay đêm đó hai cậu khăn gói trốn khỏi nông trường. Nghe nói họ vượt biên sang Hong Kong rồi bị bắt, lại nghe nói họ bị dân quân bắn chết khi ẩn náu ở trong rừng khu vực Huệ Châu gần Hong Kong. Lại nghe đồn họ bị chết đuối khi bơi qua eo biển sang Hong Kong. 


Mất mát


Má tôi đi hết các trại giam theo người mách bảo, nhờ cậy người ta tìm kiếm ở các trại tị nạn cũng không kết quả. Ba cụ đã mất sau hai năm liệt giường bởi tai biến mạch máu não rồi được chôn cất ở ngoại ô New York tháng 6 năm 1998, thọ 72 tuổi. 


Bà Dư Thị Hoàn cùng chồng, ông Trịnh Hoài Giang, nguyên là giáo viên (người Việt) dạy Việt văn cấp 3 ở trường Hoa kiều Hải Phòng

Nước Mỹ đã quá hạch sách và luôn tỏ ra nghi ngờ một cách khả ố, ngay cả khi chất vấn một người đến xin visa nhập cảnh chỉ với một tia hy vọng báo hiếu và đoàn tụ như tôi. Tại văn phòng đại sứ quán ở Hà Nội, tôi đã khổ sở không dưới bốn lần và nếm đủ mùi cay đắng lép vế trước bộ mặt trịch thượng, sắt đá đại diện cho công quyền America.



Bây giờ hai em dâu tôi đã tái giá và ba đưa nhỏ mồ côi cha đã trưởng thành trong sự săn sóc của quỹ nhà thờ hợp chủng quốc. Hai cậu em tôi thế là mất xác, ba mươi năm bặt tin rồi còn gì! 



Cha tôi là giáo viên trường trung học Hoa Kiều ở Hải Phòng, được tặng thưởng nhiều bằng khen giấy khen, 1974, còn một năm nũa là đủ tuổi về hưu thì ông bị công an đến còng tay (không có án). Tôi chỉ biết ông là cựu sĩ quan Quốc Dân Đảng Tàu Tưởng, từng nhiệm chức chánh văn phòng đại diện Quốc Dân Đảng đóng tại Cửa Bắc Hà Nội trước cách mạng tháng Tám. 



Sau khi mãn hạn chín năm tập trung cải tạo, ở khắp các trại giam Lao Cai, Lam Sơn, Kiểu, Cẩm Thủy, Bãi Chành… ông đã tìm đường sang Mỹ, hiện đang ở với cô em út Đán Thứ. 


Từ đó tôi chưa gặp lại cha, và không biết còn cơ hội nữa không? Nếu người Mỹ vẫn một mực chứng tỏ họ là giống người ưu việt nhất thế giới thông qua thái độ ngạo mạn và trịch thượng trong việc cấp visa! 


Thế là từ đó, gia đình tôi tan tác như một bầy chim vỡ tổ, bay loạn xạ. Dòng máu của người thân vẫn tiếp tục tuần hoàn trong trái tim thương tích của tôi. Vết đau buốt nhói ấy lại tái phát vào những buổi chiều cuối, trong bữa cơm đoàn tụ cúng gia tiên. 


Tôi đã viết những bài thơ đầu tay trong đớn đáu mất mát đó ( Mười năm tiếng khóc, Bức thư người Hoa, Tổ quốc – trong tập “Lối nhỏ” ) và đã bất đắc dĩ trở thành nhà thơ. 


Tôi sợ nỗi buồn lại bành trướng sang con sang cháu mỗi khi tết đến xuân sang, thế là lại ba lô lên đường…

Về tác giả:Nhà thơ Dư Thị Hoàn, tên thật là Vương Oanh Nhi hiện là nhà văn người Hoa duy nhất trong Hội nhà văn Việt Nam (kết nạp năm 1996). Bà viết bài tùy bút này sau khi theo dõi phỏng vấn của BBC với ông Phùng Thái Bình, người Hoa rời Hải Phòng năm 1979 và cũng là bạn học cũ của bà.
 ------
Vâng, đấy là ký ức của một người Việt gốc Hoa về cuộc chiến năm 1979, một cuộc chiến đau thương mà không người VN nào có thể quên. Thật tình cờ, khi tôi đọc được những thông tin này thì cũng là  dịp kỷ niệm 34 năm cuộc chiến tranh ở biên giới phía Bắc. Ngày 17/2, tức chỉ còn vài tiếng đồng hồ nữa.

Nhân dịp này, xin được nghiêng mình trước anh linh của những chiến sĩ đã hy sinh trong cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc Việt Nam!