Thứ Hai, 21 tháng 1, 2013

Về cuốn sách "Vì sao Marx đúng" của Terry Eagleton (1)

Trước hết, xin có vài dòng giải thích tại sao tôi lại đọc cuốn sách này, khi tôi chưa bao giờ - và có lẽ sẽ không bao giờ - quan tâm đến chủ nghĩa Marx. Mặc dù, cũng giống như bất kỳ ai có học đại học tại Việt Nam, tôi đã được học không ít về chủ nghĩa Mác-Lênin, và tất nhiên là đã thi đạt tất cả các học kỳ triết học Mác-Lê (chứ nếu không thì làm sao mà tốt nghiệp được!).

Vâng, tôi không tự nhiên mà tìm đọc cuốn sách này đâu ạ, nếu tôi không tình cờ đọc được tên cuốn sách và tác giả trong một bài viết của một người rất nổi tiếng hiện nay. Người này là một đồng môn cùng tốt nghiệp Khoa Ngữ văn nước ngoài thuộc trường ĐH Tổng hợp TP HCM (nay là Khoa Ngữ văn Anh thuộc trường ĐH KHXH-NV) dù trước tôi đến 2, 3 khóa, hiện là đại biểu quốc hội với những phát biểu nổi tiếng liên quan đến luật biểu tình và sự ô danh gì gì đó cách đây ít lâu. Vâng, đúng ạ, chính là anh Hoàng Hữu Phước mà báo chí mạng lề trái dám gọi một cách lếu láo, tếu táo là "hotboy" đấy ạ.

Lần này, anh Phước đồng môn của tôi (dù có lẽ anh không biết tôi là ai, thì bây giờ người ta nổi tiếng như vậy rồi còn gì) lại đang có loạt bài nổi đình đám trên blog cá nhân về một cuốn sách còn nổi tiếng hơn là cuốn Bên Thắng Cuộc. Và trong phần mở đầu của bài viết mở đầu trong loạt bài ấy, anh Phước - người có bằng Thạc sĩ về QTKD của một trường đại học của Úc (chương trình liên kết tại VN) gì đấy - đã nhắc đến cuốn sách của Terry Eagleton, với những lời lẽ đao to búa lớn như đập thẳng vào mặt người đọc vậy.

Xin trích lại nguyên văn như sau (xin nói trước, đoạn trích rất dài nhưng chi là một câu thôi, đọc lên khá rối rắm khó hiểu nhưng đó là phong cách cá nhân của anh Phước nên chúng ta cần tôn trọng ạ):

 Trong khi tất cả những nhà trí thức hàn lâm trên toàn thế giới biết rất rõ là chính Karl Marx “đẻ” ra … “chủ nghĩa tư bản” với nội hàm một hệ thống, một phương thức sản xuất, một…”chủ nghĩa”, tức là trước Marx chưa hề có cái gọi là “chủ nghĩa tư bản”, và dương nhiên là chưa hề có bất kỳ thứ gì liên quan đến triết thuyết về “chủ nghĩa tư bản”, nên khi xuất hiện “chủ nghĩa cộng sản” như một hệ thống triết học thì các nhà trí thức hàn lâm mới ra sức nghiên cứu, và tất nhiên dẫn đến việc hoàn toàn tự nhiên là rất nhiều người cho rằng mình đã nhận ra các yếu điểm hoặc các vô lý của triết thuyết “chủ nghĩa cộng sản” nên viết các công trình hàn lâm vĩ đại để bài bác triết thuyết ấy, và cũng là việc hoàn toàn tự nhiên khi rất nhiều người cho rằng mình đã nhận ra các ưu điểm hoặc các hữu lý của triết thuyết “chủ nghĩa cộng sản” nên viết các công trình hàn lâm vĩ đại để ủng hộ triết thuyết ấy, mà gần đây nhất là công trình nghiên cứu mang tên “Tại Sao Marx Đúng?” của Giáo sư Đại học Lancaster Anh Quốc Terry Eagleton do Đại học Yale lừng danh của Hoa Kỳ xuất bản năm 2011 vẫn đang gây cơn sốt chấn động thế giới trí thức hàn lâm chốn trời Âu Mỹ; thì những người Việt chống cộng lại rất cô đơn vì họ không thuộc giới học giả hàn lâm từng có nghiên cứu về (và hiểu) chủ nghĩa cộng sản, không có viết các tác phẩm vĩ đại về kết quả nghiên cứu trừ những bài viết bằng tiếng Việt “hù” người Việt về chủ nghĩa cộng sản chứ chưa hề có “công trình” nào bằng tiếng Anh được giới học thuật Âu Mỹ cho phép đứng vào vị trí “công trình nghiên cứu” có “giá trị”, nên do đó chỉ là thiểu số vô học (về triết thuyết “chủ nghĩa cộng sản”), bất hàn lâm (về triết thuyết “chủ nghĩa cộng sản”), phản học thuật (về triết thuyết “chủ nghĩa cộng sản”), không có khả năng chống lại một triết lý mà chỉ hành động như đám lưu manh chưởi bới đe dọa và chống lại những người tin vào chủ nghĩa cộng sản, mà như thế là vi phạm nhân quyền một cách nghiêm trọng, chà đạp tự do của người khác một cách thô bạo, hủy hoại ngôn ngữ (gọi người cộng sản là “khát máu”) một cách bỉ ổi, phơi trần tấm thân tệ hại với chiếc mồm quỷ biện xảo biện ngụy biện về cái gọi là “Việt Nam điêu linh” một cách đáng thương hại, đứng trên và ngập ngụa trong đống phân mà hùng hổ chỉ tay chưởi bới cái hôi thối nào đó của Cộng sản Việt Nam mà trong những kẻ đứng trong phân ấy có cả những “nhà tu hành” Mỹ gốc Việt, tức đám người ngợm không phải là công dân Việt.

Nguồn: http://www.emotino.com/bai-viet/hoanghuuphuoc/ca-nhan.

Chính vì những lời lẽ như "sấm động Nam bang" (!) của HHP mà tôi mới biết rằng có cuốn sách này (vì, như đã nói ở trên, tôi không hề quan tâm đến CN Marx), và trong thời đại cách mạng thông tin và Internet như thế này, tôi đã lên mạng và tìm được, không chỉ là những bài giới thiệu về cuốn sách này, mà còn cả bản .pdf của toàn bộ cuốn sách, tha hồ nghiên cứu. (Nhân tiện, bạn nào quan tâm thì có thể vào đây lấy đem về đọc nhé, đã được lưu và share trong Google Drive của tôi:  https://docs.google.com/file/d/0B23GcuCxvQVBaFRrcHdHTFluYjA/edit).

Tôi cũng đã đọc, well, đọc sơ sơ thôi chứ không đọc kỹ vì cuốn sách không dễ đọc, và còn vì tôi không có nhiều hiểu biết nền tảng về chủ nghĩa Marx (mặc dù đã được học không ít hồi đại học, và còn được điểm rất cao nữa cơ; về chuyện này tôi cũng đã có viết mấy bài trên blog này rồi, các bạn nào hay đọc blog của tôi chắc hẳn vẫn còn nhớ). Và tuy không được giỏi giang, uyên bác như ông nghị đồng môn của tôi là Lăng Tần Hoàng Hữu Phước, tôi nghĩ mình cũng đủ trình độ để nhận ra rằng những gì ông Phước nói ở trên có lẽ không hoàn toàn chính xác.

Thậm chí, tôi nghi ngờ rằng ông Phước có lẽ chưa thực sự đọc cuốn sách của Eagleton nữa cơ, còn nếu đã đọc rồi thì chẳng lẽ ông Phước đọc mà không hiểu (!) hay sao nhỉ?

Tôi đang bận quá, mà cuốn sách lại khá dài và khó đọc, nên tạm thời xin kết thúc entry đầu tiên về cuốn sách này bằng một vài câu hỏi dành cho ông Phước, như sau:

1. Ông Phước dịch tựa tiếng Anh của cuốn sách sang tiếng Việt thành: Tại sao Marx đúng. Không rõ ông có chú ý rằng tựa tiếng Anh của cuốn sách là thì quá khứ (Why Marx was right) không ạ?

Nếu có ai đó nói rằng cái tựa sách này có nghĩa là Marx chỉ đúng trong quá khứ, chứ hiện nay giá trị tư tưởng của Marx cũng đã lỗi thời rồi (nói cách khác, tựa cuốn sách phải dịch là Tại sao hồi đó Marx đúng -  ý nói bây giờ không còn đúng nữa) thì ông sẽ trả lời ra sao? (Nói thêm, việc chỉ ra thì quá khứ trong cái tựa này là do công của anh PHN Giang Nam Lãng Tử, xin cám ơn anh!)

2. Ông nghĩ gì về nhận định sau đây của tác giả bài điểm sách của tác giả Tristam Hunt đăng trên tờ Guardian (UK) vào tháng 5/2011 nói về cuốn "Why Marx was right"?  Bài điểm sách ấy ở đây: http://www.guardian.co.uk/books/2011/may/29/why-marx-was-right-eagleton-review.

"Marx is more diminished than enhanced by Terry Eagleton's defence of him" (Giá trị của Marx càng giảm đi thay vì tăng lên với sự bênh vực của tác giả Terry Eagleton).

Tạm thời mới là 2 câu hỏi như thế đã, ông Phước nhé. Tôi còn nhiều câu hỏi khác về cuốn sách này dành cho ông, nhưng thôi để dành đến khi có thêm chút thời gian. Chỉ một nhận xét ngắn: Cuốn sách này có làm chấn động dư luận gì như ông nói đâu ạ? Các bài điểm sách đều chỉ ra những sơ hở, sai sót, mơ hồ trong lập luận của cuốn sách quá dễ dàng và thuyết phục cơ mà. Có đúng là ông Phước đã đọc cuốn sách này không nhỉ?
 

Chủ Nhật, 20 tháng 1, 2013

Lời bình tác phẩm "Có 500 năm như thế" của một giáo sư Mỹ

Cuốn "Có 500 năm như thế" có lẽ đã quá nổi tiếng và không cần dựa vào danh tiếng của bất cứ ai để quảng cáo cho nó nữa. Nhưng việc một GS Sử học của Mỹ, Liam Kelly thuộc ĐH Hawaii (tiểu sử ở đây: http://manoa.hawaii.edu/history/node/44) viết lời bình cho cuốn sách vốn đã được giải thưởng Sách Hay năm 2012 của Hồ Trung Tú cũng vẫn cứ là một "sự kiện" đáng quan tâm, phải không các bạn?

Mở ngoặc một chút: Liam Kelly còn là một blogger với tên Việt là Lê Minh Khai, địa chỉ leminhkhai.wordpress.com, nhưng các entry trên blog này chỉ được viết bằng tiếng Anh thôi. Và bài viết bình tác phẩm "Có 500 năm ..." mới vừa được đăng trên blog này vào ngày hôm qua, còn nóng hổi.

Các bạn đọc bản dịch bài viết này của tôi dưới đây nhé. Tôi trình bày dạng song ngữ để mọi người dễ theo dõi. Bản gốc ở đây: http://leminhkhai.wordpress.com/2013/01/19/the-cham-viet-frontier-as-a-middle-ground/.

--------------------------------------

The Cham-Việt Frontier as a “Middle Ground”

Biên giới Chăm-Việt với tư cách là "vùng chuyển tiếp"

One of the most important books written about the history of North America in recent decades is Richard White’s The Middle Ground: Indians, Empires, and Republics in the Great Lakes Region, 1650-1815. What this book did that was so important is that it examined the contact between Native Americans (or “Indians”) and white settlers (French, British, etc.) in one area of North America over a period of a couple of centuries, and explained that interaction in much more complex and sophisticated terms than anyone had before.

Một trong những cuốn sách quan trọng nhất được viết về lịch sử Bắc Mỹ trong những thập niên gần đây là cuốn Vùng chuyển tiếp: Thổ dân Mỹ, các đế chế, và các nền cộng hòa trong khu vực Ngũ Đại Hồ, 1650-1815. Cuốn sách này đã làm được một điều rất quan trọng, đó là xem xét lại sự tiếp xúc giữa những người Mỹ bản địa (mà ta hay gọi là thổ dân Mỹ - Indians) và những người da trắng (người Pháp, người Anh vv) tại một khu vực ở Bắc Mỹ trong suốt thời gian vài thế kỷ, và giải thích sự tương tác này dưới cái nhìn tổng hợp và sâu sắc hơn bất cứ tác giả nào đã làm trước đó.

To quote from the back cover, the book “seeks to step outside the simple stories of Indian/white relations – stories of conquest and assimilation and stories of cultural persistence. It is, instead, about a search for accommodation and common meaning.”

“It tells how Europeans and Indians met, regarding each other as alien, as virtually nonhuman, and how between 1650 and 1815 they constructed a common, mutually comprehensible world in the region around the Great Lakes. . . Here the older worlds of the Algonquins and various Europeans overlapped, and their mixture created new systems of meaning and of exchange.”

Dẫn lại đoạn trích ở bìa sau, cuốn sách này "nhằm thoát ra khỏi những câu chuyện đơn giản về mối quan hệ giữa thổ dân Mỹ và dân da trắng - những câu chuyện nói về sự chinh phục, đồng hóa cũng như những câu chuyện nói về sự bền bỉ của những giá trị văn hóa. Thay vì làm như vậy, cuốn sách này tìm hiểu sự thích nghi và chia sẻ những giá trị chung."

"Cuốn sách kể về việc người châu Âu và thổ dân Mỹ đã gặp nhau ra sao, đã xem nhau như những kẻ xa lạ đến từ hành tinh khác, thậm chí dường như không phải là con người, và rồi trong khoảng thời gian từ năm 1650 đến 1815 đã tạo ra được một thế giới khả ngộ [tức thế giới mà người ta có thể hiểu được*] chung cho cả hai bên tại khu vực xung quanh vùng Ngũ Đại Hồ... Nơi đây những thế giới cổ xưa của người Algonquins [thổ dân sinh sống ở khu vực phía Đông Bắc Mỹ*] và nhiều người Âu khác đã chồng lấn lên nhau, và sự pha trộn này tạo ra các hệ thống giá trị và sự giao lưu mới".

“Finally, the book tells of the breakdown of accommodation and common meanings and the re-creation of the Indians as alien and exotic.”

In other words, White depicts a time when Native Americans and white settlers didn’t really understand or like each other, but nonetheless found ways to live with each other (although plenty of problems and violence persisted), and created a shared world.

"Cuối cùng, cuốn sách kể về sự chấm dứt của quá trình thích nghi và chia sẻ các giá trị chung, và sự tái tạo lại hình ảnh của người thổ dân Mỹ như những kẻ kỳ quặc từ hành tinh khác đến."

Nói cách khác, White [tác giả của cuốn sách*] đã kể lại một giai đoạn mà người Mỹ bản địa và những người nhập cư da trắng thực sự không hiểu về nhau và cũng chẳng thích nhau, nhưng vẫn tìm được phương cách nào đó để chung sống (dù cũng có rất nhiều vấn đề và rất nhiều bạo lực), và tạo ra một thế giới chung.

I’ve been reminded of White’s book recently as I have been reading a work by Hồ Trung Tú called Có 500 năm như thế: hình dung sự hình thành bản sắc Quảng Nam [There Were 500 Years Like That: Picturing the Formation of the Characteristics of Quảng Nam].

This book covers a lot of ground. It looks in detail, for instance, at the “Southern Advance” (Nam tiến), or southward migration of Việt-speaking peoples over the centuries, and points out that it was really much more complex than a smooth southward movement like that term implies.

This critique of the Nam tiến is one that many people are familiar with. What people will find that is refreshing in this book is its effort to keep the Cham in the picture of the Nam tiến.

Tôi nhớ đến cuốn sách của White vì gần đây tôi đang đọc một tác phẩm của Hồ Trung Tú có tựa là Có 500 năm như thế: hình dung sự hình thành bản sắc Quảng Nam.

Cuốn sách đề cập đến rất nhiều vấn đề. Chẳng hạn, tác giả đã xem xét kỹ lưỡng về vấn đề "Nam tiến", tức là quá trình di chuyển về phía Nam của những nhóm người nói tiếng Việt trong suốt nhiều thế kỷ, và chỉ ra rằng mọi việc phức tạp hơn rất nhiều chứ không phải chỉ là một sự di chuyển dễ dàng về phía Nam, như cụm từ này đã gợi ra.

There are some scholars outside of Vietnam who have written about the southward movement of Việt peoples and have talked about how the Việt changed as they adopted cultural practices from people like the Cham and the Khmer. In making this argument, however, these writers have focused on the Việt. We never really see the Cham very clearly. They are simply there somewhere for the Việt to assimilate things from.

On the other extreme, Hồ Trung Tú criticizes scholars in Vietnam who make the same argument about Việt adoption of the cultural practices of others, but who describe a process where Việt migrate into areas that people like the Cham have abandoned (after a war, for instance). Here again, the Cham are acknowledged, but they are still not really there in the story.

Đã có những tác giả nước ngoài viết về quá trình tiến về phía Nam của các dân tộc Việt và họ cũng đã nói về những thay đổi khi người Việt tiếp thu các nền văn hóa Chăm và Khmer. Tuy nhiên, khi đưa ra lập luận này, các tác giả chỉ chú trọng vào người Việt. Chúng ta hầu như ít khi thấy được rõ ràng về hình ảnh của người Chăm. Họ chỉ đơn giản là đã tồn tại ở đâu đó để cho người Việt có thể tiếp thu điều này điều khác.

Với quan điểm hoàn toàn trái ngược, HTT phê phán các học giả VN có lập luận tương tự về việc người Việt tiếp thu văn hóa của các dân tộc khác, mà lại đi mô tả quá trình này như thể người Việt đã di dân đến những vùng mà người dân ở đó, ví dụ như người Chăm, đã bỏ hoang (chẳng hạn như sau một cuộc chiến tranh). Cũng vậy, ở đây sự tồn tại người Chăm có được thừa nhận, nhưng họ không thực sự có mặt trong câu chuyện ấy.

Hồ Trung Tú, by contrast, tries to keep the Cham in the picture, and tries to document their continued presence in areas that Việt migrated into/occupied. He also points out, for instance, that there were periods of time when in Quảng Nam the Việt were a minority living amidst a Cham majority, and that we therefore have to think about what kind of interactions took place in such locations at such times.

In a long section on language, one intriguing argument that Hồ Trung Tú makes is that the reason why the version of Vietnamese spoken in the Quảng Nam region is so different from the Vietnamese just on the other side of the Hải Vân Pass might be because the Vietnamese in Quảng Nam is “Chamicized” (I’m inventing this term here), namely, that it resembles the Vietnamese that was spoken by people whose native language was Cham.

Ngược lại với các tác giả trước đó, HTT cố gắng đưa người Chăm vào bức tranh này, và cố gắng đưa các cứ liệu về sự hiện diện liên tục của người Chăm tại những khu vực mà người Việt di dân đến và cư trú. Tác giả cũng chỉ ra rằng, chẳng hạn, đã có những giai đoạn mà tại Quảng Nam người Việt chỉ là một thiểu số sinh sống giữa đa số người Chăm, và vì vậy chúng ta cần phải suy nghĩ xem những tương tác như thế nào đã diễn ra tại những khu vực như vậy trong thời gian ấy.

Trong một phần viết khá dài về ngôn ngữ, HTT đã đưa ra một lập luận khá thú vị để giải thích lý do tại sao tiếng Việt được sử dụng ở khu vực QN và phía bên kia đèo Hải Vân lại quá khác biệt nhau như vậy: điều đó là do tiếng Việt ở QN đã bị  Chăm hóa" (tôi mới sáng tác ra từ này ở đây thôi), tức là, ngôn ngữ ấy giống với thứ tiếng Việt của những người nói tiếng Chăm bản ngữ.

I’m not a linguist and have no way of verifying this view (for a positive review [in Vietnamese] of this work by a linguist, however, click here), but what I do like about this point is that it makes us think about Cham-Việt relations in complex ways. In what context would such a new version of a language appear? The explanations about the Nam tiến to date (where the Việt adopt Cham practices) cannot explain why the Việt would end up speaking Vietnamese the way that some Cham did.

To explain that we need a more complex understanding of the history of Cham-Việt relations than one that sees a uni-directional process of Việt moving southward and assimilating cultural elements from other peoples.

Tôi không phải là một nhà ngôn ngữ và không có cách nào để có thể kiểm chứng quan điểm này (tuy nhiên, có thể đọc những nhận xét tích cực (bằng tiếng Việt) về cuốn sách ấy ở đây [mở ngoặc: không có link kèm theo ở đây; ai muốn đọc thì vào trang leminhkhai.wordpress.com mà đọc nhé]), nhưng quan điểm ấy làm tôi thích vì nó cho phép ta suy nghĩ về quan hệ Chăm-Việt một cách phức tạp hơn. Trong những hoàn cảnh như thế nào thì người ta có thể tạo ra được một phương ngữ mới nhỉ? Những lời giải thích về cuộc Nam tiến cho đến nay (theo đó, người Việt đã bắt chước nhiều thói quen của người Chăm) không thể giải thích được tại sao người Việt cuối cùng lại nói tiếng Việt theo kiểu của người Chăm như thế.

Để giải thích điều này ta cần phải hiểu sâu sắc hơn về lịch sử mối quan hệ Chăm-Việt chứ không chỉ như là một quá trình đơn hướng trong đó người Việt di chuyển xuống phương Nam và tiếp nhận các yếu tố văn hóa từ những dân tộc khác.

Hồ Trung Tú’s Có 500 năm như thế thus does a good job of pointing out the need to think about the Nam tiến and Cham-Việt relations in more complex ways, and the ideas it offers get the reader thinking about these issues.

And as I reflect upon these issues while reading this book, I keep thinking of White’s Middle Ground. If you changed a few words on the back cover of that book, it could probably describe the history of Cham-Việt contact quite well:

Cuốn sách Có 500 năm như thế của HTT vì vậy đã làm rất tốt việc chỉ ra nhu cầu suy nghĩ về cuộc Nam tiến và mối quan hệ Chăm-Việt một cách đa chiều hơn, và những ý tưởng mà cuốn sách này đưa ra có thể giúp độc giả suy nghĩ về những vấn đề ấy.

Và khi tôi suy nghĩ về điều này khi đọc cuốn sách ấy, tôi cứ nghĩ mãi đến tác phẩm Vùng chuyển tiếp của White. Nếu bạn thay đổi một vài từ trong phần trích dẫn từ bìa sau của cuốn sách của White, thì đoạn trích dẫn ấy có thể sẽ mô tả rất tốt lịch sử cuộc tiếp xúc Chăm-Việt:

“It tells how Việt and Cham met, regarding each other as alien, as virtually nonhuman, and how between 1306 and 1471 they constructed a common, mutually comprehensible world in the region around Quảng Nam.”

“Finally, the book tells of the breakdown of accommodation and common meanings and the re-creation of the Cham as alien and exotic.”


"Cuốn sách kể về việc người Việt và người Chăm đã gặp nhau ra sao, đã xem nhau như những kẻ xa lạ đến từ hành tinh khác, thậm chí dường như không phải là con người, và rồi trong khoảng thời gian từ năm 1306 đến 1471 đã tạo ra được một thế giới khả ngộ [tức thế giới mà người ta có thể hiểu được*] chung cho cả hai bên tại khu vực xung quanh Quảng Nam."

"Cuối cùng, cuốn sách kể về sự chấm dứt của quá trình thích nghi và chia sẻ các giá trị chung, và sự tái tạo lại hình ảnh của người Chăm như những kẻ kỳ quặc từ hành tinh khác đến."


This is not exactly what Hồ Trung Tú does in his book, but he takes the discussion a long way in this direction. And it’s an enlightening direction to go.

HTT không thực sự làm điều này trong cuốn sách của mình, nhưng tác giả đã dẫn dắt độc giả đi theo hướng này suốt một đoạn đường dài. Và đó quả là một hướng đi sáng suốt.
-------
* = chú thích của PA

Thứ Sáu, 18 tháng 1, 2013

Nghe lại Sông Trăng của Andy Williams

Entry này tôi bắt đầu đã lâu rồi, khi nghe Andy Williams mất, có lẽ cũng đã vài tháng. Với tôi, đây là một tin quan trọng, vì Andy Williams là một trong số không nhiều những ca sĩ mà tôi thích, nên muốn viết một cái gì đó để ghi lại sự kiện này. Nhưng bận quá nên viết dở dang rồi lưu vào nháp và quên đi. Hôm nay mới có chút thì giờ để tìm ra bài viết dở dang này và hoàn tất nó.

Nhắc đến Andy Williams thì không thể không nhắc đến bài hát Sông Trăng (Moon River). Một bài hát mà tôi nghe lần đầu (qua giọng hát của Andy Williams) là thích ngay lập tức, thích đến độ run rẩy. Một bài hát thật tuyệt, từ giai điệu đến ca từ. Và cảm xúc chứa trong những ca từ ấy.

Thực ra, cho đến tận bây giờ tôi cũng không thực sự hiểu hết lời của bài hát. Mà hình như tác giả của nó cũng không định làm cho ai hiểu. Nhưng có thể vì cảm xúc là những gì ta cảm nhận trực tiếp chứ không cần phải hiểu thông qua logic của ngôn ngữ, hoặc cũng có thể vì giai điệu của bài hát và những hình ảnh trong bài hát - dòng sông, ánh trăng, đứa trẻ lang thang, cầu vồng, ngã rẽ ... - đã giúp trí tưởng tượng của tôi "điền vào chỗ trống" những gì mà tôi không thể phân tích bằng ngôn ngữ, nên bài hát đối với tôi vẫn thật hay. Thật đẹp, thật mơ màng, và cũng thật buồn. Buồn, một cách mơ hồ, "tôi buồn không hiểu vì sao tôi buồn..."

Xin các bạn thưởng thức dưới đây. Nhưng trước hết, xin tặng các bạn bản dịch của tôi - vừa mới dịch, nóng hổi:

Dòng sông trăng, mênh mông một dặm xa
Một ngày ta sẽ băng qua giòng nước xiết
Ôi dòng sông mơ ước, bóp nát trái tim ta
Sông về đâu ta cũng theo về phương ấy
Hai đứa trẻ lang thang bước vào thế giới
Bỡ ngỡ nhìn trời đất bao la
Cầu vồng đưa ta tận cuối trời xa
Chờ nhau nơi ngã rẽ
Này tên bạn giang hồ tôi hỡi
Dòng sông trăng, cùng đi với tôi ...

Các bạn nghe bản Sông Trăng do Andy Williams hát ở đây nhé: http://www.youtube.com/watch?v=LK4pmJQ6zgM 
-----------
Cập nhật tối cùng ngày, 18/1/2013

Bài Sông Trăng này chắc chắn là đã có nhiều người dịch, có điều là tôi chưa đọc bản dịch của ai cả. Vì cảm thấy không có nhu cầu; chỉ là hôm nay cao hứng thì ngồi dịch nó ra thôi.

Bản dịch của tôi là dịch thô, khá trung thành với bản gốc. Bản đưa lên hồi chiều là nghĩ đến đâu dịch đến đó, không trau chuốt lại. Giờ nhìn lại, tôi có sửa vài chữ, cho nó có chút vần điệu và có vẻ thơ hơn.

Đây có lẽ cũng là thói quen của những người làm thơ hoặc dịch thơ. Thì, ý tứ ùa đến, thế là người ta viết luôn một lèo. Sau đó nhìn lại thì chăm chút thêm một chút, cho gọn gàng, đẹp đẽ hơn (ấy là theo ý mình nghĩ thế, chứ có đôi khi độc giả lại chê bản sau dở hơn bản trước). Nhưng lần này, tôi chỉnh sửa cũng còn vì người bạn thơ "bí ẩn" của tôi (bí ẩn vì chưa bao giờ gặp cả) lại mới gửi cho tôi bản dịch của anh, dịch từ cách đây hơn 2 năm, để góp vào bài viết này cho ... xôm tụ. Kèm thêm mấy lời nhận xét flattering làm cho tôi rất khoái chí như thế này:

So với mấy bản dịch MOON RIVER hiện có,thì bản dịch mới nhất của cô có chất và khẩu khí lắm, đặc biệt là câu : " Tên bạn giang hồ của tôi ơi " nghe bụi và hay kinh khủng!

(Hì hì, nhưng mà câu ấy tôi đã sửa lại chút ít rồi, cho nó hợp vần điệu với mấy câu trên hơn một chút, lỡ nó dở đi thì ráng chịu thôi anh Dũng nhé.)

Mời các bạn đọc bản dịch của anh Dũng ở dưới đây:


SÔNG TRĂNG
Sông Trăng ơi một dặm dài phía trước
Ước ngày nào sánh bước bên em
Em như một giấc mơ êm

Hay tàn phá trái tim ta tan nát
Dù em có đi cùng trời cuối đất

Ta sẽ theo em góc bể chân trời
Đôi kẻ phiêu du thế giới gọi mời
Đến và thấy những bến bờ cô lẻ
Ta sẽ đi cuối tận cầu vồng em nhé 
Đợi chờ nhau nơi ngã rẽ mênh mang
Rồi  như đôi bạn thuở Sông Trăng
Ta về lại bến sông ngày cũ ...
Hoàng Anh Dũng , 2010

Moon River
Moon River wider than a mile
I'm crossing you in style some day.
Oh, dream maker, you heart breaker,
wherever you're going I'm going your way.
Two drifters off to see the world.
There's such a lot of world to see.
We're after the same rainbow's end--
waiting 'round the bend,
my huckleberry friend,
Moon River ... and me

Lời Việt: Phạm Duy
Dưới trăng
Ngồi dưới trăng lắng im nghe lòng ta
Thổn thức bao chuyện ngày qua... sầu đau
Hỡi người dấu yêu, sao đành nỡ quên...
Sao đành tình ta vỡ tan như cánh chim lìa bay?
Lòng đắm say những khi ta gần nhau,
Ngồi dưới ánh trăng dịu êm cùng mơ...
Con thuyền trôi về đâu dưới trăng vàng?
Cớ sao một mình ta ngồi dưới ánh trăng lẻ loi
Buồn vấn vương... chán chường...

Thứ Ba, 15 tháng 1, 2013

Nhớ năm 1989

Một bạn trẻ (well, không trẻ lắm nhưng trẻ hơn tôi gần chục tuổi) vốn là cựu sinh viên ĐH Tổng hợp, Khoa Anh (khóa 1986-1990) mới gửi lên fb một tấm hình thời còn đi học, chụp từ năm 1989. Tôi nhìn vào, và giật mình, vì trong tấm hình đó có cả tôi của cách đây vài chục năm, lúc ấy còn là một cô giáo trẻ (well, trẻ tương đối, vì còn tuổi đôi mươi, mặc dù cũng sắp từ hăm sang băm rồi).  Với rất nhiều người đồng nghiệp và thầy cô cũ khác.

Và những ký ức cũ chợt ùa về. Năm 1989, đối với tôi là một mốc thời gian thật quan trọng, vì đó là năm đầu tiên tôi được ra nước ngoài (với tư cách là giảng viên), mà lại đi tận Mỹ cơ đấy, sau biết bao năm nước Mỹ được xem là thù địch của VN. Rất trùng hợp là cũng năm ấy Đông Âu lại đang có rất nhiều biến chuyển. Tôi nhớ một lúc nào đó vào khoảng cuối năm 88, đầu năm 89, tự nhiên toàn thể giảng viên được triệu tập để nghe nói chuyện - nói đúng hơn là nghe phổ biến quan điểm chính thức của Đảng và Nhà nước! - về sự kiện Ba Lan và Công đoàn Đoàn kết. Mọi người xôn xao, đặc biệt là những đảng viên; riêng tôi vẫn chẳng hiểu gì, nên vẫn dửng dưng. Không hiểu là đương nhiên, là vì thời ấy làm gì có thông tin nào khác ngoài những gì mà báo chí được phép phổ biến, hoặc những gì mà chúng tôi được "học tập" thông qua hệ thống chính quyền, đoàn thể (nào là công đoàn, rồi đoàn thanh niên, rồi hội phụ nữ - tôi vì không phải là đảng viên nên không phải/được đi học tập với tư cách là đảng viên).

Cũng năm ấy, tôi nhận được giấy mời của GS Ladinsky (bà vừa mất trong năm 2012) sang ĐH Wisonsin - Madison 3 tháng làm visiting scholar. Lúc ấy, khi đã xin được giấy tờ (rất nhiêu khê) và sắp đi, tôi đến chào cố GS Lê Văn Diệm (trong hình là người thứ ba từ bên phải sang ở hàng đứng, cao, đeo kiếng) thì ông cứ gặn hỏi mãi xem là tôi đi rồi có ý định gì nữa không (sau này tôi hiểu là ông muốn hỏi tôi có về lại VN không hay là tìm cách ở lại). Ông không nói thẳng ra, nhưng sau này nghĩ lại tôi hiểu là ông khuyên tôi tìm cách ở lại, rồi ông kể chuyện bạn bè của ông đang ở nước ngoài, ông nói năm 1975 trước khi SG bị "thất thủ" thì có cơ hội đi nhưng không đi vì nghĩ mọi việc không tệ đến thế, còn sau này thì vì ông nhát gan, "không có cái gan để vượt" (ý nói là vượt biên).

Đấy là chuyện hiểu ra sau này. Nhưng lúc nói chuyện với ông, tôi vẫn chẳng hiểu ông muốn nói gì. Và, với sự ngây thơ đến ngu ngốc (cố hữu), tôi đã rất ngạc nhiên vì câu hỏi đó; và trả lời rằng đương nhiên tôi sẽ về chứ! Tôi chỉ xin đi có 3 tháng thôi mà. (Hu hu, nghĩ lại thấy mình ... ngu quá! Năm ấy tôi chỉ mới 29 tuổi thôi, hoàn toàn có thể đi học lại để "làm lại" sự nghiệp. Nếu cố tình ở lại thì chắc cũng ở được, mà nếu thế thì bây giờ chắc chắn là đời mình đã khác!). Tôi đâu có ngờ rằng tôi chỉ sang Mỹ có vài ngày thì ở TQ xảy ra vụ Thiên An Môn; lúc ấy tôi còn được xem trên TV cảnh người sinh viên đứng trước xe tăng trong vụ đàn áp đẫm máu lúc ấy nữa. Rồi sau đó là Đông Âu sụp đổ, cũng trong khoảng thời gian tôi đang ở Mỹ hoặc sau đó chút ít. Nhiều người Việt ở Đông Âu lúc ấy nhân vụ này bỗng trở thành công dân của một nước tự do, ở lại luôn không về VN nữa (hoặc mãi sau này mới về, với tư cách công dân nước khác).

Nhưng tôi vẫn cứ về; tôi về, đúng đầu tháng 9/1989, không trễ hơn lấy 1 ngày! Khi tôi về đến VN, một người thầy khác của tôi, một đảng viên, tỏ ra vô cùng kinh ngạc khi thấy tôi, và thốt ra bằng lời: Thầy nghĩ em không về nữa. Tôi nghe như vậy thậm chí còn bị xúc phạm, vì như thế tức là thầy tôi không tin tôi, nghĩ rằng tôi lừa dối nhà trường (là điều tôi không bao giờ có thể làm; thà nói thật và bị thiệt thòi nhưng đầu óc nhẹ nhõm, còn hơn là nói dối mà cứ lo ngay ngáy không biết khi nào thì bị phát hiện). Sau này tôi còn nghe một người bạn đồng nghiệp kể lại, cũng xung quanh việc thay đổi chính trị ở Đông Âu, có một vài người ở trường tôi đang đi học tập, nghiên cứu ở Đông Âu như Đông Đức, Ba Lan, Tiệp Khắc vv cũng đã ở lại, mà những người này đa số là đảng viên, gia đình cách mạng, lý lịch trong sạch đấy nhé! Bạn ấy kể rằng chính người thầy đó còn hỏi rằng, ví dụ như nếu có gì thay đổi ở VN thì những đảng viên thường như ông sẽ phải đi học tập bao nhiêu năm nhỉ? Và chúng tôi đều thấy câu hỏi đó rất là kỳ lạ! Thì vẫn không hiểu tình hình thế giới mà lại. (Nhân tiện, cô bạn đồng nghiệp vừa nêu giờ cũng là công dân Mỹ rồi chứ đâu còn ở VN nữa!)

Tôi cũng còn khá nhiều kỷ niệm khác gắn với năm 1989, chủ yếu là liên quan đến việc "đi, ở" của những bạn bè, đồng nghiệp, học trò, người quen. Đa số những người tôi mà tôi quen biết ở khoa Anh thời đó đều đã sinh sống, học tập ở các nước nói tiếng Anh, và trong đó, có lẽ phải đến phân nửa là đã đi không về nữa. Những người ấy giờ đây đều thành đạt ở xứ lạ quê người. Nhìn vào trong bức hình chụp năm 89 ở trường ĐH Tổng hợp (cơ sở 2, tức Đại học Văn khoa cũ hoặc ĐH KHXH-NV thời nay), tôi thấy có đến gần 1/2 số người quen của tôi nay đã thành công dân nước ngoài rồi. Mà toàn là những người có tài, nếu có một cơ chế sử dụng tài năng của họ thì đây cũng là một nguồn nhân lực để đóng góp vào việc xây dựng đất nước.

Hôm nay, nhìn lại tấm hình chụp năm 89 và nhìn lại những khuôn mặt cũ, tôi chợt thấy buồn. Buồn, vì không còn tìm được những người bạn của thời ấy. Họ đã trở thành công dân của những nước khác, tự do và dân chủ hơn nhiều. Và còn buồn hơn vì đã hơn 20 năm rồi, một thế hệ đã qua, nhưng tình hình VN vẫn còn nhiều mặt chưa có gì thay đổi. Đôi khi tôi tự hỏi, cái gì đã khiến cho Việt Nam chậm thay đổi đến như vậy?

Tôi là người đứng thứ ba từ bên trái, đeo mắt kiếng, tay ôm bó hoa
Thôi thì thôi, để mặc mây trôi ...


Chủ Nhật, 6 tháng 1, 2013

Sài Gòn có mùa Đông không nhỉ?

Câu hỏi này chợt xuất hiện trong đầu tôi sáng nay khi chạy xe đến trường cho một buổi seminar ngày chủ nhật.

Buổi sáng ngày cuối tuần, đường vắng. Bầu trời Sài Gòn vốn thường ngày xanh ngắt và nắng vàng chói lọi đến nhức cả mắt, hôm nay lại có màu trắng xám u buồn. Và lạ hơn, trời có những hạt mưa, hạt thưa nhưng nặng và quất mạnh xuống thịt da những người đi đường, lạnh buốt. Và gió, thỉnh thoảng lại thổi đến, nhẹ thôi, nhưng không phải là làn gió mát hào sảng của phong cách Sài Gòn mà ta vẫn quen, mà là làn gió buốt, làm ta co người lại vì lạnh, và nghĩ đến cái rét mướt của mùa Đông miền Bắc.

Mùa Đông mà tôi đã biết đến từ rất lâu qua văn của Thạch Lam với Nhà mẹ Lê - một mùa Đông buốt giá, âm u, và rất nghiệt ngã với những phận nghèo. Và mùa Đông mà chính tôi đã trải qua, lần đầu tiên là vào năm 1991 khi tôi ở Hà Nội khoảng 1 tuần trước khi đi sang học ở Úc một năm, VN lúc ấy chỉ vừa mới mở cửa và Hà Nội trong vẫn còn vẻ nghèo nàn, tiều tụy của một thủ đô mới trải qua một cuộc chiến tranh tàn khốc và một nền kinh tế bao cấp. Tôi vẫn nhớ, lúc ấy là lần đầu tiên tôi thấy cả tuần lễ bầu trời cứ xam xám buồn bã như vậy, thỉnh thoảng lại mưa phùn rả rích, và không hề thấy ánh mặt trời. Đó là lần đầu tiên tôi cảm thấy nhớ và thực sự biết ơn về bầu trời xanh và ánh nắng vàng chói chang hào phóng của Sài Gòn, và mới thực sự hiểu được hết cái cảnh khổ của những người nông dân đói rét trong văn của Thạch Lam, Nam Cao và Ngô Tất Tố.

Sài Gòn có mùa Đông không nhỉ? Thực ra câu hỏi này đã được trả lời từ rất lâu rồi, với bài hát nổi tiếng mà một người bạn của tôi thời học Gia Long và sau đó cùng tiếp tục học với nhau thêm 4 năm đại học đã rất thích và hát rất hay: Anh ở trong này chưa thấy mùa Đông/Nắng vẫn đỏ mận hồng đào cuối vụ .... Tôi nhớ đã đọc ở đâu đó rằng tác giả của bài thơ rất hay và được nhạc sĩ Phạm Tuyên phổ nhạc ấy vốn là một anh bộ đội, năm đầu tiên 1976 ở trong Nam và hưởng mùa Đông đầu tiên ở Sài Gòn, đã thốt lên những lời ca ngợi rất thật lòng ấy: "Thật diệu kỳ là mùa Đông phương Nam"



Nhưng thật ra theo tôi nhớ thì chính mùa Đông năm 1976 ấy Sài Gòn rất lạnh - well, lạnh theo tiêu chuẩn của Sài Gòn.. Đến nỗi mọi người bảo, mấy anh bộ đội miền Bắc vào đây dường như đã đem theo cả cái lạnh vào. Hình như là nhiệt độ ở SG năm ấy xuống chỉ còn 16, 17 độ, một điều rất hiếm thấy- nên mọi người đều bất ngờ, chẳng ai có đủ quần áo lạnh để mặc và các cửa hàng bán đồ len bỗng đắt hàng khủng khiếp. Nhưng nếu so với cái lạnh của miền Bắc thì vẫn chưa thấm tháp vào đâu cả, vì chỉ mới bằng nhiệt độ thấp nhất của máy lạnh mà thôi. Và chắc chắn là những người nghèo của Sài Gòn khó lòng mà hiểu được đúng ý nghĩa đói rét của miền Bắc; nếu có thì người nghèo ở đây chỉ hiểu từ  đói khát mà thôi (thì trời nắng mà).

Vâng, Sài Gòn, thành phố phương Nam ấm áp đến diệu kỳ ấy, chắc là không thể có mùa Đông đúng nghĩa. Nhưng, thỉnh thoảng vẫn có một thoáng mùa Đông đến với Sài Gòn, như hôm nay. Để mọi người hiểu được tại sao một anh bộ đội miền Bắc chỉ hưởng một mùa Đông đầu tiên tại Sài Gòn là đã làm được một bài thơ xuất sắc như bài thơ đã được phổ nhạc ấy - bài Gửi nắng cho em. Và cũng để cho mọi người nhận ra cái hào phóng của khí hậu miền Nam, lúc nào cũng thừa nắng vàng và thừa những làn gió mát.



"Cây bàng mồ côi mùa Đông"?






Cây khế trĩu quả của nhà hàng xóm

Chùm hoa Sử quân tử trồng làm giàn cổng vẫn nở những chùm hoa hồng hồng xinh xắn

Và cây bông Trang trắng nhà tôi vẫn cứ um tùm, tỏa hương thơm ngát

Buổi trưa, trở về nhà giữa 12 giờ mà trời vẫn không hề có nắng. Tôi đi lang thang ở khu vực gần nhà, quanh khu Trần Bình Trọng, Lê Quang Định, chợ Bà Chiểu để chụp lại hình ảnh "mùa Đông Sài Gòn". Vì tôi nghĩ dường như khung cảnh cũng hơi giống mùa Đông đấy, trời giữa trưa mà âm u, đường vắng. Những cái cây trong sân nhà tôi đã rụng bớt lá, trông khá xác xơ.

Nhưng về nhà mở hình ra mới thấy dù lá đã rụng bớt, nhưng cây vẫn rất xanh tươi. Đặc biệt là cây bàng, bàng mùa Đông mà lá vẫn dày, xanh mướt. Và ôi kìa, lại còn có cả một cây Phượng với những chùm hoa nở muộn màng - muộn, hay là quá sớm nhỉ. Thế này thì làm sao mà bảo là mùa Đông được cơ chứ?

Đăng lên đây chia sẻ với các bạn. Và để biết rằng, Sài Gòn thực sự không thể có mùa Đông! Không có ở bên ngoài, mà chắc là cũng không có ở trong lòng nữa, phải không?

Sài Gòn đẹp lắm, Sài Gòn ơi, Sài Gòn ơi!
---------
Đưa lên đây thêm hai tấm hình chụp vào ngày 23 Tết Nhâm Thìn 2012, cũng vào lúc giữa trưa, để thấy SG nắng vàng chói chang hào phóng như thế nào. Thật diệu kỳ là mùa Đông phương Nam, phải không các bạn?



Thứ Sáu, 28 tháng 12, 2012

Thơ Thứ Bảy, hay Bài thơ về cuốn sổ hưu (chép lại từ blog của GNLT)

Hôm nay cũng là Thứ Bảy, ngày mà tôi thong thả hơn một chút để đọc Đông, đọc Tây, đọc tất cả (học theo câu thơ của Nguyễn Vỹ: chửi Đông, chửi Tây, chửi tất cả).

Và tình cờ tìm được Chùm thơ Thứ Bảy, trong đó có một bài tôi thấy rất thích, nên chép lại đây để lưu và chia sẻ với mọi người.

Ai muốn vào trang của Giang Nam Lãng Tử thì vào đây nhé: http://giangnamlangtu.wordpress.com/2012/12/21/chum-tho-thu-bay/#more-4922.
-------------
SỔ HƯU!
(Thay lời Phó giáo sư nhà giáo ưu tú Trần Đăng Thanh)
Đất nước là gì?Là cái sổ hưu!
Ai có sổ hưu thì yêu đất nước
Bảy mươi triệu nông dân cần đếch gì Tổ quốc
Vì cuộc đời họ có sổ hưu đâu.

Tiến sĩ sổ hưu!Đọc! Học làm chi?
Cục cứt!

Văn chương sổ hưu!Viết gì?
Bồi bút!

Lý tưởng sổ hưu!Đồng minh? Kẻ thù?
Chẳng gì vĩnh viễn
Chỉ sổ hưu là vĩnh viễn mà thôi.

Vì sổ hưu,Ca hót Đ. trọn đời.
Hà nội 21-12-2012
N.T.D.

Thứ Hai, 24 tháng 12, 2012

Lại một Noel nữa ...

Chụp ở hang đá của nhà dân gần Xứ Thánh Tịnh
Lại một Noel nữa/mấy mùa Giáng Sinh rồi/anh ở đồn biên giới/thương về một khung trời ...

Quay qua quay lại, một năm nữa đã hết, một Noel nữa đã lại đến rồi. Như vậy là đã 37 mùa Giáng sinh rồi đó, kể từ năm 1975, năm đầu tiên "giải phóng".

Tôi đã không định viết gì cho Noel năm nay, vì không hiểu sao tôi thấy không khí năm nay buồn buồn, không có gì là háo hức. Gần đến ngày Noel thì tự nhiên gặp phải một tin ... tức mình, đó là bài giảng của ông đại tá Trần Đăng Thanh trong đó nhắc nhở mọi người dân VN là phải không được "vong ân bội nghĩa" với TQ vì nó đã từng "nhường cơm xẻ áo" cho mình. Tình hình kinh tế thì không có gì đáng phấn khởi, nhiều doanh nghiệp bị đóng cửa, công nhân mất việc .... Không những thế, năm nay đêm Noel lại  rơi vào thứ hai, ban ngày vẫn phải đi làm, lại là đầu tuần nữa chứ, nên chẳng ai có nhiều thì giờ và tâm trí đâu mà lo lễ Noel.

Nhưng rồi ngày 24/12 vẫn đến. Buổi chiều đi làm về, đi ngang khu có nhiều nhà thờ ở Gò Vấp và Bình Thạnh vẫn thấy có chút không khí Giáng Sinh, dù là Giáng Sinh nghèo. Một "ông già Noel" trẻ măng với thân hình gày gò trên chiếc xe gắn máy cà tàng vội vã lao đi với món quà trong tay để kịp giao món quà đến một cô bé hay cậu bé nào đó đi học về. Các cửa hàng thú nhồi bông cũng khá đông người chen chúc, các bà mẹ, ông bố đang chọn mua mấy món quà để kịp đem về giấu ở đâu đó trong nhà để tạo ra một niềm vui nho nhỏ cho con mình khi ngủ dậy vào buổi sáng. Dù sao đi nữa, Noel vẫn cứ là một ngày lễ quan trọng, "không chỉ cho người Công giáo" như một blogger nào đó đã nói.

Ừ thì thôi viết mấy dòng, ghi lại chút không khí của Noel 2012 vậy. Vẫn là Giáng sinh ở xóm nghèo thôi.


Thiệp do con gái làm

Cây thông, hang đá và ngôi sao dẫn đường tại nhà thờ Bác Ái gần nhà tôi



Kinh tế có khó khăn thì Noel vẫn phải cứ phải đèn nến tưng bừng
\



Và cuối cùng là những lời cầu chúc cho mùa Giáng Sinh năm nay, lấy từ bài hát Niềm tin mà tựa của nó tôi đã dùng đặt cho entry này:

Cùng cầu cho thế giới/cho nhân loại hòa bình/cho chúng ta gặp lại/trong một mùa Giáng Sinh ....
---