Thứ Sáu, 19 tháng 2, 2016

Bài đăng lại: Tản mạn về Trần Trọng Kim qua những trang hồi ký (Kỳ III)


http://tiasang.com.vn/DesktopModules/VietTotal.Articles/PrintView.aspx?ItemID=7271
----



Tản mạn về Trần Trọng Kim qua những trang hồi ký (Kỳ III):
Một cơn gió bụi

10:59-2/22/2014


Trần Trọng Kim được đánh giá là một học giả uyên thâm cả tân học lẫn cựu học, là người tận tụy cho ngành giáo dục Việt Nam đầu thế kỷ 20. Tuy nhiên, ông là người có tư tưởng bảo thủ và dân tộc-bảo hoàng. Chính Phan Anh, Bộ trưởng Thanh niên trong Nội các trước đây của ông đã từng nhận xét: “Trần Trọng Kim là một người yêu nước nhưng không phải là một nhà chính trị”.


Không ai phủ nhận Nội các Trần Trọng Kim là do Nhật lập ra để lèo lái theo ý đồ chính trị của Nhật (chuyện này chính Trần Trọng Kim và những người xung quanh ông cũng đã biết trước và sau khi chấp chính), nhưng nội các đó có “tay sai bù nhìn” hay không thì lại là vấn đề đã gây nên nhiều tranh cãi.
    
Bùi Diễm cháu gọi ông bằng chú (miền Nam gọi dượng) có lẽ là một trong những người có điều kiện tiếp xúc gần gũi và rành rẽ hơn hết về tính cách ngây thơ chính trị của ông cũng như của cả nhóm bộ trưởng dưới quyền ông, đã từng đánh giá: “Cụ Kim vẫn còn bị những khuynh hướng tổ chức theo lối cổ ngày xưa ảnh hưởng rất nhiều. Khi tìm người ra phục vụ, cụ đã mời những người vừa xuất sắc về học vấn, vừa chánh trực thanh liêm về cùng làm việc. Cụ coi đây là những đức tính tiên quyết, bắt buộc phải có ở những người phục vụ đất nước. Khi nhìn lại bằng con mắt hiện thời thì quả thật lúc loạn ly bấy giờ chưa chắc đã phải là lúc của những đức tính như vậy….Tuy thế, hầu hết các nhân viên trong cả chánh phủ đều thiếu kinh nghiệm chính trị thực tiễn. Khi giải quyết các vấn đề chính trị, họ thường giải quyết dựa vào các quan niệm lý thuyết. Họ sẵn sàng tán thành các giải pháp được đề ra, miễn là những giải pháp đó có vẻ hợp luận lý….Tuy không hề nghe lệnh [người Nhật], họ cũng chẳng hề biết rõ thấu đáo tình hình chính trị và quân sự đang gây sóng gió chung quanh…. Họ chẳng biết tí gì về người Mỹ…. Theo tôi nhớ thì hình như các bộ trưởng chưa bao giờ nói gì đến chuyện ông Hồ Chí Minh hoặc Việt Minh…. Ngay cả đến người Nhật, mà tôi nghĩ là họ phải hiểu hơn cả, họ cũng chẳng biết rõ ý định của người Nhật. Dường như họ cũng chẳng lo lắng mấy về vấn đề người Nhật sắp sửa thất bại…. Theo tôi thấy thì có lẽ ông [ông chú tôi] không màng gì đến chuyện tranh chấp quyền lực trong tương lai. Ngược lại, ông đã nghe về Việt Minh và đang tự hỏi xem thật sự họ có phải là nhóm người lãnh đạo hữu hiệu nhất cho quốc gia vào những ngày khó khăn sắp tới hay không? Ông bảo tôi rằng hình như đảng Việt Minh đã được Hoa Kỳ ủng hộ. “Nếu đúng như vậy thật”, ông nói tiếp “thì ta vui lòng nhượng quyền cho họ”… Một tuần sau thì có tin Nhật đầu hàng Đồng minh, ở Huế tình hình chẳng những đã cực kỳ sôi sục, mà còn rối ren mù mịt. Vì chưa sửa soạn kỹ lưỡng để nắm quyền, khi định mệnh xô ngã Nhật, chánh quyền của ông chú tôi hoàn toàn bỡ ngỡ, không biết phải hành động ra sao….Tuy thế sau khi cụ Kim đã quyết định [từ chức] thì tất cả những cảm giác vui buồn lẫn lộn đều hoàn toàn biến mất. Cụ đã nói với tôi rằng: ‘Giờ chú hoàn toàn vui mừng như xưa, sẽ có người khác phải gánh trách nhiệm. Thật là nhẹ nhàng vô cùng’”.

    
Do cái ngả rẽ sang con đường chính trị mà không thành công như niềm tin có thể ngây thơ và chí hướng tốt đẹp, sau khi Cách mạng tháng 8.1945 thành công, và nhất là sau năm 1954, cũng vì cái lý lịch chính trị đó, nên tương tự như trường hợp Phạm Quỳnh, ở miền Bắc người ta không nhắc gì đến ông nữa, cả về phương diện học thuật. Cá nhân Trần Trọng Kim cùng với quyển Việt Nam sử lược nổi tiếng một thời đã bị một số nhà sử học mác-xít đầu đàn như Trần Huy Liệu, Trần Văn Giàu... phê phán nặng nề bằng một số cụm từ như bù nhìn, phản dân tộc... Các sách giáo khoa môn sử cũng theo đó mà đưa ra các nhận định, hoặc mạt sát nặng nề, hoặc chỉ nhắc lướt qua như một chi tiết phụ không đáng kể..., khiến cho học sinh và thậm chí một số trí thức tương đối trẻ ngày nay không còn biết Trần Trọng Kim là ai và nội các do ông lãnh đạo có vai trò lịch sử như thế nào nữa.

    
Riêng cuốn Việt Nam sử lược đã từng bị coi là sách cấm, khiến cả những giáo sư dạy sử trong trường đại học (như GS Trần Quốc Vượng…) cũng chỉ dám cất giấu đọc lén, bởi vì theo quan điểm chính thống, “những người làm công tác sử học Việt Nam đã bóc trần các quan điểm sử học thực dân phong kiến trong một số sách lịch sử do bọn bồi bút thực dân biên soạn, mà tiêu biểu là cuốn Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim” (xem Văn Tạo, “Khoa học lịch sử Việt Nam trong mấy chục năm qua”, Sử học Việt Nam trên đường phát triển, Viện Sử học, NXB Khoa Học Xã Hội, Hà Nội, 1981, tr. 9).  

    
Khoảng hơn chục năm gần đây, qua lớp bụi thời gian, “tội lỗi” của Trần Trọng Kim đã dịu bớt, người ta bắt đầu biết đến rồi nhận ra giá trị, cho in đi in lại nhiều lần những Việt Nam sử lược, rồi Nho giáo, Phật giáo, Phật lục… , nhất là bộ sách Quốc văn giáo khoa thư và  Luân lý giáo khoa thư do ông chủ trì nhóm biên soạn. Từ năm 2000, tức 47 năm sau khi Trần Trọng Kim qua đời, mới thấy mục từ TRẦN TRỌNG KIM bắt đầu xuất hiện trong cuốn Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam do Đinh Xuân Lâm-Trương Hữu Quýnh chủ biên (NXB Giáo Dục). Năm 2004, khi bộ sách quy mô Từ điển Văn học bộ mới ra đời (NXB Thế Giới), mục từ TRẦN TRỌNG KIM lại được đưa vào một cách trân trọng hơn, do nhà nghiên cứu văn học Nguyễn Huệ Chi trình bày, với gần đầy 3 trang giấy khổ lớn, bỏ hết mọi lời công kích.     


Trong số những nhà sử học trụ cột thế hệ tiếp sau Trần Huy Liệu-Trần Văn Giàu, mặc dù vẫn ở trong phái “chính thống” hay “dòng chính”, mọi người nhận thấy dường như chỉ có GS Đinh Xuân Lâm đi trước một bước với những quan niệm, nhận định cởi mở và chính xác hơn về nhân vật lịch sử Trần Trọng Kim, khi ông nói: “Chúng tôi cho rằng Chính phủ Trần Trọng Kim thân Nhật là chính xác vì thực tế nó ra đời là do bàn tay Nhật tạo dựng và theo ý định của Nhật, nhưng bảo rằng nó là bù nhìn e rằng chưa thật sự đúng, vì trong thực tế nó vẫn có những chủ trương và việc làm ngoài ý muốn của Nhật và có lợi cho dân, cho nước” (Trường Thanh niên tiền tuyến Huế-1945: Một hiện tượng lịch sử, NXB Công An Nhân Dân, 2008).

    
Cho đến nay, biên khảo về Trần Trọng Kim nói chung và về Nội các Trần Trọng Kim nói riêng, theo sự hiểu biết của chúng tôi, có lẽ chưa có công trình nghiên cứu nào tập hợp đầy đủ tư liệu và viết có phương pháp, hệ thống bằng cuốn Nội các Trần Trọng Kim: Bản chất, vai trò và vị trí lịch sử của Phạm Hồng Tung (NXB Chính Trị Quốc Gia, Hà Nội, 2009; tái bản năm 2010).

    
Cuốn sách nêu trên, dày 380 trang, đoạt Giải thưởng ĐHQG Hà Nội 2010, nghiên cứu một cách toàn diện và cụ thể hoàn cảnh, nguyên nhân ra đời, các chủ trương, chính sách và hoạt động của Nội các Trần Trọng Kim, để đi tới cách đánh giá có phần tiến bộ hơn so với các thế hệ đi trước về bản chất, vai trò và vị trí lịch sử của nó. Tuy nhiên nếu đứng trên phương diện quan điểm đánh giá lịch sử mà xét thì dường như tác giả cũng chỉ dựa chủ yếu theo quan điểm “chính thống” để giải thích mọi hiện tượng lịch sử, theo hướng minh họa cho nổi bật thêm những nét thành công của Cách mạng tháng Tám và ít nhiều có thái độ ác cảm với nhân vật họ Trần (biểu hiện qua lời lẽ diễn đạt, thể cách xưng hô, gọi Trần Trọng Kim là “ông ta”…). Từ đó, Phạm Hồng Tung đã chỉ tổng hợp các cách đánh giá, chỉnh sửa đôi chút để đi đến những kết luận ít cực đoan hơn so với phái “chính thống” cũ, khi cho rằng: (1) Nội các Trần Trọng Kim vẫn là một chính quyền bù nhìn của người Nhật, nhưng đó chỉ là một chính quyền bù nhìn thụ động, không phải là chính quyền tay sai đắc lực của người Nhật; (2) Trong thời gian tồn tại ngắn ngủi của nó, đối với việc phụng sự chủ quyền quốc gia và lợi ích dân tộc, Nội các Trần Trọng Kim đã có một số đóng góp quan trọng, đáng được ghi nhận; (3) Việc luận chứng đầy đủ về bản chất, vai trò và vị trí lịch sử của Nội các Trần Trọng Kim và hệ thống chính quyền bù nhìn thân Nhật đã góp phần quan trọng để khẳng định rằng cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945 của nhân dân Việt Nam là cuộc cách mạng thực sự mang tính chất dân tộc và tính chất dân chủ sâu sắc (xem Phạm Hồng Tung, tr. 343-367).

    
Với cách đánh giá của Phạm Hồng Tung, tuy có bị ảnh hưởng nhiều bởi những nguồn thông tin “ác cảm” từ tập hồi ký Phạm Khắc Hòe, Nội các Trần Trọng Kim đã được “giảm án” đi đôi chút. Tuy nhiên, trong quá trình phân tích đánh giá, một vài nhận xét của tác giả chỉ dựa trên những suy luận gán ghép đơn thuần chứ không căn cứ vào lẽ công bằng và kinh nghiệm thực tế, như nói “Trong suốt hơn ba tháng cầm quyền, nội các này không hề biếm phạt nghiêm khắc một viên quan nào…”  để phê bình sự biện bạch của Trần Trọng Kim trong việc chỉnh đốn quan trường (tr. 210-211); hoặc “một chính phủ bù nhìn, bất lực trước những nhiệm vụ do tự nó đặt ra” (tr. 196)…, là những vấn đề mà chỉ trong vòng 4 tháng thì không một nhà chính trị thần thánh nào có thể làm khác nổi.

    
Năm 1962 được thầy Trần Quốc Vượng lén chỉ và khuyên tìm đọc Việt Nam sử lược, ông Mai Khắc Ứng từ đó hết sức trân trọng Trần Trọng Kim cùng tác phẩm sử học của ông, và mãi đến gần đây mới viết ra được một số ý kiến, tâm tư của mình trong bài “Trần Trọng Kim với Việt Nam sử lược”, đăng trên Tạp chí Xưa & Nay (số 346, tháng 12.2009).

    
Để biện hộ cho tính chính đáng trong lựa chọn-hành động chính trị của Trần Trọng Kim, tác giả bài báo đưa nhiều lý lẽ như: Trần Trọng Kim là một học giả không có thủ đoạn chính trị và tham vọng quyền lực, thực sự chưa hề chuẩn bị làm chính khách đứng ra thành lập Chính phủ. Nhân tình thế chủ quan, khách quan của đất nước nửa đầu năm 1945, ông nhận ra con đường thực thi phận sự công dân trước vận mệnh Tổ quốc…. Chính phủ Trần Trọng Kim thành lập đơn giản bao nhiêu thì cáo chung cũng nhẹ nhàng, thanh thản bấy nhiêu, không có ai trong hàng các bộ trưởng tỏ ra cay cú bực dọc phản ứng thù hận…. Nếu họ là bù nhìn tay sai Nhật thực sự thì ngay thời điểm đó và cả sau này nữa, tại sao nhiều người đã trở thành cán bộ cao cấp của Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà?... Tạm thời bắt tay với Nhật để yên thân thành lập một Chính phủ hợp hiến tìm sự ủng hộ của công luận trong và ngoài nước, trước khi Pháp gây hấn là toan tính khôn khéo của Trần Trọng Kim và Chính phủ. Pháp lo sợ điều này và săn đuổi Trần Trọng Kim là lẽ đương nhiên…. Một điều không nói ra nhưng ai cũng biết là Pháp quay lại Việt Nam lần này với hai sứ mạng. Một là giành Đông Dương từ tay Nhật bại trận. Hai là ngăn chặn sự phát triển của chủ nghĩa Cộng sản. Chính phủ Trần Trọng Kim là trở lực của hai sứ mạng đó… Còn nếu cho rằng mọi sự bắt tay trong quan hệ bang giao là tay sai thì tội cho những người trước và sau Trần Trọng Kim lắm lắm….Có một chi tiết đáng được lưu ý là Trần Trọng Kim đã yêu cầu Nhật mở cửa các nhà tù của Pháp, ân xá toàn bộ chính trị phạm, kể cả người tù cộng sản….

    
Rồi đi đến kết luận dứt khoát:

    
“Với tôi, Trần Trọng Kim qua Việt Nam sử lược là một người yêu nước thành tâm, một nhà sử học chân chính, trung thực, một người cầm bút có nhân cách, một học giả xuất sắc đã cống hiến phần trí tuệ, chí ít cho các thế hệ nửa đầu thế kỷ XX và Chính phủ Trần Trọng Kim là sản phẩm của tình thế với hoài bão bước đầu thực thi thể chế Quân chủ lập hiến đặt nền móng cho mô hình “Dân chủ Đại nghị” cổ điển về sau, của lớp nhân sĩ tri thức cũ biết lường trước họa binh đao nên tha thiết nhân nhượng, dung hoà”.

    
Hơn nửa năm sau, Phạm Hồng Tung đã viết bài “Nội các Trần Trọng Kim và Cách mạng tháng Tám” (Xưa & Nay, số 361, tháng 8.2010) để bác bỏ những lý lẽ cho là chưa vững của Mai Khắc Ứng.


Trong bài viết đó, trước khi đưa ra kết luận đánh giá của riêng mình, tác giả Phạm Hồng Tung đã có công phu sưu tầm-ghi chép khá đầy đủ những tài liệu đánh giá của người khác, trước hết là tiếng nói của người trong cuộc (ý nói như của Trần Trọng Kim, Hoàng Xuân Hãn, Phan Anh…), tiếp đến ý kiến của một số sử gia phương Tây và Nhật Bản, rồi đến cách đánh giá của sử gia Việt Nam, mà dưới đây chỉ xin trích dẫn lại 3 đoạn tiêu biểu phân biệt cho 3 loại đánh giá (xem Phạm Hồng Tung, sđd., tr. 300-342):

- Khi một người ngoại quốc là Stein Tonnesson hỏi ông Phan Anh (nguyên Bộ trưởng Nội các Trần Trong Kim) Chính phủ Trần Trọng Kim có phải là một chính phủ bù nhìn không, thì Phan Anh khẳng định: “Lấy tư cách là thành viên của Chính phủ Trần Trọng Kim, tôi nói với ông rằng chúng tôi tuyệt đối không có ảo vọng gì về người Nhật. Tình thế đã dứt khoát rồi. Phải là kẻ điên mới đi hợp tác với Nhật. Có những người điên, nhưng chúng tôi là trí thức, chúng tôi tham gia chính phủ là để phụng sự. Chính với chính sách ấy mà chúng tôi đã thành lập chính phủ với khẩu hiệu như vừa nói là: Đuổi cổ bọn Pháp và nắm lấy độc lập”.

- Ý kiến của chính Stein Tonnesson (tác giả cuốn The Vietnamese Revolution of 1945, xuất bản năm 1991): “Nói chung, Chính phủ Trần Trọng Kim không thể bị coi là thân Nhật”.

- Ý kiến của Trần huy Liệu và Trần Văn Giàu. (1) Của Trần Huy Liệu: “Chính phủ bù nhìn gắn liền vận mạng của nó với phát xít Nhật, đặc biệt là phát xít Nhật trong lúc giẫy chết. Vì vậy nó ra đời cũng chỉ có chiều hướng đi xuống, chết yểu và sống nhục”.- (2) Của Trần Văn Giàu: “Nói tóm lại, Chính phủ Trần Trọng Kim dù là gồm những nhà trí thức tư sản nổi tiếng, vẫn là một chính phủ bù nhìn của Nhật. Nó biểu lộ không phải tính chất dân tộc và dân chủ mà biểu lộ tính chất phản dân tộc, phản dân chủ. Vẫn biết có một ít nhân vật trong đó có ý muốn làm cho nước nhà được giải phóng thực sự, nhưng không thể phủ nhận rằng sự tổ chức, sự hoạt động của Chính phủ Trần Trọng Kim nhằm cản trở phong trào cách mạng do Đảng Cộng sản lãnh đạo, nhằm tranh thủ quần chúng với Mặt trận Việt Minh; sở dĩ họ không đạt mục đích của họ, không phải vì họ thiếu ý thức giai cấp và thiếu hoạt động, mà trước hết vì thời gian không ủng hộ họ, vì tình hình quốc tế bất lợi cho họ, vì hoạt động giỏi của Đảng Cộng sản và Mặt trận Việt Minh không cho phép họ”.


Năm 1983, Phạm Khắc Hòe (1901-1995), từng giữ chức  Đổng lý Ngự tiền văn phòng thời Bảo Đại 1945 (sau đó theo Việt Minh kháng chiến chống Pháp),  cho xuất bản tập hồi ký Từ triều đình Huế đến chiến khu Việt Bắc, đã mô tả từng hành động, quyết định của Trần Trọng Kim như một kẻ vụng về, cơ hội, tham quyền cố vị, bất tài và bất lực với những lời lẽ biếm nhẽ, đôi khi còn rất nặng nề.        

Có lẽ vì chịu ảnh hưởng cách giá đánh của các vị tiền bối sử học-chính trị học cách mạng nêu trên, nên sách giáo khoa môn Lịch sử lớp 12 (NXB Giáo Dục, ấn bản năm 2001) khi nhắc đến giai đoạn lịch sử trước Cách mạng Tháng 8 đã mạnh tay viết về Trần Trọng Kim với những lời lẽ không kém phần gay gắt, nếu không muốn nói còn có phần “lướt” hơn: “Bọn thân Nhật Trần Trọng Kim đứng ra lập Chính phủ mới, bù nhìn Bảo Đại được khoác danh hiệu “Quốc trưởng” (phải nói “Hoàng đế” mới đúng-TVC). Bọn thân Nhật muốn dựa vào quan thầy mới để hoạt động, làm ra vẻ “ái quốc, ái quần” (yêu nước, yêu dân); nhưng chúng nhanh chóng tỏ ra bất lực (…). Chúng trở thành những tên tay sai ngoan ngoãn để cho chủ mới là Nhật càng thêm dễ dàng lừa bịp và vơ vét, bóc lột nhân dân ta thậm tệ hơn (…). Vì vậy, chỉ sau một thời gian rất ngắn, bộ mặt giả nhân giả nghĩa của phát xít Nhật cũng như bộ mặt tay sai bỉ ổi của bọn bù nhìn thân Nhật đã bị bóc trần. Nhân dân ta ngày càng thêm căm thù Nhật và chán ghét bọn bù nhìn tay sai của chúng” (dẫn lại theo Phạm Hồng Tung, tr. 340-341).

Cũng Lịch sử lớp 12, nhưng ở ấn bản năm 2010 (NXB Giáo Dục, tái bản lần thứ 2), chỉ có một dòng ngắn ngủi về chính phủ Trần Trọng Kim: “Quân Nhật ở Đông Dương rệu rã. Chính phủ thân Nhật Trần Trọng Kim hoang mang. Điều kiện khách quan thuận lợi cho tổng khởi nghĩa đã đến” (tr. 115)    

Đến ấn bản mới nhất, Lịch sử Lớp 12 (NXB Giáo Dục, tái bản lần thứ 5, tháng 3.2013), đoạn viết về Trần Trọng Kim chỉ giảm lại còn: “Chúng [Nhật] dựng lên Chính phủ Trần Trọng Kim và đưa Bảo Đại lên làm ‘Quốc trưởng’” (tr. 112).

Tôi có thói quen khi thấy có vấn đề gì liên quan lịch sử thì lấy sách giáo khoa xem trước để nắm chắc một số sự kiện căn bản hoặc ý niệm tổng quát, vì nghĩ rằng đã sách giáo khoa do Bộ Giáo dục-Đào tạo xuất bản thì tất phải chính xác, đàng hoàng hơn hẳn những loại sách biên khảo lịch sử của tác giả khác, do nó phải khách quan khoa học, lời lẽ lịch sự, đáng tin cậy, với lượng kiến thức cần thiết cung cấp cho học sinh được chắt lọc lại từ rất nhiều nguồn sử liệu khác nhau, trên cơ sở có sự đối chiếu thẩm định, nghiên cứu nghiêm túc. Nào ngờ, như 3 đoạn vừa dẫn trên cho thấy, tùy theo lần và năm xuất bản, sách Lịch sử lớp 12 lại lúc vầy lúc khác: có lúc mạt sát Trần Trọng Kim và Nội các của ông thậm tệ, với lời lẽ hằn học, lúc khác không công kích nữa (chỉ gọi Nhật là “chúng”) nhưng lại chỉ nói phớt qua một hai dòng.

Vậy là có lúc tôi đã hiểu nhầm về độ tin cậy và tính nghiêm túc của sách giáo khoa, không dè nó đã được biên soạn một cách rất tùy tiện, thậm chí sai kiến thức (như chi tiết gọi Bảo Đại năm 1945 là “Quốc trưởng”).

Trở lại câu chuyện, mặc dù đã có kết luận đánh giá trông có vẻ dung hòa tiến bộ hơn của Phạm Hồng Tung, vấn đề xem chừng vẫn chưa hết hồi phức tạp, vì vậy mà trong bài “Bàn thêm về Trần Trọng Kim” (Tạp chí Văn Hóa Nghệ An, 26.11. 2009), GS Vũ Ngọc Khánh đã đặt vấn đề nên có một cuộc hội thảo khoa học về Trần Trọng Kim vì đã có nhiều ý kiến trao đổi, nhưng nhận định chung hình như chưa thật thoả đáng.
    
“Tôi nghĩ rằng vấn đề có thể suy nghĩ và cân nhắc thêm (…). Nói sang chuyện hoạt động chính trị. Hình như đây là vấn đề được nhiều người quan tâm  hơn và sự nhận định nói chung là khe khắt hơn. Song những điều đắc thất của Trần Trọng Kim ở chặng cuối đời này nên được làm rõ”.


Đại khái theo GS Vũ Ngọc Khánh, về việc ra làm thủ tướng, trong bối cảnh lịch sử cụ thể lúc bấy giờ, nếu  không phải Trần Trọng Kim thì phải có con người khác, nhưng lại phải do người của Nhật đưa ra (như Huỳnh Thúc Kháng, Ngô Đình Diệm đều được Nhật và Bảo Đại nhắc đến), nhưng cuối cùng họ chỉ dùng Trần Trọng Kim. Còn về việc liên hệ với Nhật Bản, cho đến nay vẫn chưa phát hiện được tài liệu gì, do ông và cả Nhật cố tình giữ kín nên không ai biết, chỉ thấy ông được Nhật đưa đi trốn rồi đưa về để đẩy ra làm thủ tướng.... Điều hiển nhiên ông đã là một con bài do Nhật chuẩn bị.

Nhận định về vai trò của chính phủ Trần Trọng Kim, ông Khánh cho rằng mặc dù dư luận vẫn gọi đây là chính phủ bù nhìn, nhưng nên hiểu cái danh hiệu này cho có mức độ. Nói bù nhìn là nói theo cách vạch trần chân tướng để hạ uy thế, có phần không thoả đáng với nhiều thành viên chính phủ đều là người tốt, có uy tín. Không rõ có ai kín đáo thi hành lệnh của Nhật không, chứ là tay sai thực thụ thì không rõ mặt (kể cả Trần Văn Chương sau này phục vụ chính quyền Ngô Đình Diệm).

Về việc làm và luận điệu của Chính phủ, ông Khánh viết: “…tất nhiên, khi ra đời cũng như khi tuyên bố nọ kia, chính phủ Trần Trọng Kim phải có những câu như: cảm tạ công ơn Nhật, v..v.. Tôi nghĩ đó chỉ là cách nói khách sáo …, không nên căn cứ vào những điều đó để đánh giá. Còn việc tha các tù phạm, nghe nói là những tù cộng sản không được tha [ý chỉ thả những tù nhân không cộng sản, Phạm Hồng Tung dẫn lại của Trần Văn Giàu từ sách gốc của Devillers xuất bản năm 1952, nhưng đoạn tha tù phạm, sau này Devillers đã điều chỉnh trong cuốn Paris-Saigon-Hanoi, sđd, tr. 106-TVC]…, nhưng lúc đó (tháng 5, 6.1945) tôi ở Vinh thì đây là chuyện có thực. Khi ông bộ trưởng tư pháp Trịnh Đình Thảo ra lệnh này, nhiều đồng chí bị bắt giam đã được giải phóng. Các ông Nguyễn Duy Trinh, Lê Tính từ trong Nam về Vinh, có đến trọ ở nhà tôi. Nhiều đồng chí khác được “sổ lồng” vào dịp này. Tôi còn nhớ là vào lúc đó, chính phủ Trần Trọng Kim có ra lệnh hoãn nợ để đỡ phần cho nông dân nghèo tại các xã (không biết việc thực thi có chu đáo không). Ngoài ra có một chương trình giáo dục mới (chương trình Hoàng Xuân Hãn). Có phong trào ngay lúc đó được gọi là Thanh niên Phan Anh, thực tế nhiều nơi đã thành tổ chức do Việt Minh lãnh đạo. Nếu là một chính phủ thân Nhật khác, dễ gì đã có được những hành động tạo điều kiện thuận lợi như vậy”.

Về cá nhân Trần Trọng Kim, tác giả có mấy ý kiến, xin tóm tắt lại như sau: (a) Ông là người có lòng yêu nước, vẫn giữ được tư cách người trí thức của dân tộc; (b) Ông bị lôi cuốn vào hoạt động chính trị, vì sự hiểu biết chính trị của ông không sâu sắc, nên bị người ta dùng làm con bài, mà vẫn tưởng là họ cho ra đóng góp với dân tộc; (c) Tư tưởng của ông là tư tưởng luân lý phong kiến, cho đến khi gặp bế tắc, ông vẫn cứ phải loay hoay với lý thuyết của Khổng Tử (qua câu cuối cùng của ông nói với Phạm Khắc Hoè về việc hành tàng), do đó bế tắc lại càng bế tắc.

Rồi bài viết đi đến kết thúc bằng một nhận xét có phần xác đáng: “Còn có một điều khiến chúng ta phải phàn nàn, mà khó lòng thông cảm với ông. Đó là vào khoảng cuối đời, ông đã tiếp tục gieo mình vào những biến cố không cần thiết, hoàn toàn bất lợi. Ông không chịu “tàng” như cách nói với Phạm Khắc Hoè mà lại cố “hành” khi đã thành vô dụng. Không rõ ông hiểu Bảo Đại thế nào mà còn đi sang Trung Quốc gặp lại Bảo Đại rồi quay lại Sài Gòn, được mời đóng vai trò chủ đạo cho cuộc vận động của Chính phủ do Bảo Đại làm quốc trưởng, mặc dầu ông không hoạt động được gì cũng không chỉ đạo ai. Ông vẫn bị lợi dụng mà không hay. Tôi nghĩ rằng khi ông được đẩy ra làm thủ tướng, rồi lại làm chủ tịch gì  gì đó, thì ông hoàn toàn là một nạn nhân chứ không có vai trò chủ động gì nữa”.

Quả thật ở giai đoạn cuối đời, tuy luôn miệng than vắn thở dài, ngán ngẫm thời cuộc và chỉ muốn được an nhàn, nhưng thực tế Trần Trọng Kim vẫn có vẻ tất bật, chạy vạy vất vả, nhất là từ thời kỳ “tòng vong” theo Bảo Đại ở Hương Cảng cho đến lúc về Sài gòn dự Quốc dân đại hội năm 1953! Vì hoàn cảnh phải ra đi, vì bạn bè lôi kéo thúc đẩy (cái này cũng thường dễ mắc phải lắm), vì còn tham chút danh vọng, hay vì trong tâm khảm ông vẫn còn vương vấn bận rộn việc đời?

Thậm chí, ngay khi còn đương chức Nội các Tổng trưởng, đi đâu gặp bạn bè Trần Trọng Kim cũng tâm sự do mình chẳng đặng đừng phải đứng ra nhận thành lập Nội các, như có lần đã chia sẻ với nhà báo Lãng Nhân khi gặp nhau tại dinh Thống sứ cũ, trong chuyến ông đi công cán ở Hà Nội để thuyết phục Tổng tư lịnh Nhật cho lấy lại các thành phố đang nằm trong tay Nhật: “ ‘Ngô bất đắc dĩ’ mà! Chỉ khi vì gặp vua, thấy là người thông tuệ có thể hợp tác nên tôi nghĩ trong lúc rối ren, không đành từ chối, nhưng thật tình không biết có làm nên việc hay không” (sđd., tr. 86). Còn thật bụng ra sao, có lẽ chỉ mình ông hoặc vợ con ông mới biết.

Cũng có thể ban đầu ông “bất đắc dĩ” thật, hoặc muốn thử tài kinh bang tế thế theo lý tưởng nhà nho mà không cuồng vọng, nhưng phàm tâm lý con người, đã ở trong chức vụ cao được tiền hô hậu ủng quen rồi thì khi mất đi cũng tiếc. Chỉ có khác ít nhiều là với tư tưởng-phong cách sống nhà nho, lại mộ đạo Phật, ông chắc chắn có phần thanh thản hơn nhiều so với những người khác có hoàn cảnh tương tự.

Dù sao chăng nữa, về mặt nhân cách đạo đức, chưa phát hiện có chuyện gì bê bối trong đời tư của ông. Trước sau ông cũng chỉ là một hạng nho Tây thanh bạch, cuộc sống suốt đời chỉ từ đủ ăn cho đến thiếu thốn, và phần nhiều thời gian phải ở đậu ở nhờ nhà cửa của bạn bè, thân thuộc. Cả Trần Trọng Kim lẫn các thành viên trong nội các của ông không có người học kém, đặc biệt chưa bị mang tiếng gì về chuyện tham ô móc ngoặc, tự tư tự lợi (cũng có thể là vì chưa tới lúc bị tha hóa quyền lực?). Tất cả họ đều là một đám thư sinh trói gà không chặt, chỉ có tấm lòng mà thiếu mưu mẹo chính trị, nên không thể đảm đương việc nước trong khúc quanh lịch sử đoạn trường này của dân tộc.    

Đến đây, tôi đã cố gắng trình bày tương đối đầy đủ về nhân vật lịch sử Trần Trọng Kim cùng Nội các của ông, bằng việc chắp vá, tổng hợp lại từ một số tài liệu chủ yếu bao gồm những tập hồi ký có được trong tay mà các tác giả đều là chứng nhân của thời cuộc, với một phần dè dặt thận trọng về tính chủ quan cũng như về độ chính xác của thể loại hồi ký. Những tài liệu này kể ra cũng chẳng quý hiếm gì. Nó chỉ hơi khó kiếm đối với một số bạn trẻ, vì có thời gian, từ nhiều lý do ngoắt ngoéo của lịch sử, chúng đã ít được phổ biến hoặc được nhắc tới, nhất là đối với khu vực phía Bắc từ sau Cách mạng tháng Tám. Đó là một trong những lý do khiến tôi nảy ra ý định trình bày lại các sự kiện lịch sử liên quan một cách tản mạn, trong khi chưa đủ khả năng trình độ viết thành một chuyên luận có hệ thống, nhằm mục đích để các bạn trẻ ngày nay được biết thêm về một khúc quanh lịch sử đặc thù đầy đau thương buồn bã của dân tộc, điều mà họ không thể tìm đọc được trong các sách giáo khoa hiện tại.

Nhắc lại chuyện cũ, tôi hoàn toàn không có ý định đề cao ai hoặc phê phán ai, chỉ cốt tuần tự trình bày các sự kiện thu thập được qua tài liệu sách vở. Song vì điều tôi quan tâm hơn cả là muốn qua những câu chuyện quá khứ, chúng ta ngày nay có thể suy nghiệm được những bài học lịch sử hữu ích gì để áp dụng cho hiện tại và tương lai, nên trong khi “tản mạn”, tôi cũng có tùy hứng thỉnh thoảng đưa vào một vài nhận định riêng có tính chủ quan của người viết, chỉ nhằm gợi ý tham khảo, chứ không có ý muốn người khác phải đồng tình hết với mình.

Tôi cũng muốn nhân câu chuyện Trần Trọng Kim mà trình bày một số vấn đề liên quan khoa học lịch sử và việc giảng dạy môn học này trong các trường học hiện tại. Theo quan niệm đơn giản của tôi, về môn lịch sử, trước nhất phải tôn trọng sự thật chứ không nên vo tròn bóp méo vì bất cứ lý do gì, và phải được biên soạn theo đúng phương pháp chuyên ngành, rồi trình bày nó ra bằng một thứ ngôn ngữ khoa học vừa lịch sự, nhã nhặn vừa chuẩn xác và có tính trung hòa. Trong các công trình sử học cũng như trong sách giáo khoa về môn lịch sử, nhất định phải không chứa sự sân hận đối với những gì đã xảy ra trong quá khứ.

Trước đây, nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng cực đoan thiếu khách quan trong khi trình bày lịch sử cũng như phê phán các nhân vật lịch sử,  trong đó có nguyên tắc bất di bất dịch về tính Đảng, tính khoa học, vốn một thời được coi là “vấn đề trung tâm của phương pháp luận sử học mác-xít” (xem Phạm Xuân Nam, “Về những vấn đề phương pháp luận trong công tác sử học của chúng ta mấy chục năm qua”, Sử học Việt Nam trên đường phát triển, sđd., tr. 246), mà hai năm trước Viện Sử học cùng Hội Sử học đã kịp nghĩ lại khi họ đề xuất kế hoạch sẽ tổ chức biên soạn một bộ thông sử Việt Nam mới với nội dung vượt qua được những giới hạn ràng buộc của vấn đề ý thức hệ.  Cách triển khai hay là nghệ thuật chủ yếu của cái phương pháp luận sử học cũ kỹ vừa nói trên là “tự viên kỳ thuyết”, tức trong khi giải thích các sự kiện-hiện tượng lịch sử, tìm mọi cách vo tròn bóp méo sao cho phù hợp với hệ quy chiếu lý luận đã định sẵn một cách xơ cứng, kết quả là cho ra những bài viết hoặc công trình nghiên cứu của những tác giả khác nhau nhưng đều có luận điệu, cách diễn đạt và thậm chí cả câu chữ cũng gần gần giống nhau. Đây cũng là một trong những lý do quan trọng khiến cho môn học Lịch sử trở nên nhàm chán đối với học sinh các cấp suốt mấy chục năm nay, mà nếu không giải quyết từ căn bản, sẽ chẳng bao giờ tìm thấy lối ra, cho dù có tổ chức thêm hàng trăm cuộc hội thảo cũng vậy!

Xem bài “Về những vấn đề phương pháp luận…” của Phạm Xuân Nam trong cuốn Sử học Việt Nam trên đường phát triển, thấy tác giả có nêu mấy vấn đề “cần tiếp tục soi sáng” thêm, như “Mối quan hệ giữa nghiên cứu và trình bày lịch sử”, “Ngôn ngữ sử học”… (sđd., tr. 268). Hiện tôi chưa tìm được tài liệu nào của nhà sử học Việt Nam viết về ngôn ngữ sử học nên mãi đến nay vẫn còn chưa hiểu sâu về phong cách của ngôn ngữ sử học. Nhưng dù nó có phải là thứ ngôn ngữ khoa học đòi hỏi tính chuẩn xác và tính trung lập hay không, tôi vẫn dám chắc đó tuyệt đối không phải là thứ ngôn ngữ văn chương mạt sát kiểu “đào mồ cuốc mả” kẻ thù, hoặc giống những bài hịch văn kêu gọi quần chúng nổi loạn, mỗi khi cần đề cập những nhân vật lịch sử quen gọi “phản diện”, hoặc sự kiện lịch sử đã đi hẳn vào quá khứ!

Đã có thời gian khá dài, khi khảo cứu văn-sử, người ta đã mạnh miệng gọi vua Gia Long là “y”, là “hắn”…, thì chưa cần biết vua là người thế nào, cái lối trình bày lịch sử đưa vào sách vở như vậy chẳng khác nào vô tình giáo dục cho con người lòng thù hận, và thói trịch thượng đối với tiền nhân, hoàn toàn không phù hợp với đức tính chung nho nhã, lễ phép, khiêm cung của dân tộc Việt Nam, và cũng chắc chắn không có lợi cho sự nghiệp đào tạo thế hệ trẻ. Vì vậy, tôi rất thích lối nói công tâm nhũn nhặn của nhà sử học Pháp Philippe Devillers chuyên khảo cứu về lịch sử Việt Nam giai đoạn chiến tranh Việt-Pháp 1945-1954 mà ông thuộc “bên thua cuộc”: “Băn khoăn giữa một bên là ý thức tôn trọng sự thật và một bên là những tình cảm yêu nước thúc đẩy mình phải đồng tâm với đồng bào [Pháp], một nhà sử học Pháp làm sao có thể phân tích được một cách khách quan và sâu sắc một cuộc chiến tranh đã đối lập, từ 1945 đến 1954, hai đất nước mà với mình đều rất thân yêu, là nước Pháp và nước Việt Nam, nhất là khi ông ta [tức tác giả Devillers] biết rằng nếu chia phần lầm lỗi ra hai bên thì phần lớn lầm lỗi lại thuộc về phía chính đồng bào [Pháp] mình” (“Lời tựa”, sđd., tr. 5).      
                                                                                                                                                    Hết
(Theo Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, số 6-7 (104-105). 2013)

Thứ Hai, 1 tháng 2, 2016

Bài Xuân này xin hát quanh năm ...

Hôm nay 23 Tết rồi. Cái Tết nghỉ hưu đầu tiên của tôi, và cũng là năm đầu tiên con gái ăn Tết xa nhà. Không hiểu mọi người thế nào, còn tôi, Tết đến bao giờ tôi cũng thấy buồn buồn, nhơ nhớ vu vơ.... Nhớ một quá khứ hoa mộng đã qua và không bao giờ trở lại - "thanh xuân bất tái lai". Nhớ những người thân không còn trên cõi đời này. Rồi lại nghĩ đến những người không nhà cửa, không người thân, ngày Tết vẫn lang thang không nơi nương tựa, không chốn để trở về...

Thơ thẩn, tôi đi tìm những bài hát về mùa xuân của ngày xưa, và tìm được bài hát của Trầm Tử Thiêng qua giọng hát của Khánh Ly trong một băng thu âm từ trước năm 1975 mà ai đó - hẳn là một kẻ hoài cổ giống tôi - đã tốt bụng đưa lên. Bài cũ trước năm 1975, vậy mà tôi mới được nghe lần đầu. Và thật lạ, nhạc xuân nhưng giọng điệu của nó không tươi vui thánh thót, hoặc nhí nhảnh như nhiều bài nhạc xuân ngày nay (kiểu Tết, tết, tết tết đến rồi ...), mà lại trầm trầm, buồn buồn, giống tâm trạng của tôi.

Phải chăng đó là tâm trạng chung của nhiều trí thức sống ở miền Nam VN trước năm 1975, những người luôn nặng trĩu một ước mơ về một đất nước hòa bình, một dân tộc hạnh phúc, một đất nước phát triển, và cảm thấy buồn vì giấc mơ của mình cứ mãi chỉ là một giấc mơ? Tôi không hiểu, và có lẽ sẽ không bao giờ hiểu được. Chỉ biết, rõ ràng có một sự khác biệt về giá trị và về văn hóa giữa miền Bắc XHCN với miền Nam tự do, và giữa người VN miền Nam cũng như hải ngoại với người VN XHCN. Chắc chắn đây là kết quả của giáo dục, của tuyên truyền, của nền báo chí bị kiểm soát ...

Nhưng thôi, tôi đã đi quá xa rồi. Xin mời các bạn nghe bài hát ma quái này của Trầm Tử Thiêng về mùa xuân, một mùa xuân lẫn lộn vui buồn với những yêu đương vội vã của tuổi thanh xuân trong một cuộc chiến tranh khốc liệt ... "hát suy tôn ơn người dưới mộ/đã vui tay môi cười xong nợ".

Đau quá, VN ơi!
-------------
https://www.youtube.com/watch?v=1Ds-bJ3ZoOE

Bài Xuân này xin hát quanh năm
Bài Xuân này xin hát quanh năm
Đời vì nhau cho mãi còn đẹp
Tình vì nhau cho xuân còn hồng
Mùa Xuân nào bưng bã chân không
Cuộc tình đau với vạn ngày tròn
thành tuổi trời như mãi long đong

Hát say mê reo mời Xuân về
áo đua bay theo mùa hội hè
Tìm gặp đây lao xao tâm sự
chuyện thời xưa thời loạn ly
Hát suy tôn ơn người dưới mộ
đã vui tay môi cười xong nợ
đời mùa Xuân tìm mùa Xuân

Bài Xuân này xin hát quanh năm
hòng ru mờ giây phút thương tâm
Từ mùa Xuân tan trong lửa đạn
ngồi chờ tin anh em ngộ nạn
Vì đau buồn Xuân bỏ đi nhanh
Mặc đời đau kiếp người lận đạn
được mấy giờ vui cũng mong manh

Hát thương ru bên sầu xanh mộ
Hát đưa nhau khỏi đời mơ hồ
Rồi lửa mãi xuân xanh vô tận
Ngày bình yên, mặt trời lên
Hát ru hơ môi nàng góa phụ
cấy cơn mơ tháng ngày sa mù
Một thời xuân ! tình còn xuân !

Bài Xuân này xin hát quanh năm
Bài Xuân này xin hát quanh năm
Buộc đời nhau chia nhau mộng đẹp
tình là bao anh em chật hẹp
Gọi nhau về yêu nốt trăm năm
từ một đêm anh chị phải lòng
rực lửa tình qua phút vui chung

Ngửa đôi tay xin người quên sầu
Hát say mê như tình ban đầu
Vạn mùa xuân yêu thương không hẹn
mà còn xanh tình còn xanh
Hát đưa em theo về với người
Tuổi em xuân trong lòng lửa gọi
Đời thật Xuân ! tình thật Xuân !

Chủ Nhật, 31 tháng 1, 2016

The untold history of Vietnam (Khue's essay)



The Untold History of Viet Nam
            I am an international student who is studying in America. I come from Viet Nam and I have lived in my country for 18 years. In the eyes of foreigners, Viet Nam is known as a country that has been no stranger with wars. The history of Viet Nam is a long story. In   feudal times, the Vietnamese people had to wage several wars against the Chinese to protect its territory from  Chinese invasion.  In more recent times, there were the war against  the French colonists in the 19th century, and later the long and well-known war with the United States (known as the Viet Nam War by Americans).

             I have learned History for 10 years, from grade 3 to grade 12. For me, History is really an interesting subject because it helps me discover what happened in the past. Every nation has a  unique history which every citizen can be proud of. As a Vietnamese citizen I want to understand Vietnam’s  history and be proud to tell it to others. However, the more grown up I become,  the more I realize  that the history I learned in school   is incomprehensible,  especially  the war with the United States, known in America as the Vietnam War. I feel that some stories that happened in this period are hidden or ignored by the Vietnamese government. In this essay, I will narrate what I have learned about the Viet Nam War in my textbooks with other stories outside, the process of my self-awareness of the nature of this war, and my friend’s unanswered  questions  in the History and Civic Education classes.

            The Viet Nam War started in November  1955 and ended in April 1975, lasting  for about 20 years. It is said that the Viet Nam War is nearly similar to the Korean War which happened in the same period, both of which receiving the involvement of the United States. The Viet Nam War has been taught repetitively three times in the History curriculum in Vietnam: at grade 5, grade 9, and grade 12. What I have learned about the Viet Nam War is that it is the war against the invasion of Vietnam by American imperialists after the withdrawal of the French colonists. America occupied South Viet Nam, and the Vietnamese people had to stand up to liberate the South to unify their    nation. Moreover, the government of South Vietnam (officially known as the Republic of Vietnam, shortened as RVN) is referred to in our History textbooks as  “Nguyquan – Nguyquyen” (puppet army – puppet government) – a scornful name for    government of RVN” which  America helped set up. When I was in elementary and junior high schools, I used to totally believe in what I learned about this war. I used to think that America is Vietnam’s most sinister enemy. I was very proud of my country’s history because there were many glorious victories. A poor and small country as Vietnam is, we  courageously fought against and defeated the world’s most powerful country, America. Not until when  I was in grade 5 that I started to recognize something was wrong in what I was taught about the Viet Nam War. At that time, I had to learn by heart all the details in the Viet Nam War to pass the final exam in History, and I asked my mother to check that if I had  memorized everything. I noticed that  my mother seemed to be bothered  or even hated what I was telling to her. I could not explain my mother’s behavior;  I just guessed  that she did not want me to learn History by memorizing without real understanding.

            When I grew up, I began to hear some stories outside my textbooks about the Viet Nam War. I heard them from my mother, my father and other elders about the many people who left their motherland at any cost to live in other countries after the Viet Nam War; these people were called the Boat People. The Boat People used a small and primitive boat to go through ocean, and many people died for starving, shark attacks, and pirates. Furthermore, I continuously heard about the re-education camps where officersand soldiers who worked under for the army and the government of the Republic of Viet Nam had to join in after the war ended. Some people went to the re-education camp and never came back; they had died in the camp for various reasons, sometimes  mysteriously. It is said that the re-education camp is similar to a prison. These camps were to   punish those people who were considered the losers. However, these stories which I heard from people around me cannot be found  in my textbook or in any official sources. Moreover, I was told stories from my mother about our family. My family lived in Sai Gon under the Republic of Viet Nam. My grandfather was an officer who worked for the RVN government. My mother told me that after April 30th 1975, my grandfather lost his job, and my mother and other members in the family had difficulty in being admitted  into  universities because of the family’s background. Right before the fall of Saigon,  the United States had a policy to evacuate some Southern Vietnamese people who worked for the government to runaway as  political refugees, and two members in my family left Viet Nam at  the age of 20s to live in America. Since that time, I was aware that my family belongs to  the  losing side. I even understood why my mother was irritated when listening to what I was taught  and  believed in about the Viet Nam War. The reason is that in the textbook the Republic of Viet Nam is depicted as really barbarous and treasonable, America was crafty, and the only judicious side was the Northern Vietnamese government.

            Then one time, I saw a photo album of Sai Gon before 1975. The old Sai Gon was a combination of vintage and modern beauty: many English nameplates and automobiles in the downtown area, a bunch of tamarind trees along the streets… Vietnamese women wore a glamourous traditional costume – “ao dai”, while army officers and the government officials wore elegant western suits. In this album I was impressed by a photo of a traffic jam in downtown Sai Gon. There was no chaos  but a queue of vehicles  awaiting their turn to move.This is really different from Sai Gon nowadays. I really like this album and became attracted with the worth of the old Sai Gon. Even more, I also watched a cultural exchange talk show between southern Vietnamese artists and  Americans. They communicated with each other in a friendly and respectful way. Besides, I learned that the Republic of Viet Nam  was a really developed region in South East Asia  in many aspects, from food production to education and sports, especially soccer. Many images and information that I learned about Sai Gon contrasted with the image in my textbook. Gradually, I began to asked myself  if the Republic of Viet Nam and the Americans were really as  bad and as crafty as  I was taught. Also I began to find  out that the Viet Nam War is not just a war against the colonialism and imperialism, and the Vietnamese government seems to distort the history.

            Indeed, I really opened my eyes to the nature of the Viet Nam War when I was in senior high school. This time I was in grade 10 and I had to learn about World History. My History teacher was a middle-aged woman so there were not many activities during class time. Therefore, I and other students usually felt sleepy whenever the History class was coming. I was taught so many things about  World History but I  only remember World War I,  World War II, the industrial revolution in England, the Renaissance, and the reason why the Soviet Union disbanded. I have not been able to remember the advent of the Communist International, the movement of labor, the Russian October Revolution, and so forth. Actually, I did not deliberately forget these historical details but the method to study History by memorizing in Viet Nam just created a short-term memory that I could use to tackle the exam and then the knowledge was all gone. I memorized the knowledge mechanically even when I did not understand it. The History class in grade 10 was a nightmare to me. 

            However, the only thing that I always remembered about this class was the unanswered  questions by a friend of mine. He was a kind of clever person and good at English. Once, during a History class, my teacher mentioned the topics of communism and the Viet Nam War, and my friend asked: “Dear Teacher, let’s suppose that the Republic of Viet Nam was not defeated by the North Viet Nam. So what would happen  with Viet Nam nowadays?” “Will Viet Nam become a divided country, the same as Korea or will Viet Nam will become a capitalist country?” In addition, in Civic Education class, I also learned about communism and capitalism and my teacher always said that communism was the best ideology. Then my friend also asked the question that had similar idea with the question in History class. He said: “If  communism is the best ideology then why are there  just only four countries that chose  communism in the world today?” He wanted to know  whether there were other options for the political system in Viet Nam except communism, and why Viet Nam cannot have many political parties  like America or other countries. This was really an interesting question. He was the only student who doughtily spoke his mind   in public. Both of my friend’s questions in the History and Civic Education classes were not answered  honestly. These  teachers tried to vindicate the government system and considered his questions as rebellious and not patriotic . But  my friend’s questions helped me figure out that the history  I have learned is not clear and not totally true. There are many stories outside textbooks which have evidence but cannot be found  in textbooks or ever mentioned  by the government. There are questions that are not responded to and even not encouraged to ask. Why does the Vietnamese government try  to keep silent about these stories and seem to tell lies  to  young generations? 

            I consider myself really lucky to be able to study abroad in America. I have more opportunities to research information to find  the truth about  the Viet Nam War, which I can never do in Viet Nam because many websites and news broadcasts from overseas are not accessible, due to the tight control of information by the government. In the previous semester, I learned about the history of America after 1877 and it contained details of the Viet Nam War. After 10 years I believe I can understand the nature of the Viet Nam War more thoroughly. This war happened during the Cold War era, a bad consequence of World War II. The Cold War era divided the world into two zones - capitalism and communism, each of which was led by a then superpower:  America and the Soviet Union.  There were three countries where both of those two opposing ideologies existed: East and West Germany, North and South Korea, and North and South Viet Nam. Therefore, the Viet Nam War is not simply the war against colonialism and imperialism as  what the Vietnamese government tells their people,  but it is actually  the war between two ideologies which caused  the Cold War. The involvement of America in the Viet Nam War is not as an imperialist but as an ally who supported for the freedom and independence of the Republic of Viet Nam. The Vietnamese people are always told  that  Americans were cruel, they bombed the North Viet Nam, and caused the Agent Orange syndrome. However, we  need to understand that the nature of war is violent. If we consider the American perspective, we  will see that  the United States had to waste a lot of money, and American soldiers had to fight and sacrifice in a strange country  far away from their motherland. And the profit that America could gain, if any, is really as little  as nothing. 

            Napoleon Bonaparte once said “History is a set of lies agreed upon”. And Winston Churchill  stated that “History is written by the victors”. I wanted to know if the history of Viet Nam records true stories or just artificial stories made by the government. I do not know why the Vietnamese government or Vietnamese people hide the true fact of the Viet Nam War even though they know it. Are Vietnamese people  afraid to say it to the young generations or afraid that other people in other countries know what really happened? What is the real meaning of history and the method of learning and teaching this subject? Those are questions that haunt me now, and I know I will try my best to dig out the truth to have those questions answered.

Thứ Bảy, 30 tháng 1, 2016

Gạc Ma. Đêm ấy. Ta đau ...

Và niềm đau vẫn cứ mưng mủ lở loét cho đến tận bây giờ ....

Không, niềm đau của tôi không chỉ vì mất đảo. Tôi đau nhiều hơn vì hồi ấy, năm 1988, là một người dân của TP HCM rực rỡ tên vàng, một trí thức trẻ đang giảng dạy tại ĐH Tổng hợp đầy truyền thống cách mạng, mà tôi hoàn toàn không biết gì về những nỗi đớn đau cay đắng xảy ra cho những người lính giữ biển giữ đảo cho quê hương. Tôi không biết, không phải vì tôi không muốn biết, mà vì toàn bộ dân Việt đã bị tước mất quyền được biết về những gì đang xảy ra trên tổ quốc của mình. Để mãi đến bây giờ niềm đau ấy mới được len lén thừa nhận, rụt rè bộc lộ ra. Như trong những bài thơ này.

Uất nghẹn quá! Tôi không còn lời gì để nói thêm nữa.

Xin chia sẻ với các bạn đọc chùm thơ về Gạc Ma đăng trên Tuổi Trẻ hôm nay. Và cám ơn TT đã rụt rè, len lén đăng những bài thơ ấy lên để nói lên cảm xúc của những người dân Việt như tôi.

(Có nhiều không, những người đang đau cái đau Gạc Ma giống như tôi, nhỉ?)

http://tuoitre.vn/tin/van-hoa-giai-tri/20160131/gac-ma-dem-ay-ta-dau-bien-khong-xanh-nua-chi-rau-rau-tang/1047352.html
---------
Gạc Ma sau đêm ấy
(Kính tặng 64 chiến sĩ đã ngã xuống năm 1988)
 Gạc Ma. Đêm ấy. Ta đau Biển không xanh nữa, chỉ rầu rầu tang Một con tàu cuối vỡ tan Một vầng trăng cuối, đang nhàn nhạt. Trôi
Sau đêm hôm ấy. Ta thôi Không còn tin chuyện xa vời viển vông Đảo này đảo của cha ông Bao nhiêu máu đã nhuốm hồng mắt đêm?
Bạn đi. Đau tuổi. Đau tên Không hồn. Chẳng vía để lên Niết Bàn Tiếng con thơ. Xé không gian Mẹ không khóc được. Chỉ giàn giụa thôi!
Gạc Ma. Đêm ấy. Ta trôi Theo màu cờ đỏ có đôi nhạn hồng Sáng thăm thẳm. Chiều mênh mông Xin về đây ngọn gió đồng hôm xưa Gọi hồn lính trẻ trong mưa Bềnh bềnh con sóng... Ai vừa thả hoa
Sau đêm hôm ấy. Ta xa Chiếc giường ọp ẹp vợ ta vẫn nằm Ở đây làm gió, làm trăng Giữ yên cái cõi xa xăm... Bạn về!

LÊ HÒA


Màng nhện
Tôi bảo này gió ơi, Ở chỗ này có cái màng nhện Cái màng nhện nhỏ thôi Chắc là của con nhện nhỏ Nó một mình dệt tối hôm qua Màng dệt xong mà không thấy nó  Chắc không ưng nên nó bỏ đi rồi Cái màng nhện trông chừng buồn bã Mới tinh khôi đã hoang phế vội vàng Gió đung đưa hãy đung đưa khẽ nhé Kẻo vô tình làm rách cả hoa văn Tôi bảo này nắng ơi, Ở chỗ này âm thầm quạnh quẽ Sương đêm còn u uẩn đường tơ Nắng hãy ngó vào đây một tí Sự lãng quên sẽ tan biến tức thì Mỗi ô trống sẽ lấp đầy ngọc quý Giữ cho bền một sáng tác phù du Tôi sẽ lặng yên ngắm nhìn thật kỹ Biết đâu kiếp nào tôi hóa nhện thờ ơ.

NGUYỄN THỊ HẢI


Người xa quê có nhớ làng
Đan mùa xuân ở khắp trời Con chim én nhỏ như người phương xa Trở về có mỗi mình ta  Người phương xa, người phương xa có về...
Gửi theo chim én lời thề Gửi theo cả cỏ bờ đê trăng vàng Người phương xa có nhớ làng Cỏ bờ đê với trăng vàng vẫn đây
Người phương xa biết Tết này Trở về lá cỏ trên tay đêm nào Trăng bờ đê vẫn ngọt ngào Cỏ bờ đê vẫn đan vào nhớ thương
Đan thành tấm áo trong sương Có bao nhiêu nỗi vấn vương không về Gửi theo chim én lời thề Gửi theo cả cỏ bờ đê trăng vàng
Người phương xa có nhớ làngCỏ bờ đê với trăng vàng ở đâu ?!

NGUYỄN HƯNG HẢI

 
LÊ HÒA - NGUYỄN THỊ HẢI - NGUYỄN HƯNG HẢI



Thứ Sáu, 29 tháng 1, 2016

Nhà Việt Nam yêu dấu ơi ...

Nhà VN yêu dấu ơi, bao giờ thanh bình? 

Câu hỏi da diết ấy là câu cuối của bài hát Đêm nguyện cầu, một bài hát ra đời trong cuộc chiến dai dẳng thảm khốc giữa hai miền Nam Bắc trước năm 1975..

Tôi nhớ lại bài hát này khi tự dưng có ai đó đưa nó lên facebook.

Bài hát này đối với tôi không xa lạ. Tôi đã nghe nó rất rất nhiều lần thời cuộc chiến còn đang diễn ra - một bài hát với giai điệu buồn quay quắt và ca từ thật da diết.

Nghe bài hát vào thời trẻ (chỉ mới học cấp hai), con người mau nước mắt của tôi thời ấy thế nào cũng rơm rớm, nghĩ tới những người lính trẻ chết trận mà thỉnh thoảng đám tang của họ lại được tổ chức ở nhà thờ ngay trước cửa nhà tôi.

"Rưng rưng tôi chắp tay nghe hồn khóc đến rướm máu .... Nghẹn ngào cho non nước tôi muôn vàn u sầu ..." Lời ca thật xót xa, và với tôi, những lời ấy hoàn toàn chính xác chứ không hề là lời hoa mỹ mà sáo rỗng như nhiều bài hát mà hiện nay tôi vẫn nghe nhai nhải bên tai.

Nhưng cuộc chiến nào rồi cũng chấm dứt, và cuộc chiến ấy kết thúc đến nay đã hơn 40 năm. Bài hát cũng rơi vào quên lãng, hoặc đúng hơn, nó không bị quên mà bị chôn rất sâu trong ký ức, để chỉ đến khi có dịp nó mới được khơi dậy.

Chẳng hiểu với tâm trạng gì và ẩn ý gì mà hôm nay có người đưa lên fb. Nghe lại, vẫn thấy rưng rưng. "Quê hương non nước tôi ai gây hận thù, tội tình ..." Thương đất nước, và thương thân phận của từng người VN quá. Một tương lai mờ mịt...

Thượng đế hỡi có thấu cho người dân Việt???
 ------
Mời các bạn nghe bài hát ở đây:

https://www.youtube.com/watch?v=_e9Mc7e0BDM



Thứ Tư, 27 tháng 1, 2016

Viết vụn cuối năm Mùi

Buổi tối sau khi Đại hội 12 của Đảng CSVN kết thúc với thắng lợi không chút bất ngờ của một người nổi tiếng giáo điều và kiên định với lý tưởng Mác - Lê, và sự ra đi dường như khá hụt hẫng của một người được đa số những người VN mơ mộng cho rằng sẽ đem lại những thay đổi cho đất nước trong nhiệm kỳ tới, tôi đọc được qua các dòng status của bạn bè chút lo lắng về vận mệnh đất nước trong những ngày tới.

Tôi cũng đang ở trong tâm trạng băn khoăn như thế. Thật bất thường, năm nay trời miền Bắc lần đầu tiên có những nơi tuyết phủ trắng xóa trên đồng, trâu bò chết như rạ, người già trẻ em áo rách chân trần môi tím tái - thật không khác cảnh tượng của nông thôn miền Bắc trong các tác phẩm Lão Hạc của Nam Cao hay Nhà mẹ Lê của Thạch Lam cách đây cả gần thế kỷ. Nhìn xung quanh thì hàng TQ độc hại đầy rẫy, từ trái cam, trái táo, mớ rau, hạt gạo, cái tăm xỉa răng, đến áo lót, quần đùi, tất len, rồi giầy dép, túi xách, đến điện thoại, TV, tủ lạnh ... tất tần tật đều hàng TQ. Và ngoài Biển Đông kia thì ngư dân liên tục bị đâm chìm tàu, bị xịt vòi rồng, bị mất ngư trường truyền thống, chưa kể thỉnh thoảng bị cướp tàu, bị đánh đập, bị giam cầm, bị bắn chết ... và phản ứng của nhà nước Việt Nam luôn luôn chỉ là vài lời phản đối yếu ớt chiếu lệ.

Nhưng trong số các comment bên dưới một status đầy tâm trạng băn khoăn như vậy, tôi nhặt được một lời phản đối mạnh mẽ: "Hãy nhìn vào mặt tích cực của VN đi! Không thấy bộ mặt nông thôn VN đã thay đổi rất nhiều hay sao?"

Comment ấy khiến tôi nhớ lại những cuộc nói chuyện với những người tài xế taxi trên đoạn đường dài từ sân bay Nội Bài đến Hà Nội và ngược lại trong những chuyến công tác gần đây của tôi. Rất nhiều khả năng anh tài xế trẻ đang chở bạn là con cái của một gia đình nông dân vừa mất đất. Giọng nói, cử chỉ và phong cách của anh ta bộc lộ điều này. Well, nói là mất đất cũng không đúng hẳn; gia đình anh ta chắc đã được đền bù với một số tiền có thể là quá lớn đối với thu nhập từ nông nghiệp, nhưng cũng quá ít ỏi đến độ không là gì cả để chuẩn bị cho một cuộc sống nơi đô thị khi họ không học hành bao nhiêu, nghề nghiệp kiếm sống duy nhất của họ là nghề nông nhưng giờ đây họ không còn đất.

Số tiền đền bù tưởng là to khi họ được nhận, đã được tiêu một cách phung phí vội vã cho bõ những ngày tằn tiện kéo dài cả cuộc đời. Rồi sau ít ngày ăn chơi thỏa thích, họ bàng nhận ra rằng họ đã bị bứng hoàn toàn khỏi cội rễ, không còn đất đai cũng không nghề nghiệp để kiếm sống, và những ngày cơ cực sấp ngửa tìm kế sinh nhai lại bắt đầu. Những làng quê êm ả đã tồn tại ngàn năm nay giờ mất đi, thay vào đó các chung cư cao tầng với giá bán cao ngất ngưởng với những căn hộ đầy đủ tiện nghi nhưng rất có thể vẫn còn bỏ trống không có người ở. Vâng, bộ mặt nông thôn đã thay đổi như thế đấy.

Tôi lần sang fb của người viết comment ấy. Một cô giáo có lẽ dạy cấp 3 ở một tỉnh phía Bắc, tuổi chừng trên dưới năm mươi, trên fb toàn những tấm hình đứng cười làm duyên khoe áo mới, rồi những tấm hình "lễ" khai giảng năm học, họp tổng kết học kỳ, lễ kết nạp Đảng viên mới, hội diễn văn nghệ vv. Tôi cảm nhận rất rõ một người có lẽ sẽ được hệ thống đánh giá cao: tuyệt đối tin tưởng vào hệ thống và chấp hành mọi mệnh lệnh của cấp trên, chu toàn mọi nhiệm vụ được giao (dù là những việc vô bổ như trên). Tuyệt nhiên không thể tìm thấy chút dấu vết của sự trăn trở về giáo dục, về tình hình chính trị của đất nước. Chỉ thấy rõ một thái độ vô tâm, vô tâm và vô tâm... À, có lẽ có cả vô cảm nữa.

May quá, người ấy không nằm trong friendlist của tôi. Và sẽ không bao giờ là friend trong friendlist.

Tôi vừa block cô giáo ấy rồi, mà chẳng hiểu tại sao.