Thứ Hai, 7 tháng 7, 2014

Phải chăng Marx chống lại tự do báo chí?

Câu hỏi trong tựa của entry này không phải của tôi, mà là một phần tựa gốc của bài báo ngắn bằng tiếng Anh cách đây gần 2 năm của tác giả Brendan O'Neill đăng trên tờ The Telegraph của Anh. Có thể đọc toàn bài ở đây: http://blogs.telegraph.co.uk/news/brendanoneill2/100191832/marx-hated-press-freedom-er-i-dont-think-so-he-was-its-most-passionate-champion/.

Vì đang quan tâm đến tự do báo chí, đặc biệt là từ đầu tháng 5, ngày báo chí thế giới, tình cờ tìm được mấy bài viết của chính Karl Marx viết về tự do báo chí (mà tôi đã giới thiệu một chút trên blog này) nên dù đang bận nhưng tôi cũng phải bỏ chút thời gian ngồi đọc và viết tóm tắt để lưu lại cho mình và chia sẻ với các bạn. Vậy thì đây, tóm tắt những điểm đáng lưu ý về bài báo.

Theo tác giả, ai cho rằng Marx ghét tự do báo chí thì người ấy quả là dốt nát về lịch sử. Không những không ghét, Marx còn là người ủng hộ tự do báo chí một cách hết sức nhiệt thành. Ông đã từng thú nhận rằng tự do báo chí là điều kiện căn bản mà nếu không có nó thì con người không thể tồn tại một cách đầy đủ, hoàn thiện và thỏa mãn.Ông cũng tỏ ra kinh ngạc khi thấy có một số người có thể hưởng thụ cuộc sống cho dù điều kiện sống của họ hoàn toàn không có tự do báo chí. (Xem đoạn trích tiến Anh bên dưới.)

Marx confessed his love for press freedom: "I feel that its existence is essential, that it is something which I need, without which my nature can have no full, satisfied, complete existence." He marvelled at the ability of some people, particularly those in authority, to "enjoy a complete existence even in the absence of any freedom of the press".

Tất nhiên, tự do báo chí không phải là hoàn hảo. Cũng có những điều bất tiện và bất lợi, nhưng theo Marx thì "ta không thể đòi hưởng những ưu điểm của một nền báo chí tự do mà lại không chấp nhận những điều bất tiện của nó. Không ai có thể hái được hoa hồng mà không chạm phải gai!" (Trích dẫn phía dưới.)

Of course the press is not perfect, Marx said – but "you cannot enjoy the advantages of a free press without putting up with its inconveniences. You cannot pluck the rose without its thorns!" Those wise words should be borne in mind by all those who now want to "clean up" the press and get rid of the bad bits of it. 

Bài báo kết thúc bằng phần trích dẫn dài những gì Marx đã viết về tự do báo chí, đoạn mà tôi cũng đã từng trích trong bài giới thiệu của tôi trên blog này. Tác giả cho rằng đoạn trích ấy là lập luận hay nhất và mạnh mẽ nhất đã từng được viết ra để ủng hộ tự do báo chí.

Xin trích lại:

Báo chí tự do là con mắt có mặt ở khắp nơi để giám sát linh hồn của mỗi dân tộc, là hiện thân của niềm tin  vào chính mình của dân tộc ấy, là mối liên kết mạnh mẽ kết nối mỗi cá nhân với nhà nước và với thế giới, là hiện thân của một nền văn hóa có khả năng biến đổi cuộc đấu tranh vật chất thành cuộc đấu tranh trí tuệ và lý tưởng hóa hình thức vật chất của nó. Đó là lời thú tội thẳng thắn của một dân tộc với chính mình, và ai cũng biết sức mạnh cứu rỗi của việc thú tội là như thế nào rồi. Đó cũng là tấm gương tinh thần trong đó một dân tộc có thể nhìn thấy chính mình, và việc tự xem xét chính mình điều kiện đầu tiên của sự khôn ngoan. Đó là linh hồn của nhà nước, có thể được đưa vào dưới mỗi mái nhà, và rẻ hơn so với khí than. Nó toàn diện, có mặt ở mọi nơi, và toàn trí. Nó là thế giới lý tưởng luôn tuôn trào từ thế giới thực và chảy trở lại vào trong thế giới đó với những của cải thiêng liêng to lớn hơn nữa làm đổi mới tâm hồn của thế giới này.

Nếu vậy, thì tự bao giờ và tại sao, tất cả các nước cộng sản đều không có tự do báo chí? Ở các nước này, hoàn toàn không có báo chí tư nhân, nhà báo phải chịu kiểm soát chặt chẽ, việc cấp thẻ khá khó khăn, hạn chế, từng bài báo phải chịu kiểm duyệt - mà đa số đã được tự kiểm duyệt trước đó - và tổng biên tập của mọi tờ báo đều phải là đảng viên (nếu thông tin của tôi là đúng), chịu nhiều ràng buộc vì tư cách đảng viên của mình (phải tuyệt đối phục tùng cấp trên và trung thành với tổ chức).

Tại sao, tại sao? Xin dành câu trả lời cho những người có trách nhiệm. Và thêm một câu hỏi trong danh sách những câu hỏi lớn không lời đáp của chúng ta, "thuở đất nước của Hùng Vương có Đảng ...".

Biết đến bao giờ mới có câu trả lời đây?

Chút thoáng xuân hương ...

"Chút thoáng xuân hương" là tựa một truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp, nhưng tôi muốn dùng nó để đặt cho entry này, vì không hiểu sao lại thấy nó rất phù hợp. Ừ thì Đà Lạt có Hồ Xuân Hương, mà Xuân Hương lại là một nữ thi sĩ rất nổi tiếng của VN. Mà mỗi lần đến Đà Lạt thì cũng chỉ hiểu được chút thoáng vẻ đẹp của nó, dù chỉ là một chút một thoáng thì cũng đã đủ để ngẩn ngơ rồi. Vâng, tôi đã đến thăm Đà Lạt nhiều lần nên không còn sự háo hức của lần đầu, nhưng quả thật lần này đi xong thì lại thấy mình vẫn còn quá nhiều thứ để tìm hiểu về thành phố mộng mơ này, và sẽ còn trở lại với nó thêm nhiều lần nữa..

Nhưng thôi, một entry như thế này thì không cần viết dài dòng, mà hãy để cho những tấm hình tự nó nói lên câu chuyện về Đà Lạt. Chút thoáng xuân hương ...



.





Ở sân bay Liên Khương



Đường về Osaka Resort, gần Hồ Tuyền Lâm

Đây, Osaka Resort


Thông xanh ở khắp nơi

Bên Hồ Xuân Hương

Màu chủ đạo của cafe Thanh Thủy

Buổi chiều trên Hồ Xuân Hương

Ngắm mây vàng trên đầu dốc

Dalat Nights. quán cafe ở gần Osaka Review, được xem là nơi có view đẹp nhất thành phố

Đà Lạt buổi chiều tà
Hoàng hôn
Buổi tối ở khu nhà nghỉ
Ấm cúng ánh đèn vàng

Dưới kia là thành phố ...
Buổi sáng trên thành phố ngàn thông


Vườn hồng
Hoa bìm bìm






Thứ Bảy, 5 tháng 7, 2014

Biển Đông: Sự thật, hòa bình, và công lý



Biển Đông: Sự thật, hòa bình, và công lý
Vũ Thị Phương Anh
Đã hơn 50 ngày kể từ ngày Trung Quốc hạ đặt trái phép giàn khoan HYSY 981 trên vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam trên Biển Đông.Trong suốt thời gian này, tất cả mọi người Việt Nam đều một lòng thao thức với từng sự kiện lớn nhỏ diễn ra ngoài vùng biển ấy.

Dõi theo những gì đã và đang xảy ra, có thể thấy rõ những biến đổi trong các cung bậc cảm xúc của người dân Việttrong mấy tuần qua.Dù rất căm phẫn khi thấyvùng biển của tổ quốc bị xâm phạm, các tàuđánhcávà tàu kiểm ngư của Việt Nam bị xịt vòi rồng, bị đâm thủng;cảnh sát biển và ngư dân bị thương tích và cả người bị thiệtmạng, nhưng người dân đã phấn chấn và đầy hy vọng trước những phản ứng mạnh mẽcủa các nhà lãnh đạo Việt Nam, đặc biệt là lời tuyên bố của Thủ tướng rằng Việt Nam đang chuẩn bị hồ sơ kiện Trung Quốc ra tòa án quốc tế. 

Những cảm xúc tích cực ấy sau đó nhanh chóng biến mất mà thay vào bằng những cảm xúc tiêu cực trước những tình huống xấu.Tại Hội nghị Shangri-La, phát biểu của Bộ trưởng quốc phòng Việt Nam về quan hệ tốt giữa Việt Nam và Trung Quốc đã khiến nhiều người bất bình và nghi ngại, e rằng nhà nước Việt Nam sẽ tiếp tục chính sách ngoại giao đầy nhân nhượng lâu nay. Liền sau đó, Trung Quốc bất ngờ gửi  thư đến Liên hiệp quốc với nhiều “bằng chứng” về việc Việt Nam đã “công nhận” Hoàng Sa và Trường Sa là của Trung Quốc. Những bằng chứng này không chỉ có công hàm ngoại giao năm 1958, mà còn có cả bản đồ và sách giáo khoa ghi rõ hai quần đảo này là thuộc về Trung Quốc.Bàng hoàng, thất vọng và cả mất niềm tin vào chính nghĩa của Việt Nam, đó có lẽ là cảm xúc của người dân khi lần đầu tiên tiếp cận với những thông tin mà từ trước đến giờ vẫn thuộc loại tuyệt mật đó. 

Rồi gần đây nhất là sự kiện Trung Quốc rầm rộ kéo thêm 4 giàn khoan mới vào Biển Đông, ngay khi đang có cuộc gặp gỡ cấp cao lần đầu tiên giữa hai nước sau sự kiện giàn khoan HYSY981. Mục đích của cuộc gặp, mỉa mai thay, dường như chỉ là để Trung Quốc “răn đe”, “dạy bảo” Việt Nam, vì sau cuộc họp đó báo chí Trung Quốc đã đưa tin đầy xúc phạm rằng tại cuộc họp này ông Dương Khiết Trì đã kêu gọi “đứa con hoangđàng” là Việt Nam hãy quay đầu hối cải. Một hành động vừa khiêu khích, vừa giằn mặt vừa sỉ nhục của Trung Quốc đối với Việt Nam, chỉ có thể nói là như thế.

Những động thái của Trung Quốc trong thời gian qua cho thấy nước này không định dừng lại ở vài giàn khoan dầu, mà đang rắp tâm thực hiện âm mưu độc chiếm Biển Đông mà họ đã lập kế hoạch từ cách đây hơn nửa thế kỷ. Một sự ngang nhiên thách thức cuả kẻ thù đối với kẻ xâm lược, buộc mỗi người Công giáo phải tự hỏi mình, tôi phải làm gì đây để biểu lộ lòng yêu nước, để thực hiện lời kêu gọi của Hội đồng Giám mục Việt Nam trong bức thư ngày 9/5/2014?

Ngay từ những ngày đầu tiên khi tình hình Biển Đông có biến động, những cảm xúc sục sôi đã buộc tôi phải hành động, vì làm sao có thể ngồi yên? Dù có những e ngại, tôi đã tham gia cuộc biểu tình ngày 11/5 với cảm xúc mãnh liệt nhất, đã hô to đến khản tiếng những khẩu hiệu chống Trung Quốc xâm lược, và sẵn sàng tinh thần tham gia những lần kế tiếp nếu việc biểu tình không bị trấn áp sau những vụ bạo loạn của công nhân.Tôi theo dõi tin tức hàng ngày về diễn biến trên Biển Đông rồi viết thành một mẩu điểm tin ngắn, vừa để chính mình có thông tin vừa chia sẻ rộng rãi để mọi người có thể nắm tình hình một cách đầy đủ và nhanh chóng. Để lưu lại những thông tin đáng lưu ý, tôi lập hẳn một trang blog để sưu tập, dịch, tổng hợp và lưu lại các về Biển Đông, dù các lĩnh vực có liên quan đến vụ tranh chấp ở Biển Đông như quan hệ ngoại giao hoặc công pháp quốc tế không phải là lãnh địa chuyên môn của tôi, khiến đôi khi tôi mất khá nhiều thời gian để tra cứu.

Với những việc không ai ép buộc như vậy, những ngày qua là những ngày bận rộn nhất trong cuộc đời làm việc của tôi, vì vẫn phải đảm đương những công việc thường nhật vừa cố góp phần vào cuộc chiến trên mặt trận truyền thông của Việt Nam. Những nỗ lực của tôi không phải là không có kết quả. Số lượng người đọc thông tin trên trang Biển Đông tăng lên hàng ngày; bạn đọc không chỉ đến đọc cho biết rồi đi, mà còn góp ý, tranh luận, và thậm chí tự nguyện tham gia dịch thông tin đóng góp cho trang blog. Nhiều thông tin vềchủ quyền biển đảo Việt Nam, cả lịch sử, địa lý và cả pháp lý mà nhà trường phổ thông cho đến nay vẫn chưa chú trọng đầy đủ, đã được tập hợp lại sẵn sàng để bất cứ ai cần cũng có thể đọc, và chúng đang bắt đầu được đọc. Có lẽ đã hơi muộn, nhưng muộn còn hơn không.  

Với những kết quả nho nhỏ ấy, lẽ ra tôi phải thấy hài lòng vì tôi đã làm hết sức. Nhưng không hiểu sao dù cố gắng thật nhiều nhưng tôi vẫn không thể hài lòng, mà vẫn mang nặng cảm giác đau đớn và đôi khi  tuyệt vọng rằng những điều mình làm chỉ là “dã tràng se cát”. Rồi sẽ chẳng có gì thay đổi đâu, mọi việc rồi sẽ tiếp tục theo quỹ đạo đã vạch sẵn mà thôi. Có lẽ tôi chỉ đang cố làm cho mình bận rộn để không phải nghĩ thêm về những gì đang diễn ra, chứ chẳng phải là tôi có niềm tin vào ý nghĩa của những việc mình đang làm. Viễn cảnh của xung đột Biển Đông đối với tôi thật quá mờ mịt.

Mong tìm được chút ơn soi sáng, tôi bỏ một ngày cuối tuần để đọc lại và suy nghĩ về bức thư kêu gọi của Hội đồng Giám mục Việt Nam. Bức thư này tôi đã đọc kỹ khi nó vừa được đưa ra, và ngay khi ấy tôi đã có thoáng chút băn khoăn về lời khẳng định lập trường hòa bình, phản đối chiến tranh của Giáo hội Công giáo. Vâng, chúng ta cần hòa bình, nhất là khi nền hòa bình đó “không tách rời những đòi hỏi về công lý, được nuôi dưỡng bởi […] sự khoan dung và tình yêu”[1]. Nhưng liệu có đòi hỏi hoặc mong đợi những điều này được không ở nhà cầm quyền Trung Quốc, những kẻ mà sự gian trá, ngược ngạo, và bá quyền nước lớn dường như đã trở thành bản chất? Làm sao tôi và những người Việt Nam khác có thể khoan dung và yêu thương những kẻ xâm chiếm đất nước và giết hại đồng bào của chúng tôi? 

Nền hòa bình dựa trên công lý như Giáo hội đòi hỏi rõ ràng vô cùng khó, và có thể nói là không tưởng khi xét trong mối quan hệ cụ thể và phức tạp giữa Việt Nam và Trung Quốc gần một thế kỷ qua. Trong bối cảnh đất nước đang bị xâm lấn, một lời kêu gọi hòa bình nghe rất giống lời kêu sự nhân nhượng, chấp nhận bị đè ép và xâm lấn mà không phản kháng để “không ảnh hưởng đến đại cục” – như những gì đang diễn ra tại Việt Nam. Là một người Công giáo – dù tôi rất hổ thẹn thú nhận rằng mình không phải là một con chiên ngoan đạo – lẽ nào tôi có thể khoanh tay đứng nhìn và chờ xem,vì “đã có Đảng và Nhà nước lo”, như người ta hay nói ở Việt Nam? Lương tâm của một con người, một công dân và một giáo dân Việt Nam không cho phép tôi có thái độ đó. Nhiều ngày hoang mang, mất phương hướng trôi qua, nhưng tôi biết mình phải kiên trì tiếp tục tìm hướng đi cho mình, để có thể có vững tâm tiếp bước.

Dọ dẫm tìm đường, tôi đọc lại các sứ điệp hòa bình của các vị Giáo hoàng, và chú ý đến các Sứ điệp hòa bình năm 1972 [1], 1973[2], 1974[3] của Đức Phaolô VI vì tên gọi của chúng dường như có thấp thoáng hình bóng của một thông điệp cho chính tôi


Sứ điệp hòa bình năm 1972 khẳng định“nếu bạn muốn hòa bình, hãy hoạt động cho công lý”. Sứ điệp bình năm 1973 động viên chúng ta rằng “hòa bình là có thể”. Sứ điệp 1974 kêu gọi “hòa bình cũng tùy thuộc vào bạn nữa” Vâng, với niềm tin, tôi hy vọng mọi việc sẽ diễn ra như các sứ điệp hoà bình đã nêu. Trong xung đột ở Biển Đông, giải pháp hòa bình là đưa vụ việc ra tòa án quốc tế. Nếu nhà nước Việt Namkiên quyết kiện Trung Quốc như Thủ tướng đã từng tuyên bố, có thể chúng ta sẽ đòi được chủ quyền ở Biển Đông bằng con đường hòa bình. Nhưng tôi vẫn băn khoăn: Công lý đích thực ở đâu, và ai có thể đem lại cái gọi là “công lý”, nếu không phải là những kẻ mạnh, trong đó có Trung Quốc? Những phán đoán của nhiều học giả Việt Nam về khả năng thắng kiện của Việt Nam có chính xác không, nếu giả dụ nó đang dựa trên những thông tin chưa đầy đủ? Liệu Việt Nam có thực sự có khả năng thắng kiện không, khi phía Trung Quốc cũng có những bằng chứng cứ chống lại ta mà họ đang dần công bố? Và mỗi người chúng ta có thể làm gì để thúc đẩy nhà nước nhanh chóng xúc tiến vụ kiện, cùng góp tay vào quá trình thu thập thông tin và xây dựng hồ sơ kiện nhanh chóng, thuận lợi và đầy đủ nhất?

Và ánh sáng đã lóe lên. Chìa khóa để trả lời hầu hết những câu hỏi ở trên là: Sự thật. Chỉ có toàn bộ sự thật mới giúp cho các học giả Việt Nam biết được những chứng cứ mà phía Trung Quốc có thể đưa ra để chống lại Việt Nam và phán đoán đúng những khó khăn cần vượt qua; chỉ có sự thật mới giúp đoàn kết mọi người dân Việt vượt qua những khó khăn này; và chỉ có toàn bộ sự thật không cong queo, úp mở mới thuyết phục được cộng đồng quốc tế về tình trạng “không thể tranh cãi” của chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Còn tôi, với tư cách một người hoạt động trong ngành giáo dục, tôi cũng đã biết mình phải làm gì để “hoạt động cho công lý”, để góp phần vào giải pháp hòa bình cho Biển Đông. Tôi sẽ tiếp tục với con đường đi tìm và nói lên sự thật và chỉ sự thật, dù biết rằng sẽ có khi gặp trở ngại, sẽ có lúc phải đi đường vòng để có thể nói được sự thật cần phải nói. 

Bởi, “sự thật sẽ giải thoát anh em” (Ga 8, 32).

****************

Thứ Bảy, 28 tháng 6, 2014

Chủ nhật, đọc lại bài thơ Trăng nghẹn

Tình cờ, một người bạn của tôi ở miền Tây post lên trên trang fb của bạn ấy bài thơ đã từng làm ồn ào dư luận cách đây vài năm - bài thơ Trăng nghẹn.

Tôi đã đọc bài ấy từ lúc nó mới ra đời, và đã có cảm xúc rất mãnh liệt, nên bài thơ ấy đối với tôi không còn mới nữa. Vậy mà khi đọc lại, tôi vẫn thấy nghèn nghẹn. Chẳng phải vì tác giả là một người cầm bút quá tài năng, mà vì những cảm xúc và hình ảnh, sự kiện trong bài thơ quá chân thật. Và quá buồn.

Với một bài thơ như vậy, chúng ta không nên bình luận gì nhiều, vì sẽ làm hỏng bài thơ. Cảm xúc chân thật vốn luôn đi thẳng vào lòng người, không cần nhờ đến bất cứ một lời dẫn giải nào. Tôi chỉ tô đậm lên những đoạn, những câu tôi thích để đánh dấu cho chính mình mà thôi.

Bài thơ Nghẹn. Nghẹn vì những cảm xúc, những hình ảnh, và những sự kiện buồn. Và nghẹn hơn vì đọc xong thì nhận rõ cái buồn lớn nhất, dù không được nói ra: Không có một chút ánh sáng nào cuối đường hầm cả. Nghẹn.

Bài thơ ấy ở đây: http://www.vannghesongcuulong.org.vn/modules.php?name=News&op=viewst&sid=6405


TRĂNG NGHẸN - thơ HOÀI TƯỜNG PHONG

22.02.2010 08:11

(TÁC PHẨM ĐOẠT GIẢI 1 CUỘC THI THƠ ĐBSCL NĂM 2009)

Cô bạn xưa nách con ngang nhà mua chịu rượu,
Đôi mắt ướt một thời bẽn lẽn ngó bàn chân

(Trích)

Mẹ sinh tôi vào một đêm rằm mưa gió ngày xưa,  
Lúc chào đời đã lỡ hẹn cùng vầng trăng viên mãn.  
Vùng tản cư hồi nầy ruộng hoang nhà trống,  
Rước được bà mụ vườn, ngoại cực trần thân.

Tôi lớn trong quê mùa như cây tạp vườn hoang,  
Bảy tuổi biết leo lưng trâu, không từng ngồi xe đạp.  
Không biết lời bải buôi để mua lòng người khác,  
Nên thua thiệt cả đời vì không thể dối lừa ai.

Ngơ ngác buổi ra thành, trước cuộc sống đua chen,  
Mười năm sau chưa gội rửa cho mình thành dân chợ.  
Lớp phèn hết bám chân, nhưng chất chân quê vẫn còn đó,  
Tôi tranh thủ những tháng hè, thích về lại thăm quê.

Bè bạn theo đuôi trâu một thời, mơ ước nhìn tôi,  
Tưởng tôi thoát kiếp ngài, nhởn nhơ hóa bướm. 
Tôi nhìn vẻ hồn nhiên của đám bạn xưa thèm quá,  
Cộng một chút phù hoa đâu thêm lớn tâm hồn.

Mỗi lần về quê bè bạn cũ lại vắng hơn,
Gái mười bảy đã lấy chồng, trai hai mươi đòi vợ. 
Cô bạn xưa nách con ngang nhà mua chịu rượu,  
Đôi mắt ướt một thời bẽn lẽn ngó bàn chân.

Xóm bên sông nhiều cô gái rời quê, 
Về thăm nhà xênh xang lụa là hàng hiệu.  
Vài căn nhà xây, đổi đời nhờ những đồng tiền báo hiếu, 
Khởi sắc một vùng quê sao nghe có chút bùi ngùi.

Đồng bằng quê hương tôi nhiều cái nhất ngậm ngùi:  
Sản lượng lúa nhiều, vùng cá ba sa lớn nhất,  
Đầu tư văn hóa thấp và khó nghèo cũng nhất, 
Và cũng dẫn đầu, những cô gái lấy chồng xa.

Chập tối buồn ra nhìn bến nước cô đơn,  
Vầng trăng vừa lên đã bị mây mưa vần vũ.  
Tôi chợt nhớ lần lỗi hẹn đầu đời, trăng cũ,  
Vầng trăng nghẹn hoài, chưa tỏa sáng một vùng quê.


H.T.P (Cần Thơ)

Thứ Tư, 25 tháng 6, 2014

Marx đã viết gì về tự do báo chí?

Bài này được bắt đầu viết từ ngày 3/5, nhưng do sự kiện giàn khoan nên tôi đã tạm gác lại để theo dõi tình hình Biển Đông. Giờ tình hình Biển Đông đã chuyển sang giai đoạn "trường kỳ kháng chiến" nên mới quay lại viết nốt. Chỉ là thông tin khách quan và một câu hỏi, mong mọi người góp phần giải đáp.
------------
Ngày 3/5 hàng năm là Ngày tự do báo chí. Đó là một ngày được UNESCO thừa nhận và hầu hết thế giới công nhận. Thậm chí, còn có một giải thưởng quốc tế của UNESCO về tự do báo chí gắn liền với ngày này, có thể đọc ở đây: http://www.unesco.org/new/en/communication-and-information/freedom-of-expression/press-freedom/unesco-world-press-freedom-prize/.

Một ngày quan trọng như vậy, nhưng hầu như truyền thông của VN không hề nhắc đến dù chỉ một dòng. Sao thế? Phải chăng chủ nghĩa Mác đả phá tự do báo chí, nên các nước cộng sản như VN không công nhận ngày này (và cũng không công nhận quyền này, như có thể thấy qua hiện trạng tại VN: không có báo chí tư nhân; nhiều bloggers bị đi tù do phạm phải những điều luật hạn chế, cấm đoán quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận được quy định rõ ràng trong các điều luật, ví dụ như điều 258 ...).

Trước nay tôi vẫn đinh ninh tự do báo chí là điều cấm kỵ từ lý thuyết của chủ nghĩa cộng sản, nên rất bất ngờ khi đọc được một mẩu tin nói về quan niệm của Marx về tự do báo chí. Có thật là Marx ủng hộ tự do báo chí hay không nhỉ? Tôi bỏ công ra đi tìm, và trong thời đại Internet với google search ngày nay, cứ tìm thì sẽ thấy, cứ gõ thì cửa sẽ mở  ra ....

Đây, trên trang tư liệu về Karl Marx tại trường ĐH Quốc gia Úc: http://marxists.anu.edu.au/archive/marx/works/1842/free-press/ch05.htm. Bài viết của Marx (bằng tiếng Đức) từ năm 1842, tức là cách đây đã 172 năm rồi.

Xin dịch vài đoạn đáng lưu ý:

The censorship law, therefore, is not a law, it is a police measure; but it is a bad police measure, for it does not achieve what it intends, and it does not intend what it achieves.

Luật kiểm duyệt, vì thế, không phải là luật, mà là một biện pháp của công an; tuy nhiên nó là một biện pháp tồi, bởi nó không đạt được điều nó muốn, mà chỉ đạt được những điều nó không muốn.

If the censorship law wants to prevent freedom as something objectionable, the result is precisely the opposite. In a country of censorship, every forbidden piece of printed matter, i.e., printed without being censored, is an event. It is considered a martyr, and there is no martyr without a halo and without believers. It is regarded as an exception, and if freedom can never cease to be of value to mankind, so much the more valuable is an exception to the general lack of freedom. Every mystery has its attraction. Where public opinion is a mystery to itself, it is won over from the outset by every piece of writing that formally breaks through the mystical barriers. The censorship makes every forbidden work, whether good or bad, into an extraordinary document, whereas freedom of the press deprives every written work of an externally imposing effect. 

Nếu luật kiểm duyệt mong muốn cản trở tự do vì xem đó là điều đáng lên án, thì kết quả lại hoàn toàn trái ngược. Trong một quốc gia có kiểm duyệt, bất kỳ ấn phẩm bị cấm nào được in ra - tức thoát khỏi sự kiểm duyệt - đều trở thành một sự kiện. Nó được xem là một kẻ tử đạo, và tất nhiên không có kẻ tử đạo nào mà lại không có hào quang và tín đồ. Nó được xem là một ngoại lệ, và nếu như tự do chẳng bao giờ hết giá trị đối với nhân loại, thì sự ngoại lệ ấy lại càng được đánh giá cao trong hoàn cảnh thiếu tự do nói chung. Mỗi điều bí mật đều có sự hấp dẫn của nó. Nơi nào mà công luận là một bí mật đối với chính nó, thì nơi đó mỗi bài viết thoát ra được khỏi những rào cản bí mật sẽ là một thành công ngay từ đầu. Sự kiểm duyệt làm cho mỗi bài viết bị cấm, dù chất lượng tốt hay không tốt, đều trở thành một tài liệu độc đáo, trong khi tự do báo chí sẽ giúp mọi bài viết thoát khỏi những ràng buộc từ bên ngoài.
---
Còn đoạn này nữa, mới thực sự là "giật gân" này. Mác viết đây sao? Nghe cứ như lời trong Kinh thánh, cho thấy Mác xem "tự do báo chí" là thiêng liêng đến mức nào:

The free press is the ubiquitous vigilant eye of a people's soul, the embodiment of a people's faith in itself, the eloquent link that connects the individual with the state and the world, the embodied culture that transforms material struggles into intellectual struggles and idealises their crude material form. It is a people's frank confession to itself, and the redeeming power of confession is well known. It is the spiritual mirror in which a people can see itself, and self-examination is the first condition of wisdom. It is the spirit of the state, which can be delivered into every cottage, cheaper than coal gas. It is all-sided, ubiquitous, omniscient. It is the ideal world which always wells up out of the real world and flows back into it with ever greater spiritual riches and renews its soul. 

Báo chí tự do là con mắt có mặt ở khắp nơi để giám sát linh hồn của mỗi dân tộc, là hiện thân của niềm tin  vào chính mình của dân tộc ấy, là mối liên kết mạnh mẽ kết nối mỗi cá nhân với nhà nước và với thế giới, là hiện thân của một nền văn hóa có khả năng biến đổi cuộc đấu tranh vật chất thành cuộc đấu tranh trí tuệ và lý tưởng hóa hình thức vật chất của nó. Đó là lời thú tội thẳng thắn của một dân tộc với chính mình, và ai cũng biết sức mạnh cứu rỗi của việc thú tội là như thế nào rồi. Đó cũng là tấm gương tinh thần trong đó một dân tộc có thể nhìn thấy chính mình, và việc tự xem xét chính mình điều kiện đầu tiên của sự khôn ngoan. Đó là linh hồn của nhà nước, có thể được đưa vào dưới mỗi mái nhà, và rẻ hơn so với khí than. Nó toàn diện, có mặt ở mọi nơi, và toàn trí. Nó là thế giới lý tưởng luôn tuôn trào từ thế giới thực và chảy trở lại vào trong thế giới đó với những của cải thiêng liêng to lớn hơn nữa làm đổi mới tâm hồn của thế giới này.
------------
Vâng, như thế đấy. Rõ ràng Karl Marx ủng hộ tự do báo chí và chống lại việc kiểm duyệt báo chí như ở VN hiện nay hoặc các nước cộng sản ở Đông Âu trước đây. Nhưng vậy là sao? Chẳng  lẽ những người cộng sản miệng thì nói kiên định với chủ nghĩa Mác, nhưng tay lại làm ngược lại?

Hay là họ chưa bao giờ thực sự đọc Mác, mà chỉ đọc qua những người khác như Lenin, Stalin, Mao? Nhưng mấy ông này cũng luôn tự xưng mình là học trò của Mác kia mà. Hay ... họ chỉ lợi dụng cái tên của Mác thôi, còn bụng thì chẳng bao giờ nghĩ giống Mác cả?

Còn nếu không, thì chẳng lẽ cái archive của ĐH Quốc gia Úc lại ... đưa vào đấy những tài liệu giả mạo ư? Không có lẽ thế. Mà nếu giả mạo, thì các học giả nghiên cứu về Mác trên khắp thế giới, trong đó có VN, phải lên tiếng chứ nhỉ?

Có ai trả lời được cho tôi không? Hay câu hỏi này lại được đưa vào danh sách những câu hỏi lớn không lời đáp của tôi?

Chủ Nhật, 22 tháng 6, 2014

Tổ quốc bao giờ "lạ" thế này chăng?

Hỡi sông Hồng tiếng hát bốn ngàn năm
Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng?

Hai câu thơ mở đầu trong bài thơ "Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng?" là hai câu thơ đẹp. Lần đầu tiên tôi được đọc bài thơ ấy là vào năm 77, 78 gì đó, năm ấy tôi đang học lớp 12 tại trường Gia Long (sau năm 1975 đổi tên là Nguyễn Thị Minh Khai).

Vì học ban Văn chương (lúc ấy gọi là ban A-B, thực ra là ban B tức là Văn - Sinh ngữ, khác với ban A là Văn - Sử; hai ban này riêng biệt nhưng vì số học sinh ít quá nên được gộp chung lại cho đủ một lớp gọi chung là ban A-B) nên môn Văn đối với chúng tôi là một môn học quan trọng, một tuần học đến 5 tiết (hình như thế), trong khi các môn khoa học tự nhiên như môn Lý chỉ học có 1 tiết/tuần, còn  môn Toán - cũng là một môn quan trọng, xuất hiện trong mọi kỳ thi lớn - cũng chỉ có 3 tiết/tuần mà thôi.

Quan trọng thế, lại là bọn yêu văn chương (chẳng thế thì tại sao lại chọn học ban A-B!) nên bọn tôi rất chăm đọc văn, thơ của các nhà văn, nhà thơ "cách mạng", dù thơ của họ hay hoặc dở thì cũng thế. Và rất mừng khi được đọc/học một bài thơ, một đoạn văn hay, vì như thế chúng tôi sẽ không phải bò ra học những câu văn, lời thơ khô như ngói hoặc sống sượng, ngây ngô kiểu như "ăn đi vài con cá/dăm bảy cái chột nưa" hoặc "nhà lao mà giống gia đình" mà thời đó bọn tôi vẫn cứ phải cố gào lên để học cho thuộc.

Quay lại bài thơ của CLV. Đó là một bài thơ rất dài và không phải câu nào cũng hay; vẫn có những câu ca ngợi đảng CS và lãnh tụ quá mức theo phong cách của mấy nước cộng sản "anh em" - chẳng hạn như mấy câu "thuở đất nước của Hùng Vương có Đảng/mỗi người dân đều được thấy bác Hồ", hoặc "cho tôi sinh ra buổi Đảng dựng xây đời", "Ta tựa vào Đảng ta, lên tiếng hát" - nhưng nói chung vẫn là một bài thơ hay với nhiều ẩn dụ độc đáo, giọng điệu tự tin reo vui, lời thơ đẹp, ngôn ngữ chọn lọc, hình ảnh đẹp tươi lấp lánh .... Chỉ đọc qua một lần thôi mà bài thơ dài ấy đã được nhiều đứa trong lớp tôi thuộc hết, còn nếu không thì cũng thuộc những câu hay nhất, nổi tiếng nhất.

Những câu thơ đẹp và đầy cảm xúc như thế này làm sao mà tôi quên dược cơ chứ:

Cha ông xưa từng đấm nát tay trước cửa cuộc đời,
Cửa vẫn đóng và đời im ỉm khoá
Những pho tượng chùa Tây Phương không biết cách trả lời
Cả dân tộc đói nghèo trong rơm rạ
Văn Chiêu hồn từng thấm giọt mưa rơi!

 hoặc:
Không ai có thể ngủ yên trong đời chật
Buổi thủy triều vẫy gọi những vầng trăng.
Mỗi gié lúa đều muốn thêm nhiều hạt,
Gỗ trăm cây đều muốn hóa nên trầm,
Mỗi chú bé đều nằm mơ ngựa sắt,
Mỗi con sông đều muốn hóa Bạch Đằng...
 
Những câu thơ ấy đã đi vào lòng chúng tôi, thế hệ thanh niên miền Nam đầu tiên được hưởng nền giáo dục cách mạng. Nhắc lại một chút, hồi ấy để giúp phường và tổ dân phố có thể "quản lý" được người dân và sắp xếp họ vào các hoạt động đoàn thể cho đúng, ví dụ hội thanh niên, hội phụ nữ, đội thiếu niên tiền phong vv thì người ta đã định nghĩa "thanh niên" là lứa tuổi từ 15 đến 28. Mà năm 1975 thì tôi 15 tuổi, bắt đầu vào cấp 3, nên tôi học trọn chương trình cấp 3 trong chế độ mới,  vâng tôi nói tôi là thế hệ thanh niên đầu tiên hưởng nền giáo dục cách mạng là như thế đấy.

Những câu thơ đẹp như thế đã làm cho chúng tôi yêu chế độ hơn một chút, và lạc quan hơn một chút, quên đi những bữa cơm gạo hẩm độn khoai mì hoặc bo bo của thời ấy, quên những cuộc "cải tạo công thương nghiệp" mà người ta hay gọi nôm na là "đánh tư sản", thậm chí thảng hoặc còn quên là mình là con cái của ngụy quân, ngụy quyền, quên những người thân còn đang trong trại cải tạo chưa biết đến bao giờ mới được về. Chỉ thấy đất nước đẹp vô vàn, dân tộc anh hùng, đất nước thống nhất, khó khăn nếu có chỉ là tạm thời của một đất nước vừa qua một cuộc chiến tranh lâu dài, mọi người cần phải cố gắng xây dựng đất nước, bla bla bla ....

Thậm chí, một số bạn bè của tôi là con gái mà vẫn mà xung phong đi bộ đội, đi thanh niên xung phong sau khi tốt nghiệp lớp 12, để rồi sau đó bị thương nặng, tàn phế trong chiến trường Campuchia - nhưng thôi những chuyện ấy không liên quan nên tôi sẽ không nhắc thêm ở đây. Chỉ biết, dù khó khăn không có bút mực nào tả xiết nhưng lúc ấy đối với chúng tôi câu "Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng?" vẫn là một câu thơ rất đẹp, và dường như rất thật.

Thế rồi, từ một cô gái mười bảy bẻ gẫy sừng trâu đầu chứa đầy những câu thơ đẹp và tình cảm ngây thơ về một đất nước đẹp tươi, thống nhất, sạch bóng ngoại bang, ngây thơ tin vào một tương lai tươi sáng khi đất nước đang "tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên CNXH", thoắt một cái tôi đã thành một bà già sắp về hưu, còn cô con gái út của tôi thì bây giờ lại đúng 17 tuổi, sắp vào lớp 12. 

Trong thời gian dài bẵng đi mấy mươi năm ấy, biết bao điều đã thay đổi, nhưng hình như chương trình văn học của trung học phổ thông vẫn không có mấy thay đổi. Vẫn là Tố Hữu, Hồ chủ tịch, rồi thơ Chế Lan Viên với những bài thơ/tập thơ quen thuộc: Chú bé loắt choắt/cái xắc xinh xinh; Ngoại cảm trời Hoa cơn nóng lạnh/Nội thương đất Việt cảnh lầm than; và chắc chắn không thể không có bài thơ "Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng?" mà đến giờ tôi vẫn thấy quả là một bài thơ xuất sắc.

Chỉ có cảm xúc về bài thơ của CLV là khác. Câu thơ tuyệt vời ấy nếu ai vào lúc này đọc lên bỗng có vẻ gì đó mỉa mai. Cách đây từ mấy năm, khi Trung Quốc bắt đầu gây hấn ở Biển Đông, cắt cáp tàu dầu khí của ta, cấm ngư dân ta đánh cá, rồi bắt bớ, đánh đập ngư dân, đòi tiền chuộc ... nhưng nhà nước ta vẫn cố tình nhẫn nhịn (vì đại cục?), tôi đã nghe một phiên bản mới của câu thơ ấy: "Tổ quốc bao giờ NHỤC thế này chăng?" Nghe đau lắm, nhưng ... không phải là không đúng! 

Lại có một phiên bản khác do bạn tôi "sáng chế" ra khi nghe tin người VN ăn cắp ở Mã Lai và bị trói tay, đeo bảng ghi rõ là "đồ ăn cắp", rồi bị cảnh sát áp tải ra giữa chợ cho mọi người xem, bị mọi người xúm vào đánh, chửi và cho ăn bạt tai xối xả. Vâng, bạn tôi bảo: Tổ quốc bao giờ ĐẸP MẶT thế này chăng!

Nhưng hôm nay tôi đọc được mấy cái tin làm tôi chú ý. Trước hết là tuyên bố mạnh mẽ của Indonesia về vấn đề Biển Đông. Họ bảo, sẽ điều quân ủng hộ VN vì không thể để cho TQ muốn làm gì thì làm như thế. Vậy là vụ đụng độ ở Biển Đông đến nay đã kéo dài gần 2 tháng, cả thế giới thì sôi sục, không chỉ Nhật, Philippines, Mỹ, mà giờ đây đến cả Indo cũng đứng hẳn về phía bênh vực VN. 

Chỉ riêng VN thì lâu nay vẫn chẳng làm gì ngoài việc dùng lời để lên án TQ trên các phương tiện truyền thông của ... VN (well, cũng có ở nước ngoài nữa, nhưng ít lắm), dọa kiện TQ ra tòa án quốc tế "vào một thời điểm thích hợp" (nhưng không ai có thể đoán được đến khi nào mới thích hợp); hai bên vẫn gọi nhau là đồng chí, dù hai người đồng chí này hiện đang là kẻ thù của nhau. "Đồng chí thù, đồng chí bạn", có ai đó đã nói mỉa mai như thế. Quân đội VN thì từ lâu đã tuyên bố dứt khoát phải kiên trì với đường lối hòa bình, cho dù kẻ thù có khiêu khích đến cỡ nào đi nữa. 

Còn Quốc hội? Mới đây có đại biểu Trương Trọng Nghĩa tha thiết đề nghị QH ra nghị quyết về Biển Đông được dư luận ủng hộ lắm, mà nghe nói là những đại biểu khác trong QH cũng rất ủng hộ, vậy ít ra QH cũng sẽ ra nghị quyết chứ? Ồ không, QH đã tuyên bố rồi: Sẽ không ra nghị quyết, vì nhiều lý do, chắc vậy, nhưng một trong những lý do ấy là ... à thì ... quy trình ra nghị quyết ở QH rắc rối, phức tạp và mất thời gian lắm lắm .... 

Ồ, thì ra là vậy sao? Ra nghị quyết ở QH Việt Nam khó khăn đến thế cơ à? Kể cả trong những trường hợp khẩn cấp, nước sôi lửa bỏng, đất nước bị xâm phạm như lúc này á?

Lạ quá, đúng không?

Bỗng dưng câu thơ nổi tiếng của CLV lại bật ra trong đầu tôi, lần này là phiên bản mới khác nữa:

Tổ quốc bao giờ "lạ" thế này chăng?!

Chủ Nhật, 15 tháng 6, 2014

Kẻ thù ta đâu có phải là người ...

Kẻ thù ta đâu có phải là người ...

Đó là câu đầu tiên, cũng là câu được nhắc lại nhiều lần, trong bài hát có tựa là "Kẻ thù ta" của Phạm Duy sáng tác năm 1965. Vào thời điểm mà chiến tranh Việt Nam bắt đầu leo thang trên toàn quốc, kéo theo cả một thập niên máu lửa tơi bời, khi người Việt hai miền lao vào bắn giết lẫn nhau trong cuộc chiến mà lúc ấy ở miền Nam vẫn được gọi là chiến tranh ý thức hệ, còn miền Bắc thì gọi là chiến tranh giải phóng dân tộc, một cuộc máu chảy đầu rơi khốc liệt chưa từng có trong lịch sử của đất nước.

Bài hát này hồi ấy tôi không thấy hay, một phần có thể là vì tôi còn nhỏ quá chưa hiểu hết ý nghĩa của nó (năm 1965 tôi mới 5 tuổi, theo gia đình từ Phan Thiết vào SG, mặt bầu bĩnh mắt tròn ngơ ngác như trong mấy tấm hình mà đến giờ tôi vẫn còn giữ sau gần nửa thế kỷ). Nhưng rõ ràng bài hát ấy không mấy nổi tiếng vì không thấy phổ biến lắm, trừ hai câu đầu tiên rất có ý nghĩa mà tôi nghĩ ai đã sống qua thời VNCH ở miền Nam đều biết. Nhưng hôm nay nghe lại bài hát này trong bối cảnh Việt Nam đang bị người bạn vàng, đồng chí tốt xâm lấn, và nhiều vấn đề của cuộc chiến tranh 54-75 đang được chính thức hoặc không chính thức đặt lại và nhận thức lại, tôi thấy bài hát quá thâm thúy. 

Không chỉ sâu sắc về lời, mà giai điệu cũng rất phù hợp với hoàn cảnh của thời ấy. Nó gợi nhớ phong trào phản chiến thời thập niên 1960s ấy (thập niên mà tôi sinh ra và lớn lên cùng, một thế hệ lầm lạc - lost generation), và làm cho lòng ta nặng trĩu khi nhớ lại một thời đã xa và những cơ hội đã bị bỏ lỡ.

Vâng, kẻ thù ta .... Kẻ thù ta đâu có phải là người? Nó nằm đây nằm đây ở mỗi ai, người Việt ơi!

Xin chép lại để lưu và để mọi người VN cùng suy ngẫm.

-----------------
Kẻ Thù Ta (Tâm ca số 7)
Phạm Duy (1965)
Kẻ thù ta đâu có phải là người
Giết người đi thì ta ở với ai ?
Kẻ thù ta tên nó là gian ác
Kẻ thù ta tên nó là vô lương
Tên nó là hận thù
Tên nó là một lũ ma (thế thì)
Kẻ thù ta đâu có phải là người
Giết người đi thì ta ở với ai ?
Kẻ thù ta mang áo mầu chủ nghĩa
Kẻ thù ta mang lá bài tự do
Mang cái vỏ thật to
Mang cái rổ danh từ
Mang cái mầm chia rẽ chúng ta (thế thì)
Kẻ thù ta đâu có phải là người
Giết người đi thì ta ở với ai ?
Người người ơi thương xót người nhỏ bé
Người người ơi thương xót người ngây thơ
Thương xót người bị mua
Thương xót người bị lừa
Thương xót người thương xót ta (thế thì)
Kẻ thù ta đâu có ở người ngoài
Nó nằm đây nằm ngay ở mỗi ai  
Kẻ thù ta tên nó là vu khống
Kẻ thù ta tên nó là vô minh
Tên nó là lòng tham
Tên nó là tị hiềm
Tên nó là sự ghét ghen (thế thì)
Kẻ thù ta đâu có ở người ngoài
Nó nằm đây nằm ngay ở mỗi ai  
Kẻ thù ta trong mắt thèm lơ láo
Kẻ thù ta trong góc đầu tự kiêu
Trong cõi lòng quạnh hiu
Trong óc hẹp tiêu điều
Trong giấc mộng xâm chiếm nhau (thế thì)
Kẻ thù ta đâu có ở người ngoài
Nó nẵm đây nẵm ngay ở mỗi ai  
Người người ơi yêu mến người mãi mãi
Người người ơi yêu mến người không nguôi
Yêu mến người đầy vơi
Yêu mến người đêm ngày
Yêu mến người ta nắm tay (thế thì)
Kẻ thù ta đâu có phải là người
Giết người đi thì ta ở với ai ?
Kẻ thù ta đâu có ở người ngoài
Nó nằm đây nằm ngay ở mỗi ai.


https://www.youtube.com/watch?v=79MzqJaG4AQ