Thứ Bảy, 18 tháng 4, 2015

Tướng về hưu (Nguyễn Huy Thiệp)



Tướng Về Hưu
Tác giả: Nguyễn Huy Thiệp

I

Khi viết những dòng này, tôi đã thức tỉnh trong vài người quen những cảm xúc mà thời gian đã xóa nhòa, và tôi đã xâm phạm đến cõi yên tĩnh nấm mồ của chính cha tôi. Tôi buộc lòng làm vậy, và xin người đọc nể nang những tình cảm đã thúc đẩy tôi viết mà lượng thứ cho ngòi bút kém cỏi của tôi. Tình cảm này, tôi xin nói trước, là sự bênh vực của tôi đối với cha mình.


Cha tôi tên là Thuấn, con trưởng họ Nguyễn. Trong làng, họ Nguyễn là họ lớn, số lượng trai đinh có lẽ chỉ thua họ Vũ. Ông nội tôi trước kia học Nho, sau về dạy học. Ông nội tôi có hai vợ. Bà cả sinh được cha tôi ít ngày thì mất, vì vậy ông tôi phải tục huyền. Bà hai làm nghề nhuộm vải, tôi không tường mặt, chỉ nghe nói là một người đàn bà cay nghiệt vô cùng. Sống với dì ghẻ, cha tôi trong tuổi niên thiếu đã phải chịu đựng nhiều điều cay đắng. Năm mười hai tuổi, cha tôi trốn nhà ra đi. Ông vào bộ đội, ít khi về nhà.

Khoảng năm... cha tôi về làng lấy vợ. Chắc chắn cuộc hôn nhân này không do tình yêu. Mười ngày nghỉ phép bề bộn công việc. Tình yêu đòi hỏi điều kiện, trong đó thời gian cũng cần.
Khi lớn lên, tôi chăng biết gì về cha mình cả. Tôi chắc mẹ tôi hiểu về cha tôi cũng ít. Cả đời cha tôi gắn với súng đạn, chiến tranh.

Tôi đi làm, lấy vợ, sinh con. Mẹ tôi già đi. Cha tôi vẫn đi biền biệt. Thỉnh thoảng cha tôi cũng ghé về nhà, nhưng những lần về đều ngắn. Cả những bức thư cha tôi gửi về cũng ngắn, dầu rằng dưới những dòng chữ, tôi biết ở đấy ẩn chứa nhiều tình thương cùng với âu lo.

Tôi là con một, tôi đã chịu ơn cha tôi về đủ mọi mặt. Tôi được học hành, được du ngoại. Cả những cơ sở vật chất gia đình cũng do cha tôi lo liệu. Ngôi nhà tôi ở ven nội, xây dựng trước khi cha tôi về hưu tám năm. Đấy là một biệt thự đẹp nhưng khá bất tiện, tôi đã xây cất dựa theo thiết kế của một chuyên gia kiến trúc trứ danh, bạn của cha tôi, ông này đại tá, chỉ thạo việc xây doanh trại.

Năm bẩy mươi tuổi, cha tôi về hưu với hàm thiếu tướng.

Mặc dầu biết trước, tôi vẫn ngỡ ngàng khi cha tôi về. Mẹ tôi đã lẫn (bà hơn cha tôi sáu tuổi), vì vậy thực ra ở nhà chỉ có mình tôi có những tình cảm đặc biệt với sự kiện này. Mấy đứa con tôi còn bé. Vợ tôi biết ít về ông, vì hai chúng tôi lấy nhau khi mà cha tôi đang bặt tin tức. Bấy giờ đang có chiến tranh. Tuy thế, ở trong gia đình, cha tôi bao giờ cũng là hình ảnh của niềm vinh dự, tự hào. Cả ở trong họ, trong làng, tên tuổi cha tôi cũng được mọi người ngưỡng vọng.

Cha tôi về nhà, đồ đạc đơn sơ. Cha tôi khỏe. Ông bảo: "Việc lớn trong đời cha làm xong rồi!” Tôi bảo: "Vâng". Cha tôi cười. Tâm trạng xúc động lây sang cả nhà, mọi người chuếnh choáng đến nửa tháng trời, sinh hoạt tùy tiện, có hôm mười hai giờ đêm mới ăn cơm chiều. Khách khứa đến chơi nườm nượp. Vợ tôi bảo: "Không để thế được". Tôi cho mổ lợn, đi mời họ hàng làng nước đến để chia vui. Làng tôi tuy gần thành phố nhưng mà tập tục nông thôn còn giữ. Đúng một tháng sau, tôi mới có dịp ngồi với cha tôi bàn chuyện gia đình.


II

Trước khi kể tiếp, xin nói về gia đình tôi. Tôi ba mươi bẫy tuổi, là kỹ sư, làm việc ở Viện Vật lý. Thủy, vợ tôi, là bác sĩ, làm việc ở bệnh viện sản. Chúng tôi có hai con gái, đứa mười bốn, đứa mười hai. Mẹ tôi lẫn lộn, suốt ngày chỉ ngồi một chỗ.

Ngoài những người trên, gia đình tôi còn có ông Cơ và cô con gái gàn dở của ông. Ông Cơ sáu mươi tuổi, quê Thanh Hóa. Vợ tôi gặp cha con ông khi nhà của họ bị cháy, cơ nghiệp mất sạch. Thấy cha con ông tốt bụng, đáng thương, vợ tôi sắp xếp cho họ ở với chúng tôi. Cha con ông ở dưới nhà ngang, sinh hoạt riêng rẽ nhưng mọi chế độ thì do vợ tôi chu cấp. Không có hộ khẩu, họ không có những tiêu chuẩn lương thực, thực phẩm như những người dân khác trong thành phố. Ông Cơ hiền lành, chịu khó. Thường ông đảm nhiệm việc chăm vườn tược, lợn gà và đàn chó giống. Nhà tôi nuôi chó béc-giê. Tôi cũng không ngờ việc kinh doanh chó lại thu lợi lớn. Khoản thu này trội nhất trong nhà.

Cô Lài mặc dầu gàn dở nhưng lại xốc vác và nội trợ giỏi. Vợ tôi dạy cô cách thức nấu bóng, nấu nấm, nấu gà hầm. Cô bảo: " Cháu chẳng ăn thế bao giờ". Cô không ăn thật. Cả hai vợ chồng và hai con tôi không phải lo toan công việc gia đình. Từ ăn uống, giặt giũ, tất cả giao cho hai người giúp việc. Vợ tôi cầm chịch các khoản chi tiêu. Tôi bận nhiều việc, hiện đang vùi đầu vào công trình ứng dụng điện phân. Cũng cần nói thêm: quan hệ tình cảm của vợ chồng tôi êm thấm. Thủy có học thức, sống theo lối mới. Chúng tôi suy nghĩ độc lập, nhìn nhận vấn đề xã hội tương đối giản dị. Thủy am tường các việc lo liệu kinh tế cũng như dạy dỗ con cái. Còn tôi, hình như tôi khá cổ hủ, đầy bất trắc và thô vụng.


III


Tôi quay lại đoạn kể cha con tôi bàn việc gia đình. Cha tôi bảo: "Nghỉ rồi, cha làm gì?" Tôi bảo: "Viết hồi ký". Cha tôi bảo: Không!. Vợ tôi bảo: Cha nuôi vẹt xem". Trên phố dạo này nhiều người nuôi chim hoạ mi, chim vẹt. Cha tôi bảo: "Kiếm tiền à?" Vợ tôi không trả lời. Cha tôi bảo: "Để xem đã!" Cha tôi cho mỗi người trong nhà bốn mét vải lính. Ông Cơ và cả cô Lài cũng thế. Tôi cười: "Cha bình quân! " Cha tôi bảo: "Đấy là lẽ sống". Vợ tôi bảo: "Cả nhà đồng phục thì thành doanh trại". Mọi người cười ồ.

Cha tôi muốn ở một phòng dưới dãy nhà ngang giống như mẹ tôi. Vợ tôi không chịu. Cha tôi buồn. Việc để mẹ tôi ăn riêng, ở riêng làm ông bứt rứt. Vợ tôi bảo: Tại mẹ lẫn". Cha tôi đăm chiêu. Tôi cũng không hiểu sao hai đứa con gái của tôi ít gần ông nội. Tôi cho chúng học ngoại ngữ, học nhạc. Chúng lúc nào cũng bận. Cha tôi bảo: "Các cháu có sách gì mang cho ông đọc". Cái Mi cười. Còn cái Vi bảo: "Ông thích đọc gì?" Cha tôi bảo: " Cái gì dễ đọc". Hai đứa bảo: "Thế thì không có". Tôi đặt báo hàng ngày cho ông. Cha tôi không thích văn học. Văn chương nghệ thuật bây giờ đọc rất khó vào.

Một hôm tôi đi làm về, cha tôi đứng ở dãy nhà vợ tôi nuôi chó và gà công nghiệp. Trông ông không vui. Tôi hỏi: " Có chuyện gì thế?” Ông bảo: "ông Cơ và cô Lài vất vả quá. Họ làm không hết việc, cha muốn giúp họ được không?" Tôi bảo: "Để con hỏi Thủy". Vợ tôi bảo: "Cha là tướng, về hưu cha vẫn là tướng. Cha là chỉ huy. Cha mà làm lính thì dễ loạn cờ". Cha tôi không nói năng gì. Cha tôi nghỉ hưu nhưng khách khứa nhiều. Điều đó làm tôi ngạc nhiên, thậm chí thích thú. Vợ tôi bảo: "Đừng mừng... họ chỉ nhờ vả. Cha ạ, cha đừng làm gì quá sức". Cha tôi cười: "Chẳng có gì đâu... cha chỉ viết thư. Thí dụ: Thân gửi N. tư lệnh quân khu... Tôi viết thư này cho cậu... Hơn năm mươi năm, đây là lần đầu tôi ăn tết mồng ba tháng ba dưới mái nhà mình. Hồi ở chiến trường, hai đứa chúng mình đã từng mơ ước v. v... Cậu nhớ cái xóm ven đường, cô Huệ đã làm bánh trôi bằng bột mì mốc. Bột mì bê bết trên lưng v.v... Nhân đây M. là người tôi quen, muốn được công tác dưới quyền của cậ u v.v... ". Cha viết như thế được không?" Tôi bảo: "Được". Vợ tôi bảo: Không được! " Cha tôi gãi cằm: Người ta nhờ mình".

Cha tôi thường bỏ thư viết vào phong bì đựng công văn bằng giấy cứng, cỡ 20x30, trên có in chữ Bộ quôé phòng, rồi đưa cho người nhờ vả mang đi. Sau ba tháng, hết sạch loại phong bì ấy. Ông làm phong bì bằng giấy bìa học sinh cũng to bằng cỡ 20x30. Một năm sau, ông cho thư vào thứ phong bì bình thường vẫn bán ở quầy bưu điện, giá năm đồng một chục cái.

Tháng bảy năm ấy, tức là ba tháng sau ngày cha tôi về nghỉ, chú họ tôi, ông Bổng, cưới vợ cho con.


IV


Ông Bổng với cha tôi là anh em cùng cha khác mẹ. Thằng Tuân con trai ông làm nghề đánh xe bò. Hai cha con đều ghê gớm, to như hộ pháp, ăn nói văng mạng. Thằng Tuân lấy vợ lần này là lần thứ hai. Vợ trước bị đánh đau quá, bỏ đi. Ra tòa, nó khai là vợ theo trai, tòa phải chịu. Cô vợ lần này tên là Kim Chi, làm nghề nuôi dạy trẻ, con nhà có học hẳn hoi, xí xớn thế nào nghe nói có thai với nó. Kim Chi là cô gái đẹp, làm vợ thằng Tuân đúng là "hoa nhài cắm bãi cứt trâ u ". Thâm tâm chúng tôi không ưa cha con ông Bổng, khốn nỗi "một giọt máu đào hơn ao nước lã", giỗ tết vẫn phải đi lại, nhưng mà ngày thường cũng nhạt. Ông Bổng hay nói: "Quân trí thức khốn nạn! Rẻ dân lao động! Nể bố nó, không tôi cạch cửa!" Nói thế thôi, ông Bổng vẫn sang vay tiền. Vợ tôi khe khắt, bao giờ cũng bắt ông phải ký cược. Ông Bổng rất ức, ông nói: "Mình là chú nó, trót vay nợ nó mà nó cư xử hệt như địa chủ". Nhiều món nợ ông cứ lờ đi không trả. Cưới vợ cho con, ông Bổng nói với cha tôi: "Anh phải đứng ra chủ hôn, bố cháu Kim Chi vụ phó, anh là tướng, thế là "môn đăng hộ đôí ". Sau này các cháu nhờ phúc của ông, như tôi là thằng phu xe, báu gì. " Cha tôi bằng lòng.

Đám cưới ngoại ô lố lăng và khá dung tục. Ba ô tô. Thuốc lá đầu lọc nhưng gần cuối tiệc hết sạch, phải thay bằng thuốc lá cuốn. Năm mươi mâm cỗ nhưng ế mười hai. Chàng rể mặc comlê đen, cravat đỏ. Tôi phải cho mượn cái cravat đẹp nhất trong tủ áo. Nói là mượn, chắc gì đòi được. Phù rể là sáu thanh niên ăn mặc hệt nhau, đều quần bò, râu ria rất hãi. Đầu tiệc là dàn nhạc sống chơi bài Ave Maria. Một anh cùng hợp tác xã xe bò thằng Tuân nhảy lên đơn ca một bài khủng khiếp:

ừ ê cái con gà quay
Ta đi lang thang khắp miền giang hồ
Tìm nơi nào có tiền
Tiền ơi, mau vào túi ta
ừ.. e... cái con gà rù...

Sau đó đến lượt cha tôi. Ông luống cuống, khổ sở. Bài văn chuẩn bị công phu hóa thừa. Kèn clarinét đệm rất bậy bạ sau dấu chấm câu. Pháo ầm ĩ. Trẻ con bình luận nhảm nhí. Cha tôi nhảy cóc từng đoạn. Ông cầm tờ giấy mà run bắn người. Một sự ô hợp láo nháo thản nhiên rất đời, thô thiển, thậm chí còn ô trọc nữa làm ông kinh hãi, đau đớn. Ông vụ phó thông gia cũng đâm hoảng hốt, luống cuống, làm đổ cả rượu xuống váy cô dâu. Chẳng nghe thấy gì. Dàn nhạc sống át đi bằng nhừng ca khúc vui vẻ quen thuộc của các ban nhạc Beatles và Abba. Sau đó, rắc rối đầu tiên đến với cha tôi là việc Kim Chi sinh cháu chỉ sau hôm cưới chục ngày. Gia đình ông Bổng bê bối. Ông say rượu, tống cổ cô con dâu ra cửa. Thằng Tuân cầm dao chém bố, may trượt.

Vô phương, cha tôi phải đón cháu dâu về nhà. Gia đình tôi thêm hai khẩu. Vợ tôi không nói năng gì Cô Lài thêm một trách nhiệm. Được cái cô Lài vô tâm, tính lại yêu trẻ.


V


Một tối, tôi đang đọc Sputnhich, cha tôi lặng lẽ đi vào. Ông bảo: “Cha muốn nói chuyện với con". Tôi pha cà phê, cha tôi không uống. Ông hỏi: “Con có để ý công việc của Thủy không con? Cha cứ rờn rợn".

Vợ tôi làm việc ở bệnh viện sản, công việc là nạo phá thai. Hàng ngày các rau thai nhi bỏ đi, Thủy cho vào phích đá đem về. Ông Cơ nấu lên cho chó, cho lợn. Thực ra điều này tôi biết nhưng cũng bỏ qua, chẳng quan trọng gì. Cha tôi dắt tôi xuống bếp, chỉ vào nồi cám, trong đó có các mẩu thai nhi bé xíu. Tôi lặng đi. Cha tôi khóc. Ông cầm phích đá ném vào đàn chó béc giê: "Khốn nạn! Tao không cần sự giàu có này”. Đàn chó sủa vang. Ông bỏ lên nhà. Vợ tôi di vào nói với ông Cơ: "Sao không cho vào máy xát? Sao để ông biết?! ông Cơ bảo: “Cháu quên, cháu xin lỗi mợ".

Tháng mười hai, vợ tôi gọi người bán sạch đàn chó béc giê. Vợ tôi bảo: "Anh thôi hút thuốc Galăng đi. Năm nay nhà mình hụt thu hai mươi bảy nghìn, chi lạm mười tám nghìn, cộng là bốn mươi lăm nghìn". Kim Chi hết thời gian nghỉ, đi làm. Nó bảo: “Cám ơn anh chị, em đưa con về nhà đây". Tôi hỏi: "Về đâu?" Thằng Tuân đã bị bắt giam vì tội côn đồ. Kim Chi đưa con về nhà của bố mẹ đẻ. Cha tôi đưa về tận nơi bằng xe tắcxi thuê riêng. Cha tôi ở chơi với ông vụ phó bố của Kim Chi một ngày. Ông này vừa đi công tác ở ấn Độ về, ông biếu cha tôi một mảnh lụa hoa và nửa lạng cao tổng hợp. Cha tôi cho cô Lài mảnh lụa hoa, cho ông Cơ nửa lạng cao.

Trước tết Nguyên đán, ông Cơ nói với hai vợ chồng tôi: "Cháu xin cậu mợ một việc". Vợ tôi hỏi: "Việc gì?" ông Cơ nói vòng vèo, chẳng đâu vào đâu. Đại để ông muốn về thăm quê. ở với chúng tôi sáu năm, cũng có dành dụm, ông Cơ muốn về bốc mộ bà vợ. Để lâu ngày chắc ván đã sụt. “Nghĩa tử là nghĩa tận". ở thành phố, cũng muốn về thăm họ hàng làng xóm cho nó mát mặt. Bây giờ đã vậy, sau này "cáo chết ba năm quay đầu về núi". Vợ tôi cắt lời: "Thế bao giờ đi?" ông Cơ gãi đầu: "Đi mười ngày, về Hà Nội trước hăm ba tết". Vợ tôi tính: "Được. Anh Thuần này (Thuần là tên tôi), anh có nghỉ phép được không?” Tôi bảo: "Được". Ông Cơ bảo: "Chúng cháu muốn mời ông về quê chơi. Như đi du lịch". Vợ tôi bảo: "Tôi không thích. Thế ông bảo sao?" ông Cơ bảo: "Ông đồng ý rồi. Không có ông, cháu cũng chẳng nhớ đến việc cải mộ nhà cháu”. Vợ tôi hỏi: "Thế hai cha con có bao nhiêu tiền?" ông Cơ bảo: "C háu có ba nghìn, ông cho hai nghìn là năm". Vợ tôi bảo: "Được, đừng lấy hai nghìn của ông, tôi bù cho hai nghìn ấy, lại cho thêm năm nghìn. Thế là hai cha con có chục nghìn. Đi được".

Trước hôm đi, vợ tôi làm cơm. Cả nhà ngồi ăn, có cả ông Cơ, cô Lài. Cô Lài vui lắm, mặc bộ quần áo mới may bằng vải cha tôi cho hôm về. Cái Mi và Cái Vi trêu: "Chị Lài xinh nhất". Cô Lài cười thỏn thẻn: "Chả phải. Mợ mới xinh nhất". Vợ tôi bảo: "Em đi chú ý đỡ ông những khi tàu xe". Cha tôi bảo: "Hay thôi không đi?" ông Cơ giãy nảy: "Chết, cháu đã điện rồi: Mang tiếng chết". Cha tôi thở dài: "Tôi có tiếng gì mà mang”."


VII


Cha tôi đi Thanh Hóa cùng ông Cơ và cô Lài vào sáng chủ nhật. Tối thứ hai, tôi đang xem tivi thì nghe tiếng "huỵch”, vội chạy ra ngoài thấy mẹ tôi ngã gục góc vườn. Mẹ tôi lẫn bốn năm nay, cho ăn biết ăn, cho uống biết uống, phải giục đi ngoài. Mọi hôm có cô Lài săn sóc không sao. Hôm nay, tôi sơ ý, cho ăn mà không giục đi ngoài. Tôi đỡ mẹ tôi vào, bà cụ cứ gục mặt xuống. Không thấy có vết đau. Nửa đêm tôi dậy, thấy mẹ tôi lạnh toát, mắt dại đi. Tôi sợ, gọi vợ tôi. Thủy bảo: "Mẹ già rồi". Hôm sau mẹ tôi không ăn, hôm sau nữa, cũng không ăn, không chủ động đi ngoài. Tôi giặt giũ, thay chiếu. Có ngày mười hai lần. Tôi biết Thủy và hai con tôi ưa sạch sẽ nên tôi thay giặt luôn, không giũ ở nhà mà mang ra tận kênh đào. Thuốc đổ vào cứ trớ ra.

Hôm thứ bẩy, mẹ tôi bỗng ngồi dậy được. Đi lững thững một mình ra vườn. ăn được cơm. Tôi bảo: " Mừng rồi". Vợ tôi không nói năng gì, chiều hôm ấy thấy mang về chục mét vải trắng, lại gọi cả thợ mộc. Tôi hỏi: "Chuẩn bị à?" Vợ tôi bảo: "Không". Hai hôm sau, mẹ tôi nằm liệt, lại bỏ ăn, lại đi ngoài như cũ. Người dốc nhanh, thải ra thứ nước nâu sền sệt rất khắm. Tôi đổ sâm. Vợ tôi bảo: “Đừng đổ sâm, khổ cho mẹ". Tôi òa khóc. Rất lâu tôi mới òa khóc như thế. Vợ tôi nín lặng, rồi lại bảo: "Tùy anh”. Ông Bổng sang thăm. Ông nói: “Bà ấy cứ xoay ngang, xoay dọc trên giường như thế này là gay go lắm đấy!” Lại hỏi: “Chị ơi, chị có nhận ra em không?”. Mẹ tôi bảo: " Có". Lại hỏi: "Thế em là ai?" Mẹ tôi bảo: "Là người". Ông Bổng khóc òa lên: "Thế là chị thương em nhất. Cả làng cả họ gọi em là đồ chó. Vợ em gọi em là đồ đểu. Thằng Tuân gọi em là đồ khốn nạn. Chỉ có chị gọi em là người". Lần đầu tiên, cái ông chú đánh xe bò, lỗ mãng, táo tợn, làm đủ mọi điều phi nhân bất nghĩa hóa thành đứa trẻ ngay trước mắt tôi.


VIII


Cha tôi về đến nhà thì sáu tiếng sau mẹ tôi mất. Ông Cơ và cô Lài nói: "Tại chúng cháu. Chúng cháu ở nhà thì bà không mất". Vợ tôi bảo: "Nói nhảm". Cô Lài khóc: "Bà ơi, bà đánh lừa con bà đi! Sao bà không cho con đi hầu bà?" ông Bổng cười: "Mày muốn đi hầu bà thì đi, tao cho đóng ván”. Khi liệm mẹ tôi, cha tôi khóc. Ông hỏi ông Bổng: "Sao người bà ấy rút nhanh thế? Người già ai cũng chết khổ như thế này à?" ông Bổng bảo: “Anh lẩm cẩm. Hôm nào nước mình cũng có hàng nghìn người chết khổ nhục vật vã đau đớn. Mỗi lính tráng các anh, "đòm" phát là sướng".

Tôi cho bắc rạp, bảo thợ mộc đóng quan tài. Ông Cơ cứ loay hoay bên đống ván vợ tôi cho xẻ hôm trước. Ông thợ mộc quát: "Sợ chúng ông ăn cắp gỗ à?" ông Bổng hỏi: "Ván mấy phân?" Tôi bảo: "Bốn phân". Ông Bổng bảo: "Mất mẹ bộ xa lông Ai lại đi đóng quan tài bằng gỗ dổi bao giờ? Bao giờ bốc mộ, cho chú bộ ván". Cha tôi ngồi âm thầm, trông rất đau đớn. Ông Bổng bảo: "Chị Thủy luộc cho tôi con gà, nấu hộ nồi xôi". Vợ tôi hỏi: "Mấy cân gạo hả chú?" Ông Bổng bảo: "Mẹ mày, sao hôm nay cứ ngọt xớt thế? Ba cân"! Vợ tôi bảo tôi: "Họ hàng nhà anh kinh bỏ mẹ".

Ông Bổng hỏi tôi: "Nhà này ai chủ trì kinh tê?" Tôi bảo: "Vợ cháu". Ông Bổng bảo: "Đấy là ngày thường. Tao hỏi đám ma này thì ai chủ trì kinh tế"" Tôi bảo: "Vợ cháu". Ông Bổng bảo: "Không được con ơi, khác máu tanh lòng. Tao bảo bố mày nhé". Tôi bảo: “Ông dể con". Ông Bổng bảo: "Đưa tao bốn nghìn, mày định làm bao nhiêu mâm?" Tôi bảo: "Mười mâm". Ông Bổng bảo: "Không đủ cho đô tùy rửa ruột. Mày bàn với vợ mày đi. Bốn mươi mâm". Tôi đưa cho ông bốn nghìn rồi vào nhà. Vợ tôi bảo: “Em nghe hết rồi, em tính ba chục mâm, tám trăm đồng một mâm, ba tám hai tư. Hai tư nghìn, phụ phí sáu nghìn. Việc mua bán em lo. Cỗ giao cho cô Lài. Đừng nghe ông Bổng, lão ấy đểu lắm". Tôi bảo: "ông Bổng cầm bốn nghìn rồi". Vợ tôi bảo: "Buồn anh lắm". Tôi bảo: "Anh đòi lại nhé". Vợ tôi bảo: "Thôi, coi như trả công. Lão ấy tốt nhưng nghèo”.

Phường bát âm đến bốn người. Cha tôi ra tiếp. Nhập quan lúc bốn giờ chiều. Ông Bổng cạy miệng mẹ tôi cho vào chín đồng vừa tiền chinh Khải Định, vừa tiền một hào nhôm. Ông bảo: “Để đi đò". Lại cho vào cỗ bài tổ tôm, có lẫn cả mấy quân tam cúc. Ông bảo: "Không sao, ngày xưa bà ấy vẫn chơi tam cúc".

Đêm ấy, tôi thức canh quan tài mẹ tôi, ngẫm nghĩ lan man đủ điều. Cái chết sẽ đến với mỗi chúng ta, chẳng trừ ai cả. Ngoài sân, ông Bổng với mấy bác đô tùy ngồi đánh tam cúc àn tiền. Khi nào kết tốt đen, ông Bổng lại chạy vào vái quan tài mẹ tôi: “Lạy chị, chị phù hộ cho em để em vét thật nhẵn túi chúng nó". Cái Mi, cái Vi cũng thức với tôi. Cái Mi hỏi: "Sao chết đi qua đò cũng phẫi trả tiền? Sao lại cho tiền vào miệng bà?" Cái Vi bảo: "Đấy có phải ngậm miệng ăn tiền không bố"" Tôi khóc: "Các con không hiểu đâu. Bố cũng không hiểu, đấy là mê tín". Cái Vi bảo: "Con hiểu đấy. Đời người cần không biết bao nhiêu là tiền. Chết cũng cần". Tôi thấy cô đơn quá. Các con tôi cũng cô đơn. Cả đám đánh bạc, cả cha tôi nữa.


IX


Từ nhà tôi ra nghĩa dịa đi tắt chỉ năm trăm mét nhưng đi đường chính qua cổng làng phải hai cây số. Đường bé, không đẩy xe đòn được mà phải khiêng vai. Đô tùy thay nhau đến ba chục người, có nhiều người vợ chồng tôi không biết tên gì. Họ khênh quan tài hồn nhiên như việc bình thường vẫn làm, như khênh cột nhà. Vừa đi vừa nhai trầu, hút thuốc, tán chuyện. Khi nghỉ, đứng ngồi ngổn ngang ngay bên quan tài. Có người nằm lăn ra nói: "Mát thật, không bận cứ ngủ ở đây đến tối". Ông Bổng bảo: "Các bố ơi, đi đi còn về nhắm". Thế là đi. Tôi chống gậy giật lùi trước quan tài theo tục lệ , “cha đưa mẹ đón”. Ông Bổng bảo: "Bao giờ tôi chết, đô tùy của tôi toàn dân cờ bạc, cỗ không thịt lợn mà thịt chó". Cha tôi bảo: "Chú ơi, lúc này mà chú đùa à?" Ông Bổng nín bặt, lại khóc: "Chị ơi, chị đánh lừa em chị đi... Chị bỏ em chị đi... ". Tôi nghĩ: "Sao lại đánh lừa? Chẳng lẽ người chết đều đã đánh lửa người sống cả sao? Bãi tha ma này toàn quân lừa lọc?"


Chôn cất xong, mọi người về nhà. Bày ra một lúc hai mươi tám mâm. Nhìn mâm cỗ, tôi thật kính trọng cô Lài. Mâm nào cũng gọi: "Lài đâu?" Cô Lài miệng dạ tíu tít, chạy ra bê rượu, bê thịt. Đến tối, cô Lài tắm giặt, mặc quần áo mới ra hương án khóc: "Bà ơi, cháu xin lỗi bà, cháu không đưa bà ra đồng... Hôm trước bà thèm canh cua, cháu ngại làm, bà chẳng được ăn... Bây giờ đi chợ, cháu biết mua quà cho ai?... " Tôi thấy đắng ngắt. Tôi nhớ đã chục năm nay tôi chưa lần nào mua được cho mẹ chiếc bánh hay là gói kẹo. Cô Lài lại khóc: "Cháu ở nhà thì bà có chết không bà?" Vợ tôi bảo: "Đừng khóc”. Tôi cáu: "Cứ để cho cô ấy khóc, đám ma không có tiếng khóc buồn lắm. Nhà mình có ai biết khóc bà cụ thế đâu?” Vợ tôi bảo: "Ba mươi hai mâm. Anh phục em tính sát không?" Tôi bảo: " Sát”. Ông Bổng bảo: "Tôi đi xem giờ. Bà cụ được một cái nhập mộ, hai cái trùng tang, một cái thiên di. Có yểm bùa không?" Cha tôi bảo: "Bùa con khỉ. Trong đời mình, tôi chôn ba nghìn người chẳng có người nào thế này". Ông Bổng bảo: "Thế là sướng, "đòm" phát là xong". Ông giơ một ngón tay trỏ làm hiệu bóp cò.


X


Tết năm đó, nhà tôi không mua hoa đào, không gói bánh chưng. Chiều mồng hai, đơn vị cũ của cha tôi cho người về viếng mẹ tôi. Biếu năm trăm đồng. Ông Chưởng, phó của cha tôi bây giờ lên tướng, ra mộ thắp hương. Anh Thanh đại úy cần vụ đi theo rút súng bắn ba phát lên trời. Sau này, trẻ con trong làng kháo bộ đội bắn hai mốt phát đại bác viếng bà Thuấn. Ông Chưởng hỏi cha tôi: "Anh muốn về thăm đơn vị dối già không? Tháng năm tập trận. Đơn vị cho xe về đón". Cha tôi bảo: “Được". Ông Chưởng đi thăm cơ ngơi nhà tôi, có ông Cơ hướng dẫn. Ông Chưởng bảo cha tôi: "Cơ ngơi của anh ác thật. Vườn cây, ao cá, chuồng lợn, chuồng gà, biệt thự. Thế là vững tâm". Cha tôi bảo: "Con tôi làm đấy". Tôi bảo: "Đấy là vợ cháu". Vợ tôi bảo: "Cô Lài chứ! " Cô Lài cười thỏn thẻn, dạo này dầu cứ gật gật liên hồi như bị động kinh: "Chả phải". Cha tôi đùa: "Thế thì do mô hình V.A.C ". Sáng mồng ba, Kim Chi đi xích lô bế con về thăm. Vợ tôi mừng tuổi một nghìn. Cha tôi hỏi: “Thằng Tuân có thư từ gì không?" Kim Chi bảo: "Không". Cha tôi bảo: "Lỗi ở bác đấy. Tao không biết mày có chửa". Vợ tôi bảo: "Chuyện ấy là thường. Bây giờ làm gì còn có trinh nữ. Con làm ở bệnh viện sản, con biết". Kim Chi ngượng. Tôi bảo: "Đừng nói thế, nhưng mà làm trinh nữ thì mệt thật". Kim Chi khóc: "Anh ơi, đàn bà chúng em nhục lắm. Đẻ con gái ra em cứ nát ruột nát gan". Vợ tôi bảo: "Tôi còn hai con gái cơ". Tôi bảo: "Thế các người tưởng làm đàn ông thì không nhục à?" Cha tôi bảo: "Đàn ông thằng nào có tâm thì nhục.. Tâm càng lớn, càng nhục". Vợ tôi bảo: “Nhà mình nói năng như điên khùng cả. Thôi đi ăn. Hôm nay có cô Kim Chi, tôi đãi mỗi người một con gà hầm tâm sen. Tâm đấy. Ăn là trên hết".


XI


Gần nhà tôi ở có cậu Khổng, trẻ con gọi là Khổng Tử. Khổng làm ở xí nghiệp nước mắm nhưng lại thích thơ, làm thơ gửi báo Văn nghệ. Khổng hay sang chơi. Khổng bảo: "Thơ siêu nhất”. Cậu đọc cho tôi nghe Loócca, Uýtxman v. v... Tôi không thích Khổng, ngờ ngợ cậu ta sang chơi vì một cái gì phiêu lưu còn hơn cả thơ ca nữa. Một bận, thấy trong giường của vợ tôi có một tập thơ chép tay. Vợ tôi bảo: "Thơ của cậu Khổng, anh có đọc không?" Tôi lắc đầu. Vợ tôi bảo: “Anh già rồi". Bất giác tôi thoáng rùng mình. Một hôm bận trực cơ quan nên tôi về muộn. Cha tôi đón cổng, ông bảo: “Thằng Khổng sang chơi từ chập tối. Nó với vợ mày cứ rúc rích với nhau, bây giờ chưa về, chướng quá". Tôi bảo: "Cha đi ngủ đi, để ý làm gì?" Cha tôi lắc đầu, bỏ đi lên gác. Tôi dắt xe máy ra đường, phóng lang thang khắp phố cho kỳ hết xăng. Tôi dắt xe đến ngồi ở một góc vườn hoa như một tên du thủ du thực. Có một cô mặt đánh phấn đi ngang qua hỏi: "Ông anh ơi, có đi chơi không?" Tôi lắc đầu. Khổng có ý tránh mặt tôi. Ông Cơ ghét lắm, một hôm bảo tôi: "Cháu đánh nó nhé?" Suýt tôi gật đầu. Lại nghĩ: "Thôi". Tôi vào thư viện mượn thử ít sách. Đọc Loócca, Uýtxman... tôi cứ mơ hồ thấy những nghệ sĩ trác tuyệt là những con người cô đơn khủng khiếp. Bỗng thấy thằng Khổng có lý. Chỉ tức nó đểu. Sao nó không đưa thơ nó cho người khác xem mà lại đưa cho vợ tôi? Cha tôi bảo: "Anh nhu nhược. Duyên do là anh đếch sống được một mình”. Tôi bảo: "Không phải, cuộc đời nhiều trò dùa lắm". Cha tôi bảo: "Anh cho là trò đùa à?" Tôi bảo: "Không phải trò đùa, nhưng cũng không phải nghiêm trọng". Cha tôi bảo: "Sao tôi cứ như lạc loài?” Cơ quan định cử tôi đi công tác phía Nam. Tôi bảo vợ tôi: "Anh đi nhé?" Vợ tôi bảo: "Đừng đi. Mai anh sửa cửa nhà tắm, cái cửa hỏng rồi. Hôm nọ cái Mi đang tắm, thằng Khổng đi qua định giở trò đểu làm nó hết hồn. Thằng khốn nạn ấy em cấm cửa rồi". Vợ tôi òa khóc: "Em thật có lỗi với anh, với con". Tôi khó chịu quay đi. Nếu có cái Vi bây giờ thì nó sẽ hỏi tôi rằng: "Bố ơi, đấy có phải nước mắt cá sấu không?"


XII

Tháng Năm, đơn vị cũ cho xe về đón cha tôi. Anh Thanh đại úy cầm thư của ông Chưởng về. Cha tôi cầm thư run run. Thư viết: "... Chúng tôi cần anh, mong anh... nhưng anh đi được thì đi, không ép". Tôi nghĩ cha tôi không nên đi nữa nhưng nói ra bất tiện. Cha tôi già sụp hẳn đi từ khi về hưu. Hôm nay cầm thư, thấy ông nhanh nhẹn và trẻ trung hẳn. Tôi cũng vui lây. Vợ tôi chuẩn bị đồ đạc cho vào cái sắc du lịch. Cha tôi không nghe, ông bảo: "Cho vào ba lô". Cha tôi đi chào làng nước một lượt, ra cả ngoài mộ mẹ tôi, lại bảo anh Thanh bắn ba phát súng lên trời. Buổi tối cha tôi gọi ông Cơ đến cho hai nghìn, bảo khắc một cái bia dá gửi về Thanh Hóa đánh dấu mộ vợ. Cha tôi lại gọi cô Lài dến bảo: "Cháu lấy chồng đi". Cô Lài òa khóc: "Cháu xấu xí lắm, chẳng ai lấy. Lại cả tin nữa". Cha tôi nghẹn ngào: “Con ơi, con không hiểu rằng cả tin chính là sức mạnh để sống hả con?" Tôi cũng không ngờ những điều như thế lại là diềm báo chuyến này cha tôi ra đi không về. Trước khi lên xe, cha tôi lấy trong ba lô ra quyển vở học sinh. Ông đưa cho tôi. Ông bảo: "Trong này cha có ghi chép ít điều, con đọc thử xem". Cái Mi, cái Vi chào ông. Cái Mi hỏi: "ông đi ra trận hả ông?" Cha tôi bảo: "ừ”. Cái Vi hỏi:
 

Đường ra trận mùa này đẹp lắm có phải không ông?" Cha tôi chửi: "Mẹ mày! Láo!”

XIII

Cha tôi đi được vài ngày thì ở nhà xảy ra chuyện cười nôn ruột. Số là ông Cơ cùng với ông Bổng vớt bùn dưới ao (vợ tôi trả ông Bổng hai trăm đồng một ngày công, cơm nuôi), bỗng thấy một cái đít chum nổi lên. Hai ông hì hục đào, lại thấy một đít chum nữa, ông Bổng đoán chắc các cụ ngày xưa chôn của. Hai ông báo với vợ tôi. Thủy đến xem, cũng lội xuống đào. Rồi cả cô Lài, cả cái Mi, cái Vi. Cả nhà bê bết bùn đất. Vợ tôi bắt phải ngăn ao, lại đi thuê máy bơm Côle về tát nước. Không khí thật nghiêm trang. Ông Bổng thích lắm: "Công tao thấy trước, cứ phải chia cho tao rnột chum". Hì hục một ngày đào được hai cái chum sứt trong chẳng có gì. Ông Bổng bảo: " Chắc còn nữa". Lại đào. Được thêm một cái chum nữa, cũng vỡ. Cả nhà mệt lả, bụng đói cồn cào. Vợ tôi sai mua bánh mì về ăn lấy sức đào tiếp. Đào gần chục mét thì vớ được cái lọ sành. Cả nhà mừng rỡ, ai cũng đoán vàng. Mở ra trong thấy toàn một chuỗi "Bảo Đại thông báo" bằng đồng đã han rỉ cả. Lại thấy một cái mề đay mủn nát. Ông Bổng bảo: "Thôi chết, tao nhớ ra rồi.”


Ngày xưa tạo với trùm Nhân ăn trộm ở nhà Hàn Tín, bị đuổi, trùm Nhân vứt cái lọ này xuống ao". Cả nhà được một mẻ cười nôn ruột. Trùm Nhân là tên ăn trộm khét tiếng ở vùng ngoại ô. Hàn Tín trước kia là lính thuộc địa cho Tây, tham gia phong trào "Rồng Nam phun bạc, đánh đuổi Đức tặc". Cả hai đã chết mục xác từ thuở nảo thuở nào. Ông Bổng bảo: "Không sao, bây giờ cả làng này chết tao cũng đủ tiền đi đò nhét vào miệng họ”. Sáng hôm sau, ngủ dậy thì tôi nghe thấy có tiếng gọi cổng. Tôi ra thấy Khổng đứng ngoài. Tôi nghĩ: ”Mẹ khỉ, cái thằng đểu này là điềm gở nhất của số phận mình”. Khổng bảo: "Anh Thuần ơi, anh có điện. Ông cụ mất rồi!"


XIV


Điện của ông Chưởng: "Thiếu tướng Nguyễn Thuấn, hy sinh khi làm nhiệm vụ hồi... giờ... ngày mai táng tại nghĩa trang liệt sĩ hồi... giờ... ngày" Tôi lặng người. Vợ tôi xếp đặt mọi việc rất nhanh. Tôi ra thuê xe, về nhà đã thấy gọn đâu vào đấy Vợ tôi bảo: "Khóa cửa nhà trên. Ông Cơ ở lại". Xe đi Cao Bằng theo đường số Một. Đến nơi thì lễ an táng cha tôi cử hành đã được hai tiếng đồng hồ. Ông Chưởng bảo: “Chúng tôi có lỗi đối với gia đình". Tôi bảo: “Không phải thế. Đời người có mệnh". Ông Chưởng bảo: "Cha anh là người đáng trọng". Tôi hỏi: "Theo nghi lễ quân đội hả chú". Ông Chưởng bảo: “Cụ ra trận địa, đòi lên chốt". Tôi bảo: " Cháu hiểu rồi, chú đừng kể nữa". Tôi khóc, chưa bao giờ tôi khóc như thế. Bây giờ tôi mới hiểu khóc như cha chết là khóc thế nào. Hình như đấy là cái khóc lớn nhất đời một con người.

Mộ của cha tôi đặt trong nghĩa trang liệt sĩ. Vợ tôi mang theo máy ảnh bảo chụp mấy kiểu. Hôm sau tôi xin về luôn, ông Chưởng giữ lại nhưng tôi không nghe. Đường về vợ tôi bảo xe đi chậm. Ông Bổng lần đầu mới được đi xa, thích lắm. Ông bảo: “Nước mình thật đẹp như tranh. Bây giờ tôi mới hiểu vì sao phải yêu đất nước. Chứ ở quê ta, dù ngay Hà Nội có văn minh thật, tôi chẳng thấy yêu gì cả". Vợ tôi bảo: "Tại chú quen đấy. ở nơi khác cũng thế, họ lại thấy yêu Hà Nội". Ông Bổng bảo: “Thế là nơi này yêu nơi kia, người này yêu người kia. Tất cả đều đất nước mình, nhân dân mình cả. Vậy thì đất nước muôn năm, nhân dân muôn năm. Hoan hô đèn cù! "

XV

Có lẽ câu chuyện của tôi kết thúc ở đây. Sau đó nếp sống của gia đình tôi trở lại như là trước ngày cha tôi nghỉ hưu. Vợ tôi tiếp tục công việc bình thường. Tôi đã hoàn thành công trình nghiên cứu điện phân. Ông Cơ trở nên ít nói, một phần vì bệnh cô Lài nặng hơn. Lúc rỗi, tôi giở đọc những điều cha tôi ghi chép. Tôi hiểu cha tôi hơn. Trên đây là những sự việc lộn xộn của hơn một năm cha tôi nghỉ hưu mà tôi chép lại. Tôi coi đấy như nén hương thắp nhớ người. Nếu có ai đã có lòng để mắt đọc điều tôi viết, xin lượng thứ cho tôi.

Tôi xin cảm tạ.

Thứ Bảy, 21 tháng 3, 2015

But only God can make a tree (2): Bài thơ của Chúa

Bài thơ của Chúa thật ra là cái tựa tôi đặt cho mẩu tùy bút mà tôi mới viết cho một tờ báo lưu hành nội bộ của một nhóm giáo dân Công giáo. Mẩu tùy bút ấy viết về bài thơ Trees mà tôi có nhắc đến trong bài viết Hồn cây đăng trên Tạp chí Tia  Sáng ngày 20/3 vừa qua, và đã đăng lại trên trang blog này. Khi nào bài tùy bút kia được đăng thì tôi cũng sẽ đăng lên blog, các bạn đón đọc nhé.

Quay lại bài thơ Trees. Việc dịch bài thơ này là một điều tôi đã muốn làm từ rất lâu, nhưng không làm, do tính cách tùy hứng của tôi. Hứng thì rõ ràng là không kiểm soát được, nên nếu nó không đến tôi cũng đành ... bó tay thôi. Nhưng mấy ngày qua, nhân vụ chặt cây ở Hà Nội, vấn đề bảo vệ cây cối, bảo vệ môi trường bỗng trở nên một đề tài nóng, và bài thơ bỗng trở nên hợp thời. Tôi đọc lại bài thơ, viết về nó, rồi lại đọc về tác giả, đọc cả những lời bình luận về bài thơ mà chủ yếu là chê bai về mặt nghệ thuật, tìm ra được cả một giải thưởng thơ ... dở (giống giải Cù nèo vàng của VN) mang tên Joyce Kilmer, tác giả của bài thơ, trong đó bài thơ Trees của ông được chọn là hình mẫu tiêu biểu của thơ ... dở!

Thiệt là hết nói!


Thật ra khi đọc kỹ, tôi thấy rằng việc đưa tên nhà thơ Joyce Kilmer vào đặt tên cho giải thưởng thơ ... dở không phải là để phê phán hoặc hạ bệ ông, mà vẫn là để tưởng niệm và tôn vinh nhà thơ. Việc chỉ ra sự ngô nghê trong bài thơ, thừa nhận là nó không hay (thậm chí là ... dở!) về mặt nghệ thuật được người ta thực hiện một cách thẳng thắn nhưng trìu mến. Nói ngắn gọn, rõ ràng là dù bài thơ hay dở như thế nào thì nó vẫn rất nổi tiếng và được nhiều người yêu mến.


Vì sao chứ? Tôi không biết. Well, thật ra thì tôi biết, nhưng nếu giải thích ra, rồi lại phải chứng minh nữa chứ, thì dài dòng lắm. Mà ngay lúc này thì tôi không muốn làm những việc đầy lý tính như vậy. Chỉ muốn nghỉ ngơi, chỉ muốn cho tâm trí trôi đi theo những suy nghĩ lan man, đẩy đưa như một giòng sông vô định.

Theo kinh nghiệm của tôi thì trong những lúc như vậy, dịch thơ là phù hợp nhất. Ừ nhỉ, sao tôi không dịch cho xong bài thơ mà tôi đã tự hứa với mình là sẽ dịch cho xong vào lúc nào đấy. Còn chờ đến bao giờ, lúc ấy là lúc này chứ còn gì nữa.

Vậy thì đây, bài thơ Trees, mà giờ đây đối với tôi, nó đã trở thành Bài thơ của Chúa. Nói đúng hơn, nó là bài thơ viết về cây cối trong cảm xúc quy về Thiên Chúa. Nhưng ai lại đặt cái tựa dài dòng như thế bao giờ. Đối với tôi, nó sẽ là Bài thơ của Chúa. Ai thích thì hoan nghênh, còn ai không thích thì cấm hó hé nhé, chỉ được giữ yên trong bụng mà thôi, hi hi.

Đây, bài thơ của Chúa, qua phần phỏng dịch của tôi. Nếu bản dịch hay, đấy là do tài viết văn của tôi ạ (!). Còn nếu nó dở, ngây ngô, giống như vè, well, chẳng phải bản gốc cũng thế đó sao? Vậy là tôi đã dịch rất thành công rồi đó! (a win-win situation, ha ha!)

PS: Nhân tiện xin bật mí: bài thơ này giờ đã có vài người dịch sang tiếng Việt rồi. Có hẳn một phong trào đọc, dịch và phổ biến bài thơ này đang nhen nhúm thì phải - vì nó khá hợp thời. Thế nào cũng có những bài hay hơn bản phỏng dịch của tôi dưới đây nhiều. Nhưng dù có thế, thì bản của tôi vẫn là (một trong) những bản dịch đầu tiên, có tính lịch sử của nó đấy nha các bạn! :-D

-----------------
Bài thơ của Chúa
Tác giả: Joyce Kilmer 1913
Phương Anh dịch 2015

I think I will never see
A poem lovely as a tree.
Trần gian nô nức làm thơ
Câu thơ ngơ ngẩn bao giờ như cây?


A tree whose hungry mouth is prest
Against the earth’s sweet flowing breast;
Cành cao vươn tận trời mây
 Rễ sâu bám chặt bầu đầy sữa thơm.


A tree that looks at God all day,
And lifts her leafy arms to pray;
Tàn xanh ngước mặt ngày đêm
Trông lên Thượng đế linh thiêng nguyện cầu.


A tree that may in Summer wear
A nest of robins in her hair;
Hè sang  rộn rã rừng sâu
Lừng vang chim hót, muôn màu lá hoa.


Upon whose bosom snow has lain;
Who intimately lives with rain.
Đông về tuyết phủ bao la
Vẫn quen gió rét mưa sa đợi chờ.


Poems are made by fools like me
But only God can make a tree.
Gã khờ cũng biết làm thơ
Cây xanh lá thắm phải chờ Chúa thôi.  


-------------
Nhân dịp, xin giới thiệu bản dịch trung thành hơn của một bạn trẻ mà tôi có biên tập lại đôi chút:

Tôi vẫn biết chẳng thể nào tìm thấy
Bài thơ nào đẹp đẽ tựa nàng cây

Rễ cắm sâu đầy háo hức khát khao
Tìm giòng sữa ngọt ngào từ đất mẹ

Ngày lại ngày cây ngắm nhìn Thiên Chúa
Vươn lên cao đôi tay lá nguyện cầu

Mùa hè sang nàng lại khoác trên đầu
Tổ Hồng tước làm duyên trên mái tóc

Đông lại về tuyết phủ đầy trên ngực
Nàng cây hiền thân thiết sống cùng mưa

Thơ tôi đây những con chữ dại khờ
Chỉ có Chúa mới tạo thành cây cối

Thứ Sáu, 20 tháng 3, 2015

Viết nhân quyết định chặt 6,700 cây cổ thụ tại Hà Nội

Mẩu tùy bút này tôi viết trong buổi sáng nay, sau khi đọc nhiều mẩu tin không muốn đọc về việc chặt cây ở Hà Nội. Viết gần xong thì Tạp chí Tia Sáng liên hệ nhờ viết bài về vụ chặt cây đang gây bức xúc rộng rãi trên toàn xã hội này. Bèn hoàn tất và gửi luôn cho Tia Sáng.

Giờ, đã nhận được tin báo là bài viết đã được đưa lên trang mạng của tờ tạp chí này, có biên tập lại chút ít. Điều làm tôi thích nhất là tòa soạn đã đặt lại giúp tôi cái tựa là "Hồn cây". Rất đúng ý của tôi.

Nay, xin đăng lại bài gốc chưa biên tập lên đây để chia sẻ với các bạn. Cũng là một cách để cảm ơn những nhà lãnh đạo Hà Nội đã quyết định (tạm?) dừng dự án đầy tính phá hoại kia. Và hơn nữa, là để cảm ơn những người đã lên tiếng về việc này - từ những người nổi tiếng như Trần Đăng Tuấn, Ngô Bảo Châu, đến những người trẻ Hà Nội đã không chỉ lên tiếng mà còn hành động với những thông điệp gắn lên từng gốc cây kèm theo chiếc nơ xanh: "Tôi đang khỏe mạnh. Xin đừng giết tôi."

Vâng, bức ảnh độc đáo nhất mà tôi đã thấy trên facebook trong buổi sáng này là hình ảnh một thanh niên chỉ khoảng mười tám, đôi mươi, mặc áo sơ mi trắng đứng giang tay trong một cái hố vốn trước đó là một cây cổ thụ giờ đã bị đốn, trước ngực đeo tấm bảng: I am a tree - Tôi là cây xanh.

Và cuối cùng, trước khi bạn đọc mẩu tùy bút của tôi, xin hãy đọc lại mấy câu thơ của Joyce Kilmer. Đó là hai câu đầu và hai câu cuối, với phần dịch của tôi:


I think that I shall never see/A poem lovely as a tree. 
(Kẻ khờ chỉ biết làm thơ/Câu thơ ngơ ngẩn bao giờ [đẹp] như cây?)
Poems are made by fools like me/But only God can make a tree.
(Gã khờ cũng biết làm thơ/Cây xanh lá thắm phải chờ Chúa thôi.) 
Hãy nhớ rằng chúng ta không phải là Thượng đế, các bạn nhé!
Link bài đã đăng trên Tia Sáng ở đây: http://www.tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=116&News=8484&CategoryID=42
---------------------------
Hồn cây
Tháng ba, Sài Gòn đang nóng lên từng ngày dưới cái nắng gay gắt báo hiệu sự khởi đầu của mùa khô ngột ngạt và ọi bức. Buổi trưa đi trên đường, ai cũng cố tìm những đoạn đường có cây xanh mà đi, để được hưởng chút bóng râm và hít làn không khí mát rượi vào đầy lồng ngực. Không phải con đường nào ở SG cũng có cây xanh; nói đúng hơn, hầu hết các con đường ở Sài Gòn là thiếu bóng mát.  Di chuyển trên những đoạn đường như vậy vào buổi trưa quả là một cực hình, và chắc chắn không có một ai lại không mong tất cả mọi con đường ở Sài Gòn – và mơ mộng hơn nữa là khắp đất nước Việt Nam – đều có cây xanh bao phủ.
Nhắc đến cây xanh, có lẽ ngay lúc này đây không ai không nghĩ đến Hà Nội. Thành phố với bề dày lịch sử trên ngàn năm này có lẽ là nơi có nhiều cây cổ thụ đẹp nhất nước. Ai đến Hà Nội mà không biết về những con đường bốn mùa rợp bóng cây, mỗi khu vực là một loại cây đặc trưng, nào xà cừ, lim đen, long não – những cây cao bóng cả vốn đã làm nên linh hồn của thủ đô và sẽ còn mãi mãi trong tâm tưởng mọi người qua những câu thơ, những bài hát mà ai cũng thuộc. Người Hà Nội hẳn ai cũng yêu quý và hãnh diện về hồn phố của mình. Vậy mà đùng một cái, người ta quyết định đốn hạ đến 6,700 cây xanh trên 190 tuyến phố.
Nói, là làm. Như một chiến dịch đang lúc cao điểm, mấy ngày qua Hà Nội bắt đầu phải chứng kiến cảnh cây cối bị đốn hạ la liệt. Tiếng cưa máy râm ran, cảnh cưa cây, kéo cành, đào rễ nhộn nhịp, cây đổ ngổn ngang. Những chiếc xe tải chở thân cây đã bị đốn chạy ngược xuôi trên đường, chẳng khác gì cảnh tượng sau một trận đánh, với những tổn thất về tài sản và nhân mạng. Những cành cây bị chặt ngang để lộ thân đỏ au như máu. Những gốc cây đã bị chặt trơ trụi để lại một khoảng trống mênh mang trên bầu trời và trong lòng người. Mà không chỉ lòng người Hà Nội ….
Hoang mang và đớn đau khi hàng ngày phải đọc những mẩu tin không ai muốn tin, nhìn những tấm hình không ai muốn thấy, tôi lẩn thẩn lên mạng tìm hình ảnh cây xanh ở thành phố tôi đang sống. Vâng, vẫn còn đó một vài con đường rợp bóng cây quanh khu trung tâm của Sài Gòn và Chợ Lớn cũ, những con đường Nguyễn Du, Lý Tự Trọng ở Quận 1, những An Dương Vương ở Quận 5. Nhưng nhìn chung thì Sài Gòn của tôi không có nhiều cây xanh, tôi biết. Cứ mỗi lần đi trên những đoạn đường không có cây xanh dưới bầu trờ nắng chang chang và đầy bụi khói vào mùa khô như đường Lý Thường Kiệt, đoạn từ Quận 11 xuống đến Quận Tân Bình, hoặc đoạn đường Quang Trung, Nguyễn Kiệm ở khu vực Gò Vấp, tôi lại tiếc đến quặn lòng hàng cây cổ thụ mà người ta đã đốn hạ trước Nhà hát thành phố để xây dựng trạm Metro. Và không chỉ có thế, mà có hẳn một kế hoạch chặt cây đã được duyệt từ trước, sẽ được thực hiện tuần tự theo thời gian.
Vẫn biết việc phát triển giao thông cho thành phố ngày càng đông dân này là cần thiết, nhưng phải chăng chặt phá cây xanh là cách làm duy nhất khi cần phát triển? Phải chăng người ta chỉ cần thức ăn cho thể xác mà không cần sự nuôi dưỡng tâm hồn? Đã 40 năm rồi, mà tôi vẫn nhớ những con đường đầy cây xanh đẹp tuyệt vời mà tôi đã biết  thời niên thiếu. Một trong những hình ảnh mà tôi nhớ mãi là đoạn đường Trần Quý Cáp (giờ là Võ Văn Tần) từ Lê Văn Duyệt (giờ là Cách Mạng Tháng Tám) đến Hồ Con Rùa, nơi vào mùa mưa, lá me non lên xanh mơn mởn, hai bên đường hai hàng me có tán lá giao nhau đẹp tuyệt đẹp mà bọn học trò Gia Long thời của tôi đã đạp xe qua lại không biết bao nhiêu lần.
Tôi vẫn nhớ thời ấy, tâm hồn chúng tôi vui sướng thảnh thơi, dù bên ngoài là chiến tranh khốc liệt nhưng bên trong từng ngôi trường vẫn là một khungcảnh bình yên để nuôi dưỡng cái đẹp của tâm hồn. Xa trường, chúng tôi vẫn mãi nhớ gốc Phượng đỏ rực vào mùa hè, nhớ hàng cây nhạc ngựa trên đường Bà Huyện Thanh Quan ngay bên hông trường với những chùm hoa xanh xanh và những trái to nâu xù xì, khi già chin rụng những hạt có cánh màu nâu cánh gián bay bay trong gió….
Có phải vì tâm hồn trẻ thơ đã được nuôi dưỡng trong môi trường xanh tươi êm ả như vậy mà những ngôi trường truyền thống như Gia Long (giờ là Nguyễn Thị Minh Khai), Petrus Ký (giờ là Lê Hồng Phong) đã tạo ra không biết bao nhiêu tài năng cho đất nước trong suốt lịch sử tồn tại và phát triển của chúng hay chăng?
Tôi lẩn thẩn nghĩ đến ngày hôm nay. Nghĩ đến một nữ sinh cấp hai bị lớp trưởng đánh đập tàn nhẫn đến đổ máu trước sự chứng kiến và thậm chí giúp sức của những bạn bè cùng lớp – vụ việc chỉ mới xảy ra cách đây ít lâu ở một tỉnh đồng bằng sông Cửu Long. Nghĩ đến mấy ngàn vụ đánh nhau đến bị thương phải nhập viện trong các lễ hội vào dịp Tết nguyên đán vừa qua. Nghĩ đến sự thản nhiên, thậm chí thích thú của người dân trong các lễ hội chém lợn, đập trâu ở các tỉnh phía Bắc. Nghĩ tới cụm từ “sa mạc hóa tâm linh” mà một bài viết nào đó đã nhắc đến khi bình luận về những biểu hiện trầm trọng của sa sút về tâm hồn của con người Việt Nam qua những ứng xử công cộng trong dịp Tết vừa qua. Và không thể không thấy sự tương đồng và mối liên hệ khăng khít giữa những hình ảnh lễ hội mang tính chém giết máu me ghê rợn ấy với những cảnh cây cối bị đốn hạ ngổn ngang, thân cây tóe máu, gốc cây cụt lủn như những thân lợn bị chém ở cái lễ hội man rợ kia.
Có một bài thơ cách đây hơn 100 năm có tựa là Trees của Joyce Kilmer, một nhà thơ người Mỹ. Bài thơ khá đơn giản, dễ thuộc và rất nổi tiếng, thường được đưa vào sách giáo khoa cho trẻ em Mỹ học, nhưng cũng bị chê là hơi ngô nghê như vè vì nó quá đơn giản cả về ngôn từ lẫn nhịp điệu, thiếu vẻ đẹp cầu kỳ, trúc trắc của văn chương bác học. Bài thơ chủ yếu nhằm giáo dục về lòng yêu thiên nhiên cho trẻ em. Vâng, mục tiêu giáo dục của bài thơ lộ liễu quá nên thiếu tính văn chương, nhưng tôi lại rất yêu thích vì nó đúng với suy nghĩ của mình, và càng đúng cho bối cảnh của Việt Nam hiện nay.  Bài thơ ấy có hai câu chót như thế này:
Poems are made by fools like me/But only God can make a tree. (Gã khờ cũng biết làm thơ/Cây xanh lá thắm phải chờ Chúa thôi – tôi dịch).
Vâng, đối với những người phương Tây có lòng tin thì chỉ Thiên Chúa mới có thể tạo ra những loài cây.  Tất nhiên, Thiên Chúa cũng tạo ra con người nữa. Một cách nào đó, cây cối với con người là anh em. Điều này cũng giống với tín ngưỡng bản địa của người Việt, nơi mỗi cái cây, mỗi hòn đá đều có linh hồn – “cây gạo có ma, cây da có hồn” như trong câu nói dân gian.  Ai xâm phạm đến các linh hồn ấy chắc chắn sẽ phải trả giá bằng cách này hay cách – niềm tin ngây thơ của người dân Việt xa xưa đã dạy cho chúng ta như thế.


Tôi bỗng chợt hỏi mình: Phải chăng sự tuột dốc về nhân cách và sa sút về đạo đức ngày càng ở mức báo động trên diện rộng ở Việt Nam chính là cái giá mà chúng ta đang phải trả cho sự tàn phá môi trường sống an lành đẹp đẽ mà chúng ta đã thừa hưởng của cha ông?
Và lờ mờ nhận ra giải pháp cho việc giáo dục nhân cách, cho việc bồi đắp các giá trị “nhân ái, nghĩa tình” của người Việt mà Hội đồng lý luận trung ương vừa chỉ ra cách đây ít lâu, và cho phong trào “giáo dục môi trường” hiện nay đang được quan tâm trên toàn thế giới, trong đó có Việt Nam trước xu thế hội nhập quốc tế  của đất nước. Những điều mà chúng ta đang cố gắng nhắm đến một cách rất khó khăn, hóa ra lại có thể bắt đầu một cách vô cùng đơn giản: Hãy bắt đầu bằng sự cẩn trọng và cân nhắc hết mức của các cấp lãnh đạo mỗi khi phải ra quyết định phá hủy môi trường dưới danh nghĩa của sự phát triển. Và bằng thái độ và hành động yêu quý, trân trọng từng gốc cây, từng ngọn cỏ, từng bông hoa của mỗi người lớn chúng ta.
Để câu hát của Trịnh Công Sơn không còn ám ảnh: “Gia tài của mẹ là nước Việt buồn.”

Thứ Bảy, 7 tháng 3, 2015

Lên đường đầu năm: Hung hãn và nhân ái (Hồng Vân, IJAVN)



Lên đường đầu năm: Hung hãn và nhân ái

Có một bài viết trên blog cá nhân vào dịp Tết Ất Mùi của NS Tuấn Khanh đang được cộng đồng mạng rất quan tâm và chia sẻ. Tác giả đã mô tả tình trạng hỗn độn và bạo lực tràn lan của xã hội Việt Nam trong mấy ngày Tết bằng một đoạn văn ngắn:

Sự hung hãn của [...] xã hội [...] được mô tả bằng bản tin hơn 5000 người Việt đánh nhau đến nhập viện trong một mùa xuân cầu mong yên lành. Sự hung hãn được chỉ định bằng việc giết heo trong lễ hội theo lối yêu trảm (chém ngang lưng) du nhập từ đời nhà Tần phương Bắc sang Việt Nam. Sự hung hãn được xác nhận như phần cần thiết của lễ hội mua thần bán thánh, từ miệng của một quan chức cấp cao, phó chủ tịch Uỷ ban Nhân Dân Sóc Sơn “Lễ hội không tổ chức phát lộc cho người dân nên ai muốn có phải cướp. Xô xát là bình thường”. 

Chỉ vài dòng, mà cả một xã hội nhốn nháo, u mê và độc ác đã lồ lộ hiện ra. Cái xã hội xấu xí ấy vừa hung hăng giành giựt ăn thua đủ với nhau về những vấn đề vớ vẩn, vừa rất đớn hèn khi cần dũng khí, như khi có giặc ngoại xâm, hay khi cần bệnh vực người yếu chống lại kẻ ác.

Bài viết của NS Tuấn Khanh đúng lắm và đau lắm.

Đau đến độ bạn đọc không thể không đặt câu hỏi “vì sao hung hãn và hèn nhát hả anh Tuấn Khanh?” Hỏi, rồi tự trả lời:

Thanh niên và toàn thể  công dân được tự do làm và nêu ý kiến về mọi thứ [...] trừ lãnh vực chính trị. Khi nói đến chính trị thì phải nói trong khuôn khổ của Đảng [...]. Thanh niên ngày nay làm sao được phép trào ra nhiệt tình hừng hực trong mình vào chuyện quốc gia đại sự [...]. Thế thì sức mạnh cuồn cuộn của tuổi trẻ phải hướng vào đâu để giải tỏa năng lượng, nếu như không hướng vào những chuyện vô bổ mà nhà cầm quyền thả lơ không cấm đoán. 

Phân tích của blogger Huỳnh Ngọc Chênh trong viết bài phản hồi cho NS Tuấn Khanh vừa được trích ở trên đã chạm đúng ngay tâm của vấn đề. Ở đất nước mà độc quyền lãnh đạo của một đảng duy nhất đã trở thành một quy định trong hiến pháp thì mọi cách thể hiện mối quan tâm đối với những vấn đề của đất nước khi chưa hay không có sự chỉ đạo hoặc cho phép từ trên đều bị xem là phạm pháp. Đó là lý do tại sao trước mọi vấn đề hệ trọng của đất nước, đa số người Việt đều có thái độ dửng dưng, chờ đợi, hoặc né tránh.

Khi không được quan tâm đến những vấn đề có ý nghĩa thì việc người Việt dồn sức lực thừa thãi của mình vào những cuộc đua tranh cãi vã về những điều tầm thường vô bổ với một sự hung hăng cuồng nộ hiếm thấy như hiện nay chỉ là một điều tất yếu.

Giải pháp để cải thiện tình trạng hiện nay có thể là gì?

Nói đến giải pháp là nói đến hệ thống. Nhưng ai cũng thấy hệ thống hiện nay chưa sẵn sàng để thay đổi – giả định rằng họ cũng chấp nhận có lúc sẽ phải thay đổi. Trong hoàn cảnh như vậy, tìm được một giải pháp cá nhân để góp phần làm thay đổi tình hình thực là khó, khó lắm.

Trong cái chộn rộn của ngày Tết, có một mẩu tin nhỏ có lẽ ít ai chú ý. Sáng ngày 27/2 (tức mùng 9 Tết) tại Hà Nội, Hội đồng lý luận trung ương tổ chức hội thảo khoa học "Định hướng xây dựng hệ giá trị con người - giá trị văn hóa VN trong giai đoạn mới". Trong danh sách 7 giá trị của con người VN được đưa ra, có các giá trị "nhân ái" và "nghĩa tình" được xếp ở vị trí thứ 2 và thứ 3 trong danh sách. 

Như thế có nghĩa là nhà cầm quyền VN cuối cùng cũng đã nhận ra những lỗ hổng quan trọng về giá trị cần được bổ sung ở con người để hy vọng giữ cho xã hội được ổn định và phát triển – kể cả theo cái cách mà hệ thống ấy mong muốn.

Nhưng nhân ái với nghĩa tình không là giá trị mới ở Việt Nam. Chúng là những giá trị đạo đức căn bản của các tôn giáo lớn có mặt trên đất nước này từ nhiều thế kỷ và góp phần tạo nên hệ giá trị Việt Nam cho đến tận ngày nay.

Cái thiếu hiện nay chỉ là môi trường phù hợp để gieo cấy và dưỡng nuôi tinh thần nhân ái và nghĩa tình mà mỗi người Việt Nam đều đã có sẵn mà thôi.

Môi trường giáo dục của Việt Nam là một môi trường rất thiếu vắng các giá trị tinh thần và hầu như không có chỗ để phát triển lòng nhân. Ngay từ bé, học sinh Việt Nam đã bị đẩy vào một cuộc cạnh tranh khốc liệt với bạn bè đồng trang lứa. Cả gia đình và nhà trường đều muốn các em đạt điểm cao trong mọi môn học bằng mọi giá, không loại trừ sự dối trá và sự tiếp tay của người lớn – một hiện tượng mà người ta công khai thừa nhận dưới tên gọi là bệnh thành tích. Chương trình học và cách thi cử nặng nề khiến các em phải chúi mũi vào những cuốn sách dày cộm, phải đi học thêm, không có thời gian nghỉ ngơi, không tiếp xúc với thiên nhiên, rất ít tiếp xúc với họ hàng và cả người thân, không có kỹ năng sống, không được vun đắp và bồi bổ về những giá trị làm người như lòng thương người, vị tha, sự hiểu biết về thế giới và tôn trọng những điều khác biệt vv. Ngược lại, môi trường đó đã gián tiếp dạy cho các em – dù không cố ý – quy luật mạnh được yếu thua và khả năng giải quyết mọi vấn đề bằng quyền lực, bằng đồng tiền hoặc thậm chí bằng cả nắm đấm qua cách hành xử của người lớn với nhau.

Ngoài xã hội, mọi thành công đều được đo bằng giá trị vật chất thô thiển, bằng bề ngoài hào nhoáng, bằng chức vụ, bằng những thăng tiến mà người ta cố gắng đạt được bất chấp mọi chuẩn mực đạo đức. Hệ quả là những gì đã được bày ra qua những lễ hội đông người nhân dịp Tết vừa qua. Người ta thản nhiên nhét tiền vào tay vào mồm các pho tượng để hối lộ thần thánh, dẫm đạp lên cỏ cây, ngắt lá bẻ cành, xô đẩy chen lấn giành giựt để “cướp” lộc, “cướp” ấn, hò reo kích động thích thú trước những cảnh dã man đổ máu chém lợn chém trâu .... Chính môi trường như vậy đã sản sinh ra những vụ nữ sinh lăn xả vào lột áo đánh nhau rồi quay clip đưa lên mạng, nam sinh rút dao đâm bạn chỉ vì nói khích hay nhìn đểu, người dân quê xúm đông xúm đỏ la hét và tự xử những kẻ ăn trộm chó bằng cách đánh dã man cho đến chết mà không cần sự can thiệp của pháp luật - những ví dụ rùng rợn này còn có thể tiếp tục kéo dài mãi.

Có thể khẳng định rằng bất chấp những phát triển kinh tế có lúc ở mức ngoạn mục trong vòng hai thập niên qua, chất lượng sống của người Việt Nam ở nhiều khía cạnh đã trở nên tệ đi đến mức báo động.

“Hãy bảo vệ trái đất” là thông điệp thường xuyên được gửi đến mọi nơi trên thế giới để nhắc nhở từng cá nhân về trách nhiệm bảo vệ môi trường nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững của toàn nhân loại. Nhưng môi trường sống của con người không chỉ là vật chất mà còn là tinh thần, trong đó có cả khía cạnh tâm linh nữa. Đúng như trong Kinh Thánh của đạo Thiên Chúa đã viết: “Người ta sống không nguyên bởi bánh”.

Dường như những chính sách sai lầm nghiêm trọng về tôn giáo và tín ngưỡng trước đây, và ngay cả hiện nay nữa, đã tạo ra quá trình sa mạc hóa về mặt tâm linh ở Việt Nam, để giờ đây tâm hồn của người Việt đã biến thành một bãi hoang chỉ có thể chấp nhận các loại bụi gai hay xương rồng mà không thể trồng các loài cây có bóng mát, có hoa thơm và cho trái ngọt.

Phải chăng, để ngăn chặn tình trạng cứ mỗi mùa Tết lại có vài ngàn người đánh nhau u đầu sứt trán đến đổ máu và phải nhập viện như năm nay, công việc cần làm trước hết là cải tạo và bảo vệ chính môi trường tâm linh của người Việt Nam? Vâng, có lẽ điều thiết thực nhất mà mỗi người có thể làm là đẩy ngược quá trình sa mạc hóa tâm linh bằng cách tẩy chay và dẹp bỏ mọi hình thức của bạo lực và hận thù, cố gắng khơi ngòi, tích tụ và nuôi dưỡng dòng nước ngầm tâm linh ngọt ngào của lòng nhân ái và nghĩa tình vốn là đặc điểm lâu đời của dân tộc Việt – chứ chẳng phải những giá trị mới của người VN theo một nghị quyết nào đó của Đảng mới chỉ ra?

Chúng ta hãy làm tất cả để một ngày không xa, tâm hồn của từng người Việt Nam sẽ rợp ngời bóng mát yêu thương.

Nào “ta cùng lên đường, đi xây lại tình thương”, các bạn ơi!



Thứ Tư, 25 tháng 2, 2015

Để mùa xuân của mỗi người mãi mãi còn rộn tiếng chim


Bài đã đăng trên Tập san Công lý và Hòa bình (Lưu hành nội bộ) số Xuân
------------------
Nhận được lời mời từ Tập san Công lý và Hòa bình để viết cho số báo Xuân, tôi đồng ý ngay vì đối với tôi đó là một vinh dự. Nhưng giờ đây, ngồi chết trân trước màn hình máy tính tôi mới lờ mờ nhận ra rằng có lẽ mình đang làm một điều quá sức. Hai chủ đề được đưa ra lần này là mùa xuân và môi trường. Nhưng môi trường là một chủ đề mà tôi rất ít quan tâm và vì vậy hoàn toàn mù tịt. Chủ đề mùa Xuân thì dễ viết hơn, vì chỉ cần có hứng. Thôi được, tôi sẽ viết về mùa xuân, và nếu được thì sẽ cố gắng lồng chủ đề môi trường vào đấy.

Mùa xuân, mùa xuân. Viết về mùa xuân, tôi cần cảm hứng. Nhưng tìm cảm hứng ở đâu ra, khi nhìn xung quanh tôi chỉ thấy u buồn. Kinh tế ngày càng khó khăn, xã hội ngày càng hỗn loạn, giáo dục thì rối bời, đạo đức thì xuống cấp, còn môi trường thiên nhiên thì  ngày càng bị phá hoại. Mới hôm nào, dư luận xôn xao lên tiếng kêu gọi dừng dự án cáp treo Sơn Đoòng thuộc tỉnh Quảng Bình để bảo vệ di sản thiên nhiên  (http://danviet.vn/event/xay-cap-treo-vao-son-doong-de-doa-tan-pha-di-san-the-gioi-1034.html) còn chưa biết kết quả ra sao, nay lại thấy báo chí kêu cứu rừng ở Kon Tum bị tàn phá công khai (http://tainguyenmoitruong.com.vn/kon-tum-rung-bi-tan-pha-cong-khai.html), rồi thì đảo Hòn Tre - điểm du lịch sinh thái biển của Kiên Giang - nhếch nhác vì rác thải (http://www.tinmoitruong.vn/xa-hoi/dao-hon-tre---kien-giang-nhech-nhac-vi-rac-thai_46_40577_1.html).

Nhưng có lẽ không nên nói về những điều u ám này, vì mùa xuân đang đến. Hãy nói về những điều tươi vui, đẹp đẽ. Hoa xinh, bướm đẹp của vườn xuân. Rừng núi chập chùng, cảnh quan hùng vĩ. Viết thế nào đây? Tôi quay về với chiêu thức quen thuộc của mình mỗi khi viết bài mà thiếu ý tưởng, đó là: dùng google search bằng tiếng Anh về chính chủ đề mình muốn viết để đọc lấy ý. Vậy thì đây:  Spring and the environment.

Thực ra, tôi chỉ gõ hú họa thôi, vì quả tình tôi chưa bao giờ nhìn thấy cụm từ với hai chủ đề này được ghép đôi như vậy bao giờ cả. Nhưng may mắn thay, vừa gõ xong cụm từ tìm kiếm thì tôi nhận được ngay cụm từ gợi ý khác: Silent spring and the environmental movement. "Mùa Xuân lặng im và phong trào (bảo vệ) môi trường" sao? Lạ quá. Lần theo đường dẫn đầu tiên và đi sâu vào bên trong để đọc, tôi hết sức bất ngờ vì sự may mắn của mình. Silent Spring hóa ra là tên một cuốn sách về môi trường rất nổi tiếng ở Mỹ, được viết từ năm 1962, cách đây đã hơn nửa thế kỷ. Một cuốn sách đã từng làm rúng động cả nước Mỹ, nằm trong danh sách những cuốn sách best-sellers tại Mỹ trong một thời gian dài, có sức mạnh làm thay đổi cả chính sách của liên bang lúc bấy giờ, và đến nay vẫn thường xuyên được nhắc đến như cột mốc đầu tiên trong phong trào bảo vệ môi trường tại Mỹ.

Với một giọng văn hết sức nên thơ và lôi cuốn, Rachel Carson, tác giả của cuốn sách, đã vẽ lên một viễn cảnh tương lai ảm đạm của đất nước xinh đẹp ngay từ tên gọi này. "Ngày càng có nhiều vùng rộng lớn trên nước Mỹ, mùa Xuân đến mà chẳng có tiếng chim rộn ràng báo hiệu, và những sớm mai cũng lặng lẽ một cách lạ lùng ở những nơi mà trước đây ngập tràn tiếng hót vui nhộn của các loài chim. Sự vụt tắt của những tiếng chim, sự xóa nhòa các sắc màu và vẻ đẹp cùng sự kỳ thú mà chúng đem lại cho thế giới này đã xảy ra một cách nhưng nhanh chóng nhưng âm thầm và không hề được cộng đồng để tâm đến." Chương 8 của cuốn sách với tựa đề "Và những loài chim thôi hót" đã bắt đầu bằng những dòng ảm đạm  về mùa Xuân như vậy.

Chuyện gì đã xảy ra? Qua lời kể của một nhân chứng, "Làng chúng tôi có rất nhiều cây du (elm tree) được xịt thuốc diệt côn trùng trong nhiều năm qua. Khi tôi mới đến cách đây 6 năm, nơi đây có rất nhiều chim chóc các loại: mào đỏ, sơn tước, gõ kiến, chim trèo có mặt suốt mùa đông, và vào mùa hè thì chim mào đỏ và sơn tước bận rộn đẻ con ấp trứng. Sau nhiều năm xịt thuốc DDT, giờ đây loài chim cổ đỏ và chim sáo đá hầu như đã biến mất; hai năm nay sơn tước không còn xuất hiện, và năm nay thì chim mào đỏ cũng không còn thấy nữa."

Vâng, bạn đã đoán đúng rồi, và tôi xin được tóm tắt thật nhanh. Cuốn sách với độ dài 155 A4 trang của của Rachel Carson viết về những tác hại đối với môi trường của việc sử dụng bừa bãi thuốc diệt côn trùng, lúc ấy là chất DDT mà sau này đã bị cấm. Giữa lúc chất DDT đang được ca ngợi như một loài thuốc diệt côn trùng thần kỳ và mang lại lợi nhuận khổng lồ cho các công ty hóa chất ở Hoa Kỳ, một phụ nữ nhỏ bé với căn bệnh ung thư bước vào giai đoạn cuối cùng đã dũng cảm và lặng lẽ cho ra đời một cuốn sách có sức công phá hơn ngàn tấn bom. Ngòi bút sắc sảo của bà đã cặn kẽ phân tích ảnh hưởng dây chuyền của hành động vô trách nhiệm của con người đối với thiên nhiên, chỉ để phục vụ những lợi ích riêng tư và ngắn hạn của mình. Đúng, côn trùng có thể phá hoại mùa màng, gây thiệt hại đến các nông dân, vậy côn trùng cần phải được diệt. Nông dân cần thuốc diệt côn trùng, vậy các hóa chất có thể diệt côn trùng cần phải được làm thành những sản phẩm thương mại. Và các thương phẩm một khi đã được sản xuất thì cần được đưa ra thị trường để lấy lại vốn cho những nhà sản xuất, vậy báo chí, truyền thông cần phải cổ động cho các loại thuốc diệt côn trùng thương phẩm ấy. Tất cả đều rất bình thường và dường như đang phục vụ sự tiến bộ của loài người. Nhưng đó chỉ mới là một mặt của vấn đề.

Mặt còn lại, tối đen và âm thầm nhưng nhanh chóng lan rộng như một loại ung thư, là những tác hại ngấm ngầm và ngày càng được nhân lên với vòng quay ngày càng ngắn. Một khi những giọt thuốc trừ sâu độc hại đã được phun lên cây thì chúng không chỉ diệt côn trùng mà còn bắt đầu xâm phạm vào vòng thực phẩm (food chain) đang yên ổn và đe dọa cuộc sống của chim chóc trên không, cá tôm dưới nước và có thể gây hại đến sức khỏe của trẻ con. Những điều chẳng hề mới mẻ đối với trình độ khoa học của cách đây hơn 50 năm, nhưng phải chờ đến sự dũng cảm nói lên sự thật của một người phụ nữ nhỏ bé và bệnh tật, một nhà khoa học công dân (citizen-scientist) theo cách gọi của tờ New York Times trong bài viết kỷ niệm 50 năm ra đời cuốn Silent Spring, thì mọi người mới bắt đầu thức tỉnh.

Như số phận của tất cả những người đầu tiên dám nói lên sự thật tối đen và đụng chạm đến những nhóm lợi ích đầy uy quyền, Rachel Carson cũng đã phải trả giá. Các công ty hóa chất lồng lộn lên phản ứng, cáo buộc bà là lo sợ vô căn cứ, và thậm chí là dối trá. Người ta tấn công vào cả đời tư của bà, đặt vấn đề về động cơ viết sách và cả về sức khỏe tâm thần của bà, vào việc bà không lập gia đình ngầm ám chỉ những bất thường về tâm lý của một người phụ nữ lớn tuổi không gia đình, và thậm chí cho rằng bà có thể bị bệnh thần kinh. Trước những tấn công độc ác ấy, Carson đã phải giấu đi tình trạng sức khỏe lúc ấy đã suy giảm rất nhiều của mình, để xuất hiện trong các phiên điều trần trước Hội đồng tư vấn khoa học của chính phủ và giải trình những điều mình đã viết. Rất may mắn là bà đã vượt qua được sự tấn công ác liệt của các công ty hóa chất, để cuối cùng chất DDT độc hại đã bị cấm sử dụng trên nước Mỹ. Bà đã chiến thắng cuộc chiến đấu để bảo vệ môi trường, để rồi thua trong cuộc chiến của riêng mình - cuộc chiến đấu chống lại căn bệnh ung thư quái ác. Bà mất vào năm 1964, chỉ 2 năm sau khi cuốn sách "bom tấn" của bà được xuất bản.

Đọc Silent Spring của Rachel Carson lần đầu tiên đúng vào dịp Xuân về, tôi bàng hoàng. Những lời tiên tri của bà cách đây hơn năm 50 giờ đang xảy ra gần như đúng từng lời tại Việt Nam. Môi trường thiên nhiên tuyệt đẹp của Việt Nam ngày càng bị phá hủy. "Truyền thuyết về ngày mai" - chương đầu tiên trong cuốn Silent Spring đưa ra một viễn ảnh giả tưởng về tương lai của nước Mỹ - dường như đang trở thành sự thật hàng ngày ở khắp nơi trên đất nước hình cong chữ S này.

"Ngày xửa ngày xưa giữa lòng nước Mỹ [xin đọc là nước Việt] có một thị trấn nhỏ nơi mọi sinh vật đều sống hài hòa với môi trường xung quanh. Thị trấn nằm giữa những cánh đồng vuông vức và xanh tươi trù phú, lúa trĩu bông và trái trĩu cành, nơi mỗi khi xuân về ngàn hoa lại nở rộ tưng bừng chào đón. [...] Vùng quê ấy nổi tiếng với các loài chim chóc lạ lùng kỳ thú, [...] với những dòng suối trong đầy tôm cá [ ...]. Rồi mọi vật bỗng lụi tàn một cách lạ kỳ và mọi vật đều thay đổi. Một lời nguyền ác độc đã buông xuống trên đầu những người dân trong cộng đồng này: gà vịt tự nhiên bị bệnh dịch chết hàng đàn; trâu bò mắc những chứng bệnh lạ lùng và lăn ra chết. Bóng tối của tử thần phủ xuống khắp nơi."

Không không, tôi không muốn, và chắc chắn là chẳng ai muốn, nhìn thấy cảnh tượng hãi hùng này. Mùa xuân mà Thiên Chúa đã ban cho con người vốn tuyệt đẹp .... "Mưa xuân cho cây tốt tươi búp chen lá trên cành. Rừng đẹp trăm hoa rung rinh theo gió, bướm tung cánh bay vờn ....", bài dân ca Xá nổi tiếng mở đầu bằng những câu như vậy. Nhưng hãy nhìn xem chúng ta đang gìn giữ món quà mà Tạo hóa đã dành cho nhân loại như thế nào? Hàng ngày đọc tin tức về các di sản thiên nhiên bị tàn phá, chứng kiến những hàng cây cổ thụ bị đốn hạ, tận mắt nhìn những dòng sông chết vì hóa chất độc hại, chúng ta có được chút nào tinh thần của Rachel Carson, có bao giờ hành động hoặc lên tiếng, hay chỉ biết để mặc chờ đến ngày mùa xuân bỗng ngưng bặt tiếng chim muông?

Xin được khép bài viết về mùa xuân và môi trường của tôi bằng những lời của Đức (nguyên) Giáo hoàng Biển Đức XVI  năm 2009, lời nhắc nhở cho chính tôi và cho tất cả mỗi người Công giáo chúng ta, về trách nhiệm của con người đối với môi trường: "Ngày nay món quà tuyệt vời của sự sáng tạo của Thiên Chúa đang đứng trước những mối nguy hiểm nghiêm trọng và những lối sống có thể phá hủy nó. Ô nhiễm môi trường đang làm ảnh hưởng đặc biệt xấu đến cuộc sống của người nghèo trên thế giới .... Chúng ta phải tự hứa với chính mình rằng sẽ chăm sóc thế giới này và chia sẻ các tài nguyên của thiên nhiên trong tinh thần liên đới. " - Đức Giáo Hoàng Benedict XVI (2009) http://www.catholicsandclimatechange.org/ coalition_activities / covenant.html

Để mùa xuân của mỗi người mãi mãi còn rộn tiếng chim.

Thứ Năm, 15 tháng 1, 2015

Không còn cổ tích!

Hôm trước tôi mới đưa tin về câu chuyện hai vợ chồng hát rong với đứa con tên là Sao Mai, và một ước mơ trở thành sự thật. Một câu chuyện y như cổ tích của thế kỷ 21 tại VN.

Cũng như mọi người, tôi hết sức xúc động trước chuyện tình đẹp như mơ ấy. Và, nếu lúc này tôi không bận rộn như vậy, có lẽ tôi đã viết một blog entry, thậm chí có thể làm một bài thơ, để ca ngợi chuyện tình này. Đặc biệt là vào thời điểm mà đạo đức xã hội và mọi thứ khác quanh ta dường như ngày càng u ám. Câu chuyện như một tia nắng ấm chiếu qua màn đêm u tối - well, nghe thật là nhàm, phải không, nhưng quả tình tôi có cảm giác đúng như vậy.

Nhưng hoá ra không phải thế. Chỉ mấy ngày sau khi VTV đưa lên câu chuyện cảm động đến rơi nước mắt này, tờ Vietnamnet đã phanh phui ra sự thật đàng sau câu chuyện ấy.

Sự thật như thế nào? Well, nói ngắn gọn, thì chỉ có 2 chữ thôi: Chuyện xạo!

Xạo như thế nào ư? Các bạn đọc bài này nhé: http://m.vietnamnet.vn/vn/xa-hoi/216913/gia-dinh-noi-ve-vo-chong-hat-rong-len-dieu-uoc-thu-7.html.

Tôi rất buồn, rất thất vọng, nhưng rồi nghĩ lại chỉ thấy buồn cười. Vì, tại sao tôi lại quá ngây thơ để tin rằng chuyện cổ tích vẫn xảy ra ở VN ngày nay, thời "đất nước những tháng năm thật buồn" như thế này?

Và tôi tự nhủ: Hãy nhớ lấy những lời này: Không còn cổ tích!

Thứ Hai, 12 tháng 1, 2015

Chuyện vợ chồng người hát rong

Một câu chuyện có thật mà như cổ tích. Cổ tích của thế kỷ 21, ở ngay tại VN.

Các bạn xem nhé. Ở đây: http://vietnamnet.vn/vn/xa-hoi/216084/vo-chong-hat-rong-len-san-khau-sao-mai-diem-hen.html
-------------

Vợ chồng hát rong lên sân khấu Sao Mai Điểm Hẹn

Câu chuyện về điều ước của cặp vợ chồng hát rong Nguyễn Như Đào - Nguyễn Nhật Thanh là điều khiến khán giả cảm động rơi nước mắt.

Click vào video trong bài viết để nghe các bạn nhé.