Thứ Tư, 13 tháng 3, 2013

"Bạn tôi nằm dưới sóng mặn vùi thân ..."

Đó là câu thơ trong bài thơ Tổ quốc nhìn từ biển của nhà thơ Nguyễn Việt Chiến mà tôi đã nghe nhắc đến từ khá lâu rồi. Một bài thơ rất hay của một tấm lòng yêu nước, như bất kỳ người Việt nào khác.

Ngày mai là ngày 14/3, kỷ niệm 25 năm trận chiến Gạc Ma đau thương và anh dũng năm nào, xin chép lại bài thơ của anh NVC để tưởng nhớ các anh hùng đã ngã xuống cho Tổ quốc, và cám ơn nhà thơ đã nói giúp tình cảm của mọi người.
----------
TỔ QUỐC NHÌN TỪ BIỂN

Nguyễn Việt Chiến 
Nếu Tổ quốc đang bão giông từ biển
Có một phần máu thịt ở Hoàng Sa
Ngàn năm trước con theo cha xuống biển
Mẹ lên rừng thương nhớ mãi Trường Sa

Đất Tổ quốc khi chập chờn bóng giặc
Các con nằm thao thức phía Trường Sơn
Biển Tổ quốc chưa một ngày yên ả
Biển cần lao như áo mẹ bạc sờn

Nếu Tổ quốc hôm nay nhìn từ biển
Mẹ Âu Cơ hẳn không thể yên lòng
Sóng lớp lớp đè lên thềm lục địa
Trong hồn người có ngọn sóng nào không

Nếu Tổ quốc nhìn từ bao quần đảo
Lạc Long cha nay chưa thấy trở về
Lời cha dặn phải giữ từng thước đất
Máu xương này con cháu vẫn nhớ ghi

Đêm trằn trọc nỗi mưa nguồn chớp bể
Thương Lý Sơn đảo khuất giữa mây mù
Thương Cồn Cỏ gối đầu lên sóng dữ
Thương Hòn Mê bão tố phía âm u

Nếu Tổ quốc nhìn từ bao thương tích
Những đau thương trận mạc đã qua rồi
Bao dáng núi còn mang hình goá phụ
Vọng phu buồn vẫn dỗ trẻ, ru nôi

Nếu Tổ quốc nhìn từ bao hiểm họa
Đã mười lần giặc đến tự biển Đông
Những ngọn sóng hoá Bạch Đằng cảm tử
Lũ Thoát Hoan bạc tóc khiếp trống đồng

Thương đất nước trên ba ngàn hòn đảo
Suốt ngàn năm bóng giặc vẫn chập chờn
Máu đã đổ ở Trường Sa ngày ấy
Bạn tôi nằm dưới sóng mặn vùi thân

Nếu Tổ quốc neo mình đầu sóng cả
Những chàng trai ra đảo đã quên mình
Một sắc chỉ về Hoàng Sa thửa trước
Còn truyền đời con cháu mãi đinh ninh

Nếu Tổ quốc nhìn từ bao mất mát
Máu xương kia dằng dặc suốt ngàn đời
Hồn dân tộc ngàn năm không chịu khuất
Dáng con tàu vẫn hướng mãi ra khơi

Chủ Nhật, 10 tháng 3, 2013

Dạy con ở Tây, hay Tại sao Việt Nam ngày càng có nhiều trẻ em hư?


Bài viết này tôi đã viết từ trước Tết, nay vừa được đăng trên tờ Lifestyle số Tháng 3/2013, có được biên tập lại đôi chút với tựa mới là "Chuyện dạy con bên Tây". Dưới đây là bản gốc mà tôi đã gửi đi. Những gì được kể trong câu chuyện này gần như là hoàn toàn có thật, chỉ đổi tên và hư cấu thêm vài tình tiết. Đăng lên đây để chia sẻ với các bạn.
-----------------

Tôi có một “đám” bạn già, nữ sinh Gia Long cũ, đến mấy chục người, tất cả đã “ngoại ngũ tuần”. Ra trường từ cuối thập niên 70 của thế kỷ trước, lưu lạc bốn phương mấy chục năm trời, tình cờ kết nối được với nhau nhờ facebook.

Cuối tuần qua bọn tôi vừa có dịp họp mặt nhân dịp có ba người bạn định cư ở nước ngoài (Canada, Mỹ và Úc) nay về Việt Nam nghỉ lễ Noel và năm mới. Chuyện Đông chuyện Tây, chuyện kim chuyện cổ, nhưng cuối cùng mọi con đường đều dẫn đến La Mã: các bà lại quay về chuyện chồng con. Và thế là chủ đề nuôi dạy con ở Tây bỗng biến thành chủ đề chính của cuộc họp mặt, với rất nhiều khám phá mới mẻ cho phe “quốc nội”.

Trước hết là chuyện học hành của con cái. Người Việt ở nước ngoài đa số học hành rất giỏi, và con cái các bạn tôi cũng vậy. Trong ba người bạn về VN lần này thì cả ba đều có thể được vinh danh về việc nuôi dạy con cái thành đạt chẳng kém Mẹ Hổ là mấy.

Phượng, bà bạn định cư ở Canada có hai người con, một cậu 26 tuổi và một cô 18 tuổi, cả hai đều học rất giỏi. Cậu con trai đã tốt nghiệp kỹ sư hóa dầu, đang làm việc cho một công ty lớn với mức lương khá cao ở một vị trí tốt. Cô con gái đang học lớp 12, học rất giỏi đang ráo riết học để chuẩn bị theo đuổi ngành Y.

Ngọc, bà bạn ở Mỹ có hai cậu con trai 24 và 21 tuổi cũng tương tự như vậy: Cậu lớn vừa tốt nghiệp đại học ngành Sinh học, đang được giữ lại trường để làm phụ tá nghiên cứu (research assistant) cho thầy của mình và dự định sẽ học tiếp để đi theo con đường nghiên cứu. Cậu thứ hai đang học năm thứ ba ngành Quản trị Kinh doanh tại cùng trường nơi cậu anh đang làm việc. Trước tình hình kinh tế không mấy sáng sủa trong mấy năm qua, cậu đang tính học thêm một bằng kỹ sư để ra trường dễ kiếm việc.

Dung, người bạn ở Úc thì vì lấy chồng trễ nên con còn nhỏ, chỉ mới đang học trung học, nhưng cũng thường xuyên là học sinh giỏi và được đủ loại giấy khen, từ giấy khen của hiệu trưởng nhà trường đến giấy khen của thị trưởng thành phố.

Con cái học hành giỏi giang là thế, nhưng cả ba bà bạn của tôi lại không cho rằng con mình là thành công mà xúm vào khen Danh, con trai của Huệ, một người bạn hiện đang sống ở Cali (Mỹ). Cậu tốt nghiệp đại học ngành Nhân học (anthropology) nhưng ra trường không kiếm được việc làm ngoài một loạt những công việc ngắn hạn với các tổ chức phi chính phủ.

Đi làm lai rai như vậy được 3 năm thì cậu quyết định thôi không theo đuổi ngành học đã chọn nữa mà tìm một cái nghề để kiếm sống, và chọn nghề … cắt tóc. Học xong các chứng chỉ cần thiết để hành nghề, Danh cùng một nhóm bạn cùng nhau mướn mặt bằng để mở tiệm cắt tóc. Ban đầu chỉ là một tiệm do chính mình vừa làm chủ vừa làm thợ, vậy mà chỉ sau 5 năm Danh đã sở hữu một chuỗi 3, 4 tiệm uốn tóc với những tay thợ lừng lẫy do cậu thu hút và đào tạo.

“Vậy mới là đáng nể chớ! Hiện nay, quan niệm về thành công của thế hệ trẻ ở nước ngoài thay đổi rất nhiều so với thế hệ của mình. Thành công không phải là học giỏi, có bằng cấp cao, việc làm ổn định. Mà thành công là biết mình là ai và muốn gì, biết tự khẳng định giá trị của bản thân, biết tự thay đổi cho phù hợp với hoàn cảnh. Đặc biệt, thành công là phải vượt qua được những khủng hoảng trong cuộc sống.” – Ngọc, bà bạn Việt kiều Mỹ cho biết.

“Bọn trẻ ở nước ngoài có suy nghĩ độc lập và trưởng thành quá ha! Nhưng dạy chúng chắc không dễ đâu hả? Mấy người bà con của mình ở nước ngoài sao thấy hay than thở về việc con cái không nghe lời cha mẹ quá.” Một bà bạn trong nước hỏi.

“Con cái không nghe lời, cái đó là tại mình. Nói không đúng thì nó không nghe. Chỉ cần nói cho đúng, có sức thuyết phục thì nó sẽ nghe thôi!” Dung cười đáp.

Câu trả lời của Dung làm tôi nhớ lại cuộc nói chuyện giữa người anh họ của tôi và cô con gái lớn của anh lúc tôi đang học Úc vào cuối thập niên 1990, cách đây đã mười lăm năm rồi. Lúc gia đình anh sang định cư ở Úc năm 1984,  cô con gái lớn của anh đã được tám tuổi, đang học lớp hai ở Việt Nam. Không muốn cho con cái bị “mất gốc”, gia đình anh chủ trương dùng hoàn toàn tiếng Việt ở nhà, vì vậy con cái anh đều nói sõi tiếng Việt. Khi tôi sang Úc học, cô bé con anh cũng đang học đại học năm thứ hai ở cùng trường với tôi. Hai dì cháu có nghe về nhau nhưng chưa hề gặp mặt. Vì vậy, khi tôi đến nhà thì cô bé dùng tiếng Anh để nói chuyện với tôi và bị bố rầy, bắt phải dùng tiếng Việt.

“But why do I have to speak Vietnamese? She speaks English very well,” cô bé thắc mắc (“she” ở đây chính là tôi).

“Vì ba muốn con nói tiếng Việt ở nhà”, anh họ tôi đáp.

“You know I can speak Vietnamese. But I am more comfortable with English. I am an Australian citizen anyway.”

“Con không được cãi ba. Ba muốn con nói tiếng Việt ở nhà vì con cần phải tập nói thường xuyên, nếu không con sẽ quên và nói không ai hiểu,” anh trừng mắt.

Cô bé không vừa. Cô trả lời cha bằng một tràng tiếng Việt: “Ba ơi, ở nhà lúc nào con cũng nói tiếng Việt với mẹ, ba biết mà. Còn ba, ba đi làm mà nói tiếng Anh dở ẹt không ai hiểu. Ba đã hứa với con là sẽ tập nói tiếng Anh với con để cho giỏi mà ba có bao giờ chịu nói đâu?”

Thấy tình hình căng thẳng, tôi phải can thiệp: “Anh ơi, em muốn nói tiếng Anh với cháu mà. I need more practice.”

Sau khi cô bé đi rồi, anh nói: “Trẻ con ở đây không phải bảo gì cũng nghe như ở Việt Nam đâu. Muốn cho chúng nó nghe thì chính mình phải có lý. Nhà trường đã dạy chúng như thế rồi. Mà như thế cũng phải, tại vì mình quen theo kiểu Việt Nam nên mới thế, chứ ở đây thì làm như vậy không được đâu.”

Nghe tôi kể lại câu chuyện trên, các bà bạn “quốc nội” chỉ biết lắc đầu: ở Việt Nam con mình mà cãi cha nó như vậy chắc … ăn đòn quá. Mới biết trẻ con ở Việt Nam ngoan thiệt, người lớn nói gì cũng nghe lời, không dám ho he gì hết.

“Nè, trẻ con Việt Nam có ngoan thiệt không đó?” Phượng, bà Việt kiều Canada bỗng lên tiếng. “Sao tui đọc báo thấy nữ sinh đánh bạn, lột áo rồi quay clip đưa lên mạng, tỉnh rụi; nam sinh thì cãi nhau rồi rút đao đâm bạn gọn hơ, sợ quá. Có phải tại bị người lớn xử ép, chỉ được nghe lời mà không được cãi, nên rồi sinh ra vậy không? Nếu vậy, tui thà chấp nhận để con cái cãi lại nếu mình không đúng, để mình muốn nói gì, yêu cầu gì cũng phải suy nghĩ kỹ. Chứ cứ phải nghe lời cha mẹ, thầy cô răm rắp như ở Việt Nam rồi bị ức chế thì lẳng lặng làm mấy trò như báo chí vẫn đăng thì nguy hiểm quá mấy bà ơi!”

Ờ há! Phải chăng đây chính là câu trả lời cho câu hỏi mà lâu nay báo chí Việt Nam vẫn thường đặt ra, là tại sao ngày càng có nhiều trẻ em hư?

Thứ Bảy, 9 tháng 3, 2013

Cô giáo và lời nói dối - Phản hồi của Nguyễn Đại Hoàng

Mẩu truyện về "Cô giáo và người học trò" qua phần chuyển ngữ của anh NĐH mà tôi đăng lên bloganhvu ngày hôm qua không ngờ đã được khá nhiều người quan tâm, không chỉ trong những vòng thân hữu của tôi và của anh NĐH, mà còn lan rộng ra ngoài rất nhiều nữa. Chẳng hiểu sự "hấp dẫn" của bài viết đó là do vốn câu truyện gốc đã rất hay, hay do phần chuyển ngữ của anh NĐH rất nhã, hoặc vì phần giới thiệu của tôi rất nhiệt tình, hay là tại phần bình luận, trao đổi về việc dịch từ "a lie" (lời nói dối) có thể giúp cho các bạn hiểu thêm một chút về tiếng Anh nữa, biết đâu. 

Hay là, thôi đúng rồi, tại vì tôi viết blog rất "duyên" (!), như anh GNLT, một thân hữu của tôi đã có lần có lời khen, đúng là thế chứ còn gì nữa! ;-)

Dù vì lý do nào đi nữa, thì cũng rất cám ơn anh NĐH đã cho tôi và bạn đọc của blog này được cơ hội đọc và trao đổi về một câu truyện rất cảm động về tình thầy trò, lại vừa có dịp trao đổi về việc dịch và về tiếng Anh nữa chứ. Và trên hết, là nó làm cho trang blog của tôi có thêm một giọng mới, nhẹ nhàng và nhiều cảm xúc hơn cái giọng điệu khi cà rỡn, tưng tửng, khi mỉa mai, châm chích, khi lạnh lùng, khô cứng của tôi. Rất cám ơn anh NĐH nhé.

Entry ngắn mà tôi gửi các bạn hôm nay cũng là của anh NĐH với lời phản hồi về lời bình luận của tôi về cách dịch từ "a lie" của anh mà tôi đã đăng lên hôm qua. Cũng vậy, ta sẽ thấy bao giờ anh NĐH cũng rất nhẹ nhàng, soft-spoken (he really is) - hơn tôi rất nhiều. Khiến tôi đôi khi cũng phải suy nghĩ một chút: mình là phụ nữ mà sao lại cứ thẳng thừng, đốp chát, chứ chẳng hề nhẹ nhàng gì cả như thế này? Nhưng mà nghĩ lại, giọng văn ranh mãnh, tinh quái của tôi đôi khi cũng ... rất hay, well, rất "duyên" như anh GNLT đã nói cơ mà, phải không các bạn? :-)

Đùa một chút với các bạn cho thêm chút vui vẻ vào buổi sáng chủ nhật thôi. Mời các bạn đọc phản hồi của anh NĐH dưới đây. Và nếu được, xin góp phần vào cuộc tranh luận này cho nó xôm tụ các bạn nhé!
------------------
PHẢN HỒI CỦA NGUYỄN ĐẠI HOÀNG về vụ “ A LIE ”

Kính thưa các bạn, phát hiện của cô PA về thủ pháp gây chú ý ngay câu mở đầu của tác giả - nữ văn sĩ Elizabeth Silance Ballard - quả là thú vị ! Đúng vậy tác giả đã dùng A LIE – một lời nói dối – để gây sốc, để gây tò mò cho độc giả - không biết chuyện gì đây ? Sao mà phải nói dối ? Đại loại như vậy. Và cô PA cũng đã đề nghị hai câu dịch đầu tiên và hỏi tôi có đồng ý không ? Xin trả lời : Đồng ý và cám ơn cô PA !

Nhưng cái băn khoăn của tôi là, với tư cách một nhà giáo thì khi cô Thompson tuyên bố cô thương yêu tất cả học trò lẽ nào câu nói ấy là hoàn toàn nói dối ? Đúng ra nếu không có sự xuất hiện của thằng Teddy Stoddard thì lời tuyên bố ấy có thể đã là sự thật. Sự xuất hiện của đứa học trò ấy khiến cho lời hứa hẹn với lớp của cô có nguy cơ thành không thể, thành bất khả thi ( impossible ). Bởi vì cô không có thiện cảm với em học sinh “ không sao ưa nổi ” đó. Vậy thì chỉ đối với em đó là cô không thực hiện đúng tuyên bố thôi. Còn mấy chục học sinh còn lại thì cô thương yêu được chứ ! Như vậy có thể nói là cô đã có lời hứa dối trá không ?

Thành thử có thể hiểu như thế này: Câu chuyện bắt đầu từ việc cô Thompson đã có một lời nói không thực bụng, thực lòng 100% trước học trò của mình trong ngày khai trường. [ Vì phải trừ đi phần x % không thể thương được thằng Teddy.] Về mặt số học, cô nói đúng ( 100 – x )% ! Chứ nói cô có lời dối trá với học trò thì quả là oan cho cô quá !

A LIE trong Tiếng Anh nhưng qua Tiếng Việt nên nhẹ đi một chút. Theo tôi là vậy.

Do vậy với câu :

Jean Thompson stood in front of her fifth-grade class on that first day of school in the Fall and told the children a lie.

Cô PA đã có một câu dịch hay, dường như cũng đã làm nhẹ đi phần nào nghĩa của chữ A LIE khi dịch là :

Đứng trước đám học trò lớp 5 của mình vào buổi học đầu tiên mùa Thu năm ấy, cô Jean Thompson biết rằng thực ra mình đang nói dối.

Nhưng tôi còn muốn “ thông cảm ” với cô giáo Jean Thompson hơn nữa, với câu dịch lúc 1g sáng đêm qua như thế này :

Mùa Thu năm đó, vào ngày đầu niên học mới, khi đứng trước đám học trò lớp 5 do cô phụ trách, cô Jean Thompson đã có một lời nói không hoàn toàn thực bụng !

Vâng tôi chỉ muốn nói là cô giáo Thompson của chúng ta chỉ không hoàn toàn thực bụng với tuyên bố của mình mà thôi.

Người ta nói 50 % của sự thật không phải là sự thật, nhưng trên 90% của sự thật thì sao ? Đương nhiên đó cũng không phải là sự thật, nhưng có thể gọi là cận sự thật chăng ? Có thể đó là trường hợp của cô Jean Thompson thưa các bạn.

Mà không chỉ có một mình cô giáo Jean Thompson phải chịu nỗi “ oan khiên ” này khi cô “ tới “ Việt Nam. Phải chăng cũng nên trách nữ văn sĩ Elizabeth Silance Ballard một chút khi trong tác phẩm The Teacher của mình – cô ấy đã hạ một chữ A LIE quá khó đối với văn hóa và xã hội Việt Nam – về nghề giáo ?

Xin cám ơn cô PA. Xin cám ơn quý vị.

Nguyễn Đại Hoàng

10/3/2013

Ghi chú : Bản dịch toàn bộ có một số sửa chữa nhỏ so với bản hôm qua. Các bạn có thể xem ở trang GASPACE.COM.VN – trong ngày mai.

Thứ Tư, 6 tháng 3, 2013

Trồng cây ngược

Trồng cây ngược là thế nào nhỉ, làm sao mà trồng được? Đương nhiên là thế, trên đời này làm gì có ai trồng cây ngược bao giờ!

Thế tại sao lại viết cái tựa của entry này như thế? À, từ từ rồi tôi sẽ giải thích.

Số là lúc này nước ta đang trong thời gian lấy ý kiến góp ý sửa đổi HP, nên báo chí, truyền thông, mạng lề trái lề phải có nhiều dư luận ồn ào quá.

Ban đầu khi nghe chủ trương này tôi cũng quan tâm lắm, lúc ấy còn trước Tết. Có ít thời gian nghỉ Tết, tôi cũng vào trang của Quốc hội, nơi có đăng 2 bản HP cũ và (dự thảo) mới, đọc kỹ, so từng chữ rồi nhận xét sự khác biệt. Nói chung, có nhiều thay đổi nho nhỏ về câu chữ, dường như có vẻ nhấn mạnh (về mặt ngôn ngữ) hơn về "dân chủ", trao thêm quyền (trên câu chữ) kiểm soát, giám sát cho người dân vv. Vài ví dụ dưới đây:

Điều 1: Thêm từ "dân chủ"
Bản cũ:
Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một nước độc lập, có chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bao gồm đất liền, các hải đảo, vùng biển và vùng trời.
Bản mới:
Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một nước độc lập, dân chủ, có chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bao gồm đất liền, hải đảo, vùng biển và vùng trời.

Điều 3: Bỏ bớt một số từ rườm rà, đổi vị trí của "dân chủ" ra trước "công bằng", bỏ đoạn "nghiêm trị ...".
Bản cũ:
Nhà nước bảo đảm và không ngừng phát huy quyền làm chủ về mọi mặt của nhân dân, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; nghiêm trị mọi hành động xâm phạm lợi ích của Tổ quốc và của nhân dân.
Bản mới:
Nhà nước bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện.

Điều 4:  Nhiều thay đổi nhỏ, đặc biệt có thêm ý: Đảng (đồng thời) là đội tiên phong của nhân dân lao động và dân tộc VN, gắn bó mật thiết và phục vụ dân, được dân giám sát và chịu trách nhiệm trước dân về những quyết định của mình; đảng viên (trước đây chỉ nêu tổ chức đảng) hoạt động trong khuôn khổ HP và pháp luật.
Bản cũ:
Đảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, theo chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội.
Mọi tổ chức của Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. 
Bản mới:
Đảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, theo chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội.
Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân, phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình.
Các tổ chức của Đảng và đảng viên hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.

Thực ra, tôi cũng chỉ mới so sánh được đến đây (tức so đến Điều 4, điều mà nhiều người quan tâm nhất từ cả 2 phía, phía Đảng và phía dân), rồi ngưng lại. Lý do: ông xã tôi  (một người có bằng đại học Luật từ thời bắt đầu mở cửa vào thập niên 1990 của thế kỷ trước, khi vẫn chưa có ĐH Luật mà chỉ có ĐH Pháp lý, và khi ấy trường ĐH Tổng hợp được phép mở Khoa Luật, có đào tạo hệ mở rộng; ông xã tôi còn học chung một khóa với Chủ tịch nước Trương Tấn Sang hiện nay nữa cơ đấy, nhưng chắc chắn là Chủ tịch nước sẽ chẳng bao giờ nhớ cả) - ông ấy bảo rằng em đừng đọc và so sánh làm gì, chỉ mất thì giờ.  Vì nếu muốn góp ý hoặc nhận xét gì đấy thì trước hết phải hiểu mục đích của việc góp ý là gì đã. Mà trên hết, thực ra VN sửa đổi Hiến pháp để làm gì thế?

Ông ấy hỏi làm tôi cũng thắc mắc. Ừ nhỉ, thực ra chúng ta sửa đổi HP để làm gì thế? Hình như tôi nghe thấy lời giải thích ở đâu đó rằng HP của chúng ta cũng đã lâu rồi, nay cần sửa đổi để phù hợp với tình hình mới. Nhưng tình hình mới ấy có những đặc điểm gì khiến ta cần sửa đổi? Có phải là hiện nay chúng ta đã hội nhập sâu rộng, chơi với nhiều nước và tham gia nhiều công ước quốc tế, nên giờ đây muốn thay đổi theo hướng mở rộng quyền tự do, dân chủ, quyền con người, và thay đổi cách tổ chức bộ máy nhà nước và quan hệ giữa nhà nước với nhân dân để bảo đảm tốt hơn những quyền tự do, dân chủ và quyền con người, như những sửa đổi nho nhỏ về câu chữ từ đoạn mở đầu đến hết Điều 4 mà tôi đã đọc được hay không?

Tôi nghĩ thế (tưởng thế), và nhiều người khác cũng nghĩ thế (tưởng thế).

Thế là người ta ùn ùn góp ý; người ta bảo rằng nếu cứ thế này, thế này thì chưa dân chủ; nếu cứ thế kia, thế kia thì làm sao có tự do; nếu tiếp tục thế nọ, thế nọ thì quyền con người (ví dụ quyền sở hữu ruộng đất) chưa được bảo đảm vv. Ừ thì người dân mà, bao giờ họ chẳng muốn quyền lợi của họ (nhìn từ chính góc nhìn của họ) được đảm bảo cao nhất. Thực ra trước nay những quyền ấy của người dân chưa cao thì họ vẫn sống ấy mà, có làm sao đâu (chỉ có dân thì nghèo nghèo một tí, nước thì lạc hậu  và chậm tiến một tí, nhà cầm quyền thì có tham nhũng một tí ... thôi mà, có gì đâu mà rộn). Nhưng nay đang xây dựng dự thảo HP mới, lại đang lấy ý kiến góp ý của mọi người, thì mọi người cứ phải góp ý theo đúng những gì họ muốn chứ sao! Tất nhiên muốn là một việc, còn có được hay không thì lại là chuyện khác.

Ấy vậy mà gần đây tôi thấy có một số động thái là lạ của báo chí, truyền thông chính thức. Liên tục có những bài viết, những phóng sự truyền hình, phỏng vấn cá nhân vv tới tấp đưa ra để bảo vệ những quan điểm đã được đưa ra trong dự thảo HP, và có vẻ răn dạy, đe nẹt, chụp mũ vv những quan điểm khác biệt với bản dự thảo chính thức. Lạ quá đi mất.

Nhưng rồi nghĩ lại, tôi thấy thực ra điều này cũng chẳng có gì lạ, vì nó vẫn giống cung cách từ xưa đến giờ tại VN mà thôi, cả trong quan hệ cá nhân, trong gia đình, trong cơ quan, và cả trên chính trường nữa: Bảo là góp ý, nhưng chỉ được đồng ý với những gì đã đưa ra thôi nhé. Còn nói khác đi, hoặc thậm chí lại còn nói ngược lại nữa chứ, hừ hừ, thật là thiếu tế nhị, là không biết xã giao, là ứng xử kém, thậm chí còn là vô đạo đức nữa ấy chứ!

Nhưng mà nếu như thế, thì đưa ra góp ý để làm gì nhỉ? Tôi cứ tưởng lấy ý kiến góp ý, có nghĩa là sợ rằng một mình mình suy nghĩ và quyết định sẽ không thấu đáo, nên phải đưa ra cho mọi người khác mình để xem thử xem còn cần thay đổi gì nữa hay chăng. Chứ nếu đã tự tin là đúng rồi, hoặc đúng sai thì cũng không quan trọng gì, thì đâu cần hỏi ai làm gì nữa?

Vì đã có quyền lực tuyệt đối trong tay thì dường như người ta chỉ cần sự tuân phục (nói theo ngôn ngữ của một người đồng nghiệp của tôi mà là Đảng viên là "tính chấp hành" ấy). Giống hệt như ông nội của tôi, một người tôi rất yêu, nhưng đồng thời tôi cũng rất sợ ông vì ông rất nghiêm và đòi hỏi sự vâng lời tuyệt đối của con cháu.

Một lần nọ, ông đã mắng con cháu khi không nghe lời ông về một chuyện gì đấy, và người bị mắng bèn phân trần, "lý luận" đúng - sai với ông. Ông nghe xong, chỉ phán:

- Người trên bảo trồng cây ngược cũng phải trồng!

Nghe chửa? Sợ chưa? Từ đấy mọi người im lặng hết, chỉ làm đúng những điều ông đòi hỏi mà thôi, còn đúng sai thì cũng mặc.

Vâng, tôi nghĩ đến cụm từ "trồng cây ngược" là như thế đấy các bạn ạ.

Chủ Nhật, 3 tháng 3, 2013

"Tiếng đàn piano nửa đêm"

Câu chuyện dưới đây tôi cũng đã từng được đọc ở đâu đó rồi, và đã quên. Nhưng sáng nay tôi nhận được thư của anh Nguyễn Đại Hoàng gửi câu chuyện này cho tôi, với mấy lời sau:

"Đây là một câu chuyện nên gởi đến cộng đồng. Xã hội mà có nhiều người biết rung động trước cái đẹp, cái khổ đau thì xã hội ấy vẫn còn cơ hội."

Hoàn toàn đồng ý với nhận định của anh NĐH, tôi đăng bài này lên đây để mọi người cùng đọc, và hy vọng câu chuyện sẽ nhắc mọi người nhớ rằng điều làm cho con người là người chính là ở lòng nhân.
 ----------------

Tiếng đàn Piano nửa đêm

Một người bạn gởi cho tôi câu chuyện này, không rõ tác giả, một câu chuyện thực sự cảm động và hàm chứa nhiều ý nghĩa sâu xa về cuộc sống. Bài viết gần như hoàn chỉnh tôi chỉ sửa một số lỗi chính tả và hiệu chỉnh lại một số đoạn cho rõ nghĩa hơn. Tựa do tôi đặt lại. ( NĐH).
----------

Một ngày anh hẹn chị ra quán cà phê trước nhà ga chính của thành phố Bremen. Câu đầu tiên khi gặp anh, chị nói trong sự cáu gắt :

- Ông lại bán xe rồi hay sao mà đi tàu lên đây ?

Anh cúi đầu trả lời lí nhí trong sự hổ thẹn :

- Ừ thì bán rồi, vì cũng không có nhu cầu lắm !

Chị sầm mặt xuống :

- Ông lúc nào cũng vậy, suốt đời không ngóc lên đầu lên được, hẹn tôi ra đây có chuyện gì vậy ?

Khó khăn lắm anh mới có thể nói với chị điều mà anh muốn nhờ chị. Chị cũng khó khăn lắm mới có thể trả lời từ chối anh :

- Nhưng mà gia đình tôi đang yên lành, nếu đưa con bé về e sẽ chẳng còn được bình yên nữa !

Anh năn nỉ, nhưng thật sự là anh rất bối rối :

- Con bé đã đến tuổi dậy thì, anh là đàn ông, không thể gần gũi và dạy dỗ chu đáo cho nó được, anh chưa bao giờ cầu xin em điều gì, chỉ lần này thôi, chỉ nửa năm hay vài ba tháng cũng được, em là phụ nữ em gần nó, em hướng dẫn và khuyên bảo nó trong một thời gian để nó tập làm quen với cuộc sống của một thiếu nữ, sau đó anh lại đón nó về.

Chị thở dài :

-Ông lúc nào cũng mang xui xẻo cho tôi, thôi được rồi, ông về đi, để tôi về bàn lại với chồng tôi đã, có gì tôi sẽ gọi điện thông báo cho ông sau.

Anh nhìn chị với ánh mắt đầy hàm ơn. Anh đứng dậy, đầu cúi xuống như có lỗi tiễn chị ra xe rồi thở dài, lùi lũi bước vào nhà ga đáp tàu trở lại Hamburg.

Anh và chị trước kia là vợ chồng. Họ yêu nhau từ hồi còn học phổ thông. Anh đi lao động xuất khẩu ở Đông Đức. Chị theo học Đại học Sư phạm Hà Nội 1. Ngày bức tường Berlin sụp đổ, anh chạy sang phía Tây Đức. Chị tốt nghiệp đại học và về làm giáo viên cấp 3 huyện Thái Thụy, Thái Bình. Họ vẫn liên lạc và chờ đợi nhau.

Khi đã có giấy tờ cư trú hợp lệ, anh về làm đám cưới với chị, rồi làm thủ tục đón chị sang Đức.

Vừa sang Đức, thấy bạn bè anh ai cũng thành đạt, đa số ai cũng có nhà hàng, hay cửa tiệm buôn bán, chỉ có anh là vẫn còn đi làm phụ bếp thuê cho người ta. Chị trách anh vô dụng. Anh không nói gì, chỉ hơi buồn vì chị không hiểu, để có đủ tiền bạc và điều kiện lo thủ tục cho chị sang được đây, anh đã vất vả tiết kiệm mấy năm trời mới được.

Nên không dám mạo hiểm ra làm ăn

“Đồ cù lần, đồ đàn ông vô dụng…”, đó là câu nói của miệng chị dành cho anh, sau khi anh và chị có bé Hương.

Bé Hương sinh thiếu tháng, phải nuôi lồng kính đến hơn nữa năm mới được về nhà. Khi bác sĩ thông báo cho vợ chồng anh biết bé Hương bị thiểu năng bẩm sinh. Giông tố bắt đầu thực sự nổi lên từ đó. Chị trách anh, đến một đứa con cũng không làm cho ra hồn, thì hỏi làm được gì chứ. Anh ngậm đắng nuốt cay nhận lỗi về mình và dồn hết tình thương cho đứa con gái xấu số.

Bé Hương được 3 tuổi, chị muốn ly dị với anh. Chị nói, ông buông tha cho tôi, sống với ông đời tôi coi như tàn. Anh đồng ý, vì anh biết chị nói đúng. Anh là người chậm chạp, không có chủ kiến và không có chí tiến thân, sống an phận thủ thường. Nếu cứ rằng buộc sẽ làm khổ chị.Bé Hương 3 tuổi mà chưa biết nói. Chị cũng rất thương con, nhưng vì bận bịu làm ăn nên việc chăm sóc con bé hầu hết là do anh làm. Vì vậy mà con bé quấn quít bố hơn mẹ.Biết vậy nên chị cũng rất yên tâm và nhẹ nhõm nhường quyền nuôi dưỡng con bé cho anh khi làm thủ tục ly hôn.Ly dị được gần 1 năm thì chị tái giá. Chị sinh thêm một đứa con trai với người chồng mới.Thành phố Bremen là thành phố nhỏ.

Người Việt ở đó hầu như đều biết nhau. Chị cảm thấy khó chịu khi thỉnh thoảng bắt gặp cha con anh đi mua sắm trên phố. Chị gặp anh và nói với anh điều đó. Anh biết ý chị nên chuyển về Hamburg sinh sống.

Chị không phải là người vô tâm, nên thỉnh thoảng vẫn gửi tiền nuôi dưỡng con cho anh. Trong những dịp năm mới hay Noel, chị cũng có quà riêng cho con bé, nhiều năm, nếu có thời gian, chị còn đến trực tiếp tặng quà cho con bé trước ngày lễ giáng sinh nữa.

Thấm thoát đó mà giờ đây con bé đã sắp trở thành một thiếu nữ. Tuy chị không biết cụ thể thế nào. Nhưng chị biết dù con bé lớn lên trong tật nguyền hẩm hiu, nhưng anh rất thương nó. Chị cũng biết con bé gặp vấn đề trong giao tiếp, phải đi học trường khuyết tật. Nhưng con bé rất ngoan. Anh cũng không phải vất vả vì nó nhiều. Nó bị bệnh thiểu năng, trí tuệ hạn chế, phát âm khó khăn. Tuy vậy nó vẫn biết tự chăm sóc mình trong sinh hoạt cá nhân. Thậm chí nó còn biết giúp anh một số công việc lặt vặt trong nhà.

Chồng chị đã đồng ý cho chị đón con bé về tạm sống với chị vài tháng, với điều kiện trong thời gian con bé về sống chung với vợ chồng chị, anh không được ghé thăm. Chị cũng muốn thế, vì chị cảm thấy hổ thẹn khi phải tiếp xúc với vẻ mặt đần đần dài dại của anh.

Vợ chồng chị đã mua nhà. Nhà rộng, nên con bé được ở riêng một phòng. Chị đã xin cho con bé theo học tạm thời ở một trường khuyết tật ở gần nhà. Con bé tự đi đến trường và tự về được.

Đi học về, nó cứ thui thủi một mình trong phòng. Đứa em trai cùng mẹ của nó, mẹ nó, và bố dượng nó rất ít khi quan tâm đến nó. Niềm vui duy nhất của nó là chờ điện thoại của bố. Nó phát âm không chuẩn và nói rất khó khăn, nên hầu như nó chỉ nghe bố nói chuyện. Bố dặn dò nó rất nhiều và thỉnh thoảng còn hát cho nó nghe.

Em trai nó học thêm Piano, nên nhà mẹ nó có cái đàn Piano rất đẹp để ở phòng khách.

Có lần nó sờ và bấm bấm vài nốt. Mẹ mắng nó không được phá đàn của em. Nên từ đó nó không dám đụng đến nữa. Có hôm anh gọi điện thoại cho nó, nó nghèn nghẹn nói lỏm bỏm,.. đàn..đàn…klavia….con muốn… Anh thở dài và hát cho nó nghe.

Tháng đầu, hầu như ngày nào anh cũng gọi điện thoại cho nó. Rồi thưa dần, thưa dần.

Cho đến một ngày anh không gọi cho nó nữa. Sau một tuần đăng đẳng không nghe anh gọi điện thoại. Con bé bỏ ăn và nằm bẹp ở nhà không đi học. Chị không biết gì cứ mắng nó dở chứng.

Một đêm, chị bỗng bật choàng dậy khi nghe tiếng đàn Piano vang lên. Chị chạy ra phòng khách, thấy con bé đang ngồi đánh đàn say sưa. Nó vừa đánh vừa hát thì thầm trong miệng. Chị cứ há hốc mồm ra kinh ngạc. Chị không thể tưởng tượng nổi là con bé chơi Piano điêu luyện như vậy. Chị chợt nhớ ra, đã có lần anh nói với chị, con bé ở trường khuyết tật có học đàn Piano, cô giáo khen con bé có năng khiếu. Lần đó chị tưởng anh kể chuyện lấy lòng chị nên chị không quan tâm

Chị đến gần sau lưng nó, và lặng lẽ ngắm nhìn nó đánh đàn. Chị cúi xuống và lắng nghe con bé hát thầm thì cái gì.

Chị sởn cả da gà, khi chị nghe con bé hát rõ ràng từng tiếng một, mà lại là hát bằng tiếng Việt hẳn hoi: “…Nhớ những năm xa xưa ngày cha đã già với bao sầu lo…sống với cha êm như làn mây trắng…nhớ đến năm xưa còn bé, đêm đêm về cha hôn chúng con….với tháng năm nhanh tựa gió..ôi cha già đi cha biết không…”.

Chị vòng tay ra trước cổ nó và nhẹ níu, ôm nó vào lòng. Lần đầu tiên chị ôm nó âu yếm như vậy. Chị thấy tay mình âm ấm. Nó ngừng đàn đưa tay lên ôm riết tay mẹ vào lòng ngực. Nó khóc. Chị xoay vai nó lại, nhìn vào khuôn mặt đầm đìa nước mắt của nó. Nó chìa cho chị một tờ giấy giấy khổ A4 đã gần như nhàu nát.

Chị cầm tờ giấy và chăm chú đọc, rồi thở hắt ra nhìn nó hỏi, con biết bố con bị ung thư lâu chưa. Nó chìa bốn ngón tay ra trước mặt mẹ. Chị hỏi, bốn tháng rồi hả. Nó gật đầu.

Chị nhìn chăm chăm vào tờ giấy, và từ từ ngồi thụp xuống nền nhà, rũ rượi thở dài.

Con bé hốt hoảng đến bên mẹ, ôm mẹ vào lòng, vuốt mặt mẹ, rồi vừa ấp úng nói vừa ra hiệu cho mẹ. Đại ý là nó diễn đạt rằng: -” Bố lên ở trên Thiên Đường rồi, mẹ yên tâm, con đã xin vào nội trú ở trường dưới Hamburg, ngày mai con sẽ về dưới đó, con không ở lại đây lâu để làm phiền mẹ và em đâu, con về ở tạm đây là vì bố muốn thế, bố muốn mình ra được nhẹ nhàng và yên tâm là có mẹ ở bên con..”

Chị cũng ôm nó vào lòng, vỗ vỗ vào vai nó và nói, con gái ngoan của mẹ, ngày mai nếu mẹ sắp xếp được công việc, mẹ sẽ đưa con về Hamburg….

-------------
Đoạn kết :

Tôi nghe người ta kể chuyện lại chuyện đó, khi đi dự một cuộc biểu diễn nghệ thuật của học sinh khuyết tật và khiếm thị. Khi thấy em gái đệm đàn piano cho dàn đồng ca, cứ khăng khăng đòi phải đàn và hát bài hát “Người Cha Yêu Dấu” bằng tiếng Việt trước, sau đó mới chịu đệm đàn cho dàn đồng ca tiếng Đức. Quá kinh ngạc nên tôi cứ gạn hỏi mãi người trong ban tổ chức. Cuối cùng họ đã kể cho tôi nghe câu chuyện như vậy.

--------------------------------------------------------------------------------------------

Lời phụ của Nguyễn Đại Hoàng : Câu chuyện đơn giản, không nhiều tình tiết, đã lấy đi nước mắt của nhiều người đọc. Tôi hình dung được cảnh người cha Việt Nam gầy ốm bệnh tật và đứa con gái tật nguyền tội nghiệp của anh trên đất khách quê người. Tôi như thấy được hình ảnh đứa con gái tưởng nhớ người cha - mà em biết đã mất rồi – qua tiếng đàn Piano. Tôi biết tiếng đàn ấy đau đớn biết bao. Tôi nghe được cả lời ca nghẹn ngào của em Nhớ những năm xa xưa ngày cha đã già với bao sầu lo…sống với cha êm như làn mây trắng…nhớ đến năm xưa còn bé,đêm đêm về cha hôn chúng con….với tháng năm nhanh tựa gió..ôi cha già đi cha biết không…”.

Em bé Việt Nam ở phương trời xa lạ kia ơi em thật là vĩ đại ! Tôi hãnh diện vì em biết bao !

NGUYỄN ĐẠI HOÀNG

3/2013

Thứ Năm, 28 tháng 2, 2013

Bài cũ đăng lại: "Đảng hay là nước?"

Đây là entry cũ của tôi đã đăng trên blog này vào ngày 2/10/2011.

Tôi chưa bao giờ đăng lại bài cũ của mình trên blog. Nhưng hôm nay, sau khi đọc báo mạng thấy có những dư luận liên quan đến quân đội nhân dân trong dự thảo sửa đổi Hiến pháp, tôi bỗng nhớ ra rằng mình đã có viết một bài liên quan đến việc này. Nên lấy ra, đăng lại, xem như góp tay một phần vào việc góp ý sửa đổi hiến pháp như chủ trương của Đảng và Nhà nước và lời kêu gọi của Quốc hội.

Nhân tiện nói thêm: Mới đây dư luận hơi ồn ào về những phát biểu của Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng và Chủ tịch Quốc Hội Nguyễn Sinh Hùng về chỉ đạo của các ông rằng phải quan tâm lãnh đạo việc góp ý Hiến pháp, và xử lý những trường hợp lợi dụng góp ý Hiến pháp để đòi hỏi dân chủ, chống phá Nhà nước gì gì đấy. Tôi thấy hơi thất vọng về những phát biểu này, vì nó thật dở và tạo ra thêm chứng cứ để báo chí nước ngoài tiếp tục kêu ầm  lên là chúng ta không có tự do dân chủ. Tôi nghĩ, có lẽ ông TBT khi phát biểu ở Vĩnh Phúc thì quên mất là mình đang phát biểu trước ống kính truyền hình cho toàn dân xem, mà vẫn nghĩ là mình chỉ đang nói với riêng các Đảng viên mà thôi. 

Điều này thỉnh thoảng tôi vẫn thấy xảy ra trong các kỳ họp mà ngày xưa khi còn làm ở trường công tôi vẫn hay dự. Chả là tôi không phải là Đảng viên, nhưng lúc ấy lại là "cốt cán" (tức là có chức vụ), một trường hợp hiếm (nói thêm: tôi hết sức kính trọng người sếp cũ đã dám bổ nhiệm tôi vào chức vụ khi chưa/không là Đảng viên). Trong các cuộc họp cán bộ chủ chốt ấy, tuyệt đại đa số cán bộ chủ chốt là Đảng viên, nên các vị lãnh đạo ở trên cứ thoải mái nói về quần chúng có thái độ thế này, có dư luận nọ kia, cần phải chấn chỉnh như thế, như thế. Ngồi ở đó nghe những phát biểu như thế nhưng không phải là Đảng viên, tôi ý thức rất rõ cái thân phận của tôi mà bọn "không thân thiện" (hình như lời của ông nghị HHP) thường gọi là "công dân hạng hai", một người ngoài Đảng. Thậm chí đôi khi tôi còn có cảm giác Đảng vẫn đang tiếp tục tiến hành một cuộc chiến tranh giữa 2 bên, một bên là ta (Đảng), còn lại là địch (tất cả những người ngoài Đảng), nghe đôi khi rất khó chịu và chạnh lòng.

Tôi nghĩ, đây là một lối suy nghĩ đã thấm quá sâu vào dầu các vị lãnh đạo Đảng từ thời còn chiến tranh, Đảng còn hoạt động bí mật, còn bị đàn áp nên luôn phải có thái độ cảnh giác với mọi người xung quanh mình, kể cả các thường dân, và luôn phải có tư duy "ta, địch" rõ ràng. Nhưng ngày nay thì Đảng đã nắm quyền lãnh đạo tuyệt đối và toàn diện từ mấy chục năm nay rồi mà vẫn còn như thế thì rất dở, thưa Đảng, vì nó không làm cho nhân dân thấy mình có quyền dân, quyền bình đẳng trước pháp luật giữa những người ngoài Đảng và trong Đảng, và - suy rộng ra - là quyền con người. Là những điều mà Hiến pháp Việt Nam đều khẳng định (tôi nghĩ thế?), tức là những quyền hiến định như người ta thường nói. Có lẽ Đảng cũng nên chú ý đến điều này để cho dân tin yêu hơn (và không nhao nhao đòi bỏ Điều 4 nữa, dù tôi biết có đòi thì Đảng cũng chẳng chịu đâu mà).

Tản mạn vài (chục) dòng như thế, còn dưới đây là bài cũ, xin đăng lại cho mọi người đọc, xem như là góp ý Hiến pháp cho đúng chủ trương và lời kêu gọi nhé. Chỉ còn có 1 tháng nữa thôi, hôm nay 1/3 rồi còn gì!
----------------

Đảng hay là nước?

Entry này xuất phát từ một tranh cãi nho nhỏ của bạn bè (người biết mặt, người không, người thân, người sơ) trên facebook. Đại khái, có một người nói rằng Hồ Chủ tịch đã dạy quân đội ta rằng phải “trung với Đảng, hiếu với dân”. Thế rồi có những người khác cãi, nói rằng cụ Hồ không có dạy như vậy, mà dạy là “trung với nước, hiếu với dân”.

Chỉ có thế thôi, thế là thành một cuộc tranh cãi. Mọi người ra sức chứng minh rằng mình đúng, và đi tìm nguồn dẫn chứng để cho “phe kia” thấy rằng mình đúng.

Tôi cũng tò mò muốn biết, vì tôi có nghe cả 2 phiên bản trung với Đảng và trung với nước. Mà này, các bạn chú ý, Đảng thì phải viết hoa nhé, vì người ta bảo, đấy là viết tắt của một tên riêng, tên "Đảng Cộng Sản VN”. Còn nước thì không thấy ai viết hoa bao giờ cả, mặc dù suy cho cùng thì nó cũng là một tên riêng, vì khi nói tôi yêu nước tức là thực ra đang nói một nước xác định, nước Việt Nam ấy. Và cả dân cũng thế chứ nhỉ, dân Việt Nam, chứ không phải, ví dụ, nước Tàu, dân Tàu đâu nhé.

Và kết cục là như thế này:

1. Bên ủng hộ “trung với Đảng” thì đưa ra dẫn chứng bằng bài viết trên trang web của Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam, link ở đây: http://www.cpv.org.vn/cpv/Modules/Preview/PrintPreview.aspx?co_id=30234&cn_id=172539.

Trong phần đầu của bài đó, viết năm 2004, có viết rõ mồn một như sau (xin lỗi trích hơi dài tí, nhưng cần thiết, với lại lâu quá rồi tôi không học chính trị, nay cũng cần ôn lại):

Nâng cao phẩm chất, truyền thống “Trung với Đảng, hiếu với dân”

15:04 | 17/12/2004

Được Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp tổ chức, lãnh đạo, giáo dục và rèn luyện theo nguyên lý xây dựng quân đội kiểu mới của giai cấp công nhân, Quân đội nhân dân Việt Nam từ ngày đầu thành lập đến nay luôn mang trong mình bản chất tốt đẹp của giai cấp công nhân, thể hiện sâu sắc tính nhân dân và tính dân tộc. Sáu mươi năm qua, quân đội luôn vững vàng trong thực tiễn đấu tranh cách mạng, hy sinh phấn đấu cho mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, xứng đáng với vai trò công cụ bạo lực sắc bén, lực lượng chính trị đặc biệt tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân. Trên mỗi chặng đường cách mạng, quân đội đã viết nên những trang sử vàng chói lọi, xây đắp nên những phẩm chất, truyền thống cách mạng vẻ vang, xứng đáng với lời ngợi khen của Bác Hồ: “Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”.

Rõ rồi nhé, vì đây là bài viết đăng trên báo Đảng đàng hoàng, mà theo tiêu chuẩn VN thì cái gì Đảng nói ra là cũng phải đúng hết, thì “dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng” mà lại. Chẳng gì thời đi học tôi cũng được 9 điểm môn Kinh tế chính trị, là người duy nhất đạt điểm này trong khi cả lớp thi lại đến 50% (ai không tin, cứ hỏi ở ĐH Tổng hợp năm học 80-81 ắt sẽ rõ, lúc ấy tôi học môn KTCT năm thứ ba đấy).

Thế nhưng phe kia cũng chẳng vừa. Họ cũng trưng ra bằng chứng, có hình chụp cụ Hồ nữa nhé, mặc dù link của họ thì không nặng ký bằng, vì không phải của Đảng hay Nhà nước gì ráo, mà hình như là của dân,
ở đây
: http://bee.net.vn/channel/1984/201105/Nhung-chuyen-it-biet-ve-Truong-Vo-bi-Tran-Quoc-Tuan-1800013/

Và phần mở đầu của bài viết (năm 2011) cũng rất oách, viết như vầy:
Những chuyện ít biết về Trường Võ bị Trần Quốc Tuấn

23/05/2011 14:37:11

Trường Võ Bị Trần Quốc Tuấn - tiền thân của trường Sĩ quan Lục quân 1 (Đại học Trần Quốc Tuấn) – là đơn vị đầu tiên vinh dự được Chủ tịch Hồ Chí Minh trao tặng lá cờ thêu 6 chữ vàng “Trung với nước hiếu với dân”. Nhân kỷ niệm 65 năm lễ khai giảng khóa 1 của ngôi trường đào tạo cán bộ chính quy đầu tiên của nước Việt Nam mới (26-5-1946 – 26-5-2011), xin giới thiệu với bạn đọc bài viết về những chuyện ít biết của đơn vị này.

Không chỉ có thế, phe “bênh nước” (khác với phe “bênh Đảng”) còn đưa một link khác, trong đó có hình chụp lá cờ truyền thống với 6 (không phải 16) chữ vàng rõ mồn một chẳng lẫn vào đâu được, ấy là “trung với nước, hiếu với dân”, trên trang của nhà văn Trần Nhương ở đây này: http://trannhuong.com/news_detail/9347/TRUNG-V%C6%A0%CC%81I-N%C6%AF%C6%A0%CC%81C-HI%C3%8A%CC%81U-V%C6%A0%CC%81I-D%C3%82N.


Đến đây thì tôi thua. Đầu tôi giống hệt như cái máy tính bị nhận nhiều lệnh quá cùng một lúc, treo luôn.

Vì tôi không sao trả lời được những thắc mắc này: Nếu phe bênh Đảng mà đúng, thì hóa ra có người dám bịa ra chuyện Hồ Chủ tịch với lá cờ kia á? Có mà tù mọt gông đấy, dám bịa đặt thông tin liên quan vị lãnh tụ cao nhất, đáng tôn kính nhất, cha già của dân tộc cơ mà? Chắc là không có ai dám làm thế đâu.

Nhưng nếu phe ấy đúng, thì không lẽ phe kia sai? Cũng thế, ai dám sửa lời dạy của HCT, vị cha già kính yêu của dân tộc, người đã khai sinh ra quân đội nhân dân Việt Nam? Không lẽ lại còn có ai to hơn vị lãnh tụ vĩ đại mà cả nước đang cố gắng học tập theo gương à? Hay là … báo Đảng … sai - ấy quên, đánh máy nhầm? Lỗi tại anh đánh máy?

Không sao trả lời được, thực vậy. Nên đầu của tôi lúc này mới như máy tính bị treo, là như thế.

Có ai trả lời giúp tôi với, được không?
----------
Cập nhật lúc 6:30 sáng cùng ngày:

Bài viết của tôi vừa được đăng lên thì có một bạn đọc mail cho tôi mà bảo rằng: Hãy kiểm tra lại các link tôi đưa trong bài, vì chúng không tồn tại!!!!

Tôi làm theo, và, ôi trời, quả là chúng đã mất rồi! Chẳng biết ai lấy đi thế nhỉ, mà lấy đi để làm gì cơ chứ? 

Và rồi tôi bỗng nhớ câu: "Trăm năm bia đá thì mòn/Nghìn năm bia miệng hãy còn trơ trơ"!

Thứ Ba, 26 tháng 2, 2013

Đọc lại "Bút máu" của Vũ Hạnh

Vũ Hạnh là một một nhà văn mà tôi yêu thích vào thời trước năm 1975. Không chỉ riêng tôi, mà cả gia đình tôi yêu thích, bắt đầu từ ba tôi. Tôi nhớ hồi ấy, gần như hàng tuần ba tôi đều dẫn bọn tôi ra khu trung tâm của Sài Gòn (dùng từ tiếng Anh là downtown ấy), đi dọc đại lộ Nguyễn Huệ, rồi xem hàng quán bán trên đường Lê Lợi, và cuối cùng là vào nhà sách Khai Trí. Tôi vẫn nhớ câu danh ngôn treo như một banner treo ở trên tường ngay giữa nhà sách Khai Trí: "Để lại một gia tài, không bằng để cho con một quyển sách"; nếu câu này mà đúng (và tôi nghĩ là đúng!) thì tất cả bọn tôi đều quá giàu có bởi số sách vở ba tôi để lại cho bọn tôi là rất nhiều, có thể tạo thành một thư viện không quá nhỏ. Thói quen mua sách và đọc sách của tôi chính là bắt nguồn từ ấy.

Quay trở lại Vũ Hạnh, ông có tài về ngôn ngữ, viết rất lôi cuốn, và nội dung cũng gây ấn tượng. Riêng tôi ấn tượng nhất về ông là vì 2 cuốn sách. Một là cuốn Người Việt cao quý, được viết dưới bút hiệu giả làm một người Ý viết về VN. Một cuốn sách mà lúc ấy tôi đọc thì rất xúc động, nhưng sau này cũng đồng ý với những người phê phán nó, cho rằng một người Việt mà lại lấy bút hiệu nước ngoài để viết ca ngợi chính dân tộc mình thì quả là ... kỳ, có thể nâng lên thành vấn đề đạo đức. Đồng thời nó cũng cho thấy một cái gì đó về tính cách dân tộc Việt Nam: chỉ thích khen và tự khen chứ không chấp nhận sự phê phán và tinh thần tự phê phán. Trong khi ở các nước khác thì người ta viết Người Mỹ xấu xí rồi Người Trung Quốc xấu xí, mà Mỹ với TQ thì toàn là cường quốc cả, mà VN lại đi viết Người Việt cao quý là làm sao? Nghĩ lại, thấy cũng đúng thật!

Cuốn thứ hai của Vũ Hạnh là một tập truyện ngắn với nhiều câu truyện nho nhỏ ở trong, nhưng tôi ấn tượng nhất là truyện Bút máu. Đó là một câu truyện viết với lối văn Liêu Trai chí dị, kinh dị và hoang đường, nhưng ẩn ý thì rất rõ. Nhà văn đưa ra thông điệp rằng những người cầm bút mà viết không đúng sự thật thì sẽ gây ra tác hại không kể xiết, tạo ra đầy rẫy nghiệp chướng, gây hại cho người khác vô số kể. Nên câu truyện mới có tựa là Bút máu, một cái tựa nghe là đã thấy ghê sợ rồi. Sau này, khi biết Vũ Hạnh là một nhà văn theo cách mạng từ thời trước năm 1975 (nói theo ngôn ngữ của thời ấy thì ông là Việt Cộng nằm vùng), thì tôi hiểu thâm ý của VH là phê phán sự thiếu tự do báo chí của thời ấy, và đưa ra thông điệp cho các cây bút của miền Nam là khi viết thì phải có lương tri và dũng khí của người cầm bút, để luôn luôn nói lên sự thật và bảo vệ lẽ phải. Một thông điệp hay và quan trọng đối với những nước nghèo và lạc hậu như Việt Nam, mà có lẽ thông điệp ấy đến giờ vẫn còn giá trị.

Sau năm 1975, tiếc thay, tôi không còn được thấy những tác phẩm dưới bút danh Vũ Hạnh nữa. Chẳng rõ ông bây giờ làm gì, ở đâu, và có luôn giữ được thông điệp mà chính ông đã đưa ra trong truyện ngắn "Bút máu" của mình hay không.

Xin các bạn cùng thưởng thức lại truyện ngắn "Bút máu" của Vũ Hạnh dưới đây.
-------------------
http://music.vietfun.com/trview.php?ID=1019&cat=18


Lương Sinh người ở Mãn Châu, con nhà thế phiệt, nổi tiếng thông minh đỉnh ngộ từ khi tóc để trái đàọ Lên tám đã giỏi thơ ca, từ phú, ai cũng ngợi khen là bậc thần đồng.
    Năm lên mười hai, gặp thời loạn ly, cha mẹ đều bị giặc giết. Sinh sầu thảm mấy tháng liền, mất ăn, mất ngủ, lại thêm căn tạng yếu đuối nên lâm bệnh nặng, thần kinh hốt hoảng, luôn luôn giật mình, nằm mơ thấy toàn là máu lửa, sọ xương. May có người cậu đem về săn sóc đêm ngàỵ Sau nhờ đạo sĩ họ Trình ở núi Hoa Dương dùng biệt dược trị liệu nên được lành bệnh, tâm thái trở lại an tĩnh điều hòạ Khi lên mười lăm, Sinh được người cậu gởi đến Lã Công, một quan thủ hiệu bãi chức từ lâu ở nhà mở trường dạy võ. Sinh học rất chóng, nửa năm đã làu thông cả mười hai môn võ bí truyền của nhà họ Lã. Lã Công quý mến, một hôm lấy thanh bảo kiếm của mấy mươi đời họ Lã lập công trao cho Sinh luyện tập. Giữa buổi Sinh đang múa kiếm, bỗng dừng phắt lại, đưa kiếm lên ngửi rồi cau mày, kêu lên:
    - Máu người tanh quá!
    Ðoạn đem thanh kiếm nộp trả, cáo từ mà về.
    Ðến nhà, lạy cậu thưa lên:
    - Võ nghệ không phải là con đường cháu nên theọ Máu người chảy trong cơ thể quý vô cùng nhưng dính ra ngoài lại quá hôi tanh. Kẻ cầm lưỡi dao trọn đời sao cho khỏi đổ máu người! Ðiều tàn nhẫn ấy cháu không làm được.
    Người cậu giận lắm, bảo rằng:
    - Mày thực cạn nghĩ, phụ cả lòng ta trông đợi lâu naỵ Ðành rằng máu người là quý, nhưng để máu ấy chảy trong đầu bọn ác nhân thì càng có hại cho người, lại càng có tội!
    Lương Sinh cúi thưa:
    - Ai cũng cho mình là phải, lấy đâu để nói tốt xấu rõ ràng? Làm thiện một cách hăm hở mà không ngờ rằng đấy là điều ác, lại càng có tội vì đã lừa mình, lừa ngườị Trộm nghĩ binh đao là điều dứt khoát, cháu chưa dứt khoát trong người, tự thấy không dám theo đuổị
    Cậu nói:
    - Hoài nghi như thế, e rồi không khéo mày tự mâu thuẫn với màỵ Không phân biệt được giả, chân, thiện, ác, làm sao có thể tự tin mà sống trên đời! Xã hội chưa đâu có thể gọi là chốn thiên đường, bên cạnh nhà trường còn có nhà ngục, bên cạnh ngòi bút còn có lưỡi dao, không thể chỉ lấy một chiều, chỉ yêu một cạnh. Vị tất nhà trường đã không tội lỗi, ngòi bút đã không oan khiên! Ta không có con, từ lâu kỳ vọng nơi mày, nhân thời tao loạn, những mong cho mày múa gươm trận địa hơn là múa bút rừng văn. Bây giờ, thế thôi là hết. Từ nay tùy mày định lấy đời mày, ta không nói nữạ
    Từ đấy, Lương Sinh sẵn có nếp nhà giàu đủ, chuyên nghề thơ văn, tiêu dao ngâm vịnh tháng ngàỵ Lời thơ càng gấm, ý thơ càng hoa, tiếng đồn lan xa, lan rộng như sóng trên biển chiều nổi gió. Quan lệnh trấn mới đổi đến địa phương vốn người hâm mộ văn chương, cho vời Sinh đến. Thấy Sinh tướng mạo khôi ngô, lòng cảm mến, tiếp đãi hết sức trọng hậụ Sau đó, quan lệnh mượn những thi tuyển của Sinh trong một tháng trường. Khi quan giao trả, Sinh thấy có những bài thơ hay họa lại những bài đắc ý nhất của mình dưới ký tên Tuyết Hồng, con gái của viên quan. Sinh vui mừng nghĩ rằng gặp được người hợp ý. Sau quan lệnh ngỏ lời kén Sinh làm giai tế. Sinh sung sướng nhận lờị
    Sau lễ hôn phối, Sinh mới ngỡ ngàng biết rằng Tuyết Hồng không đẹp, cũng không biết làm thơ. Càng ngày Sinh càng chán nản khôn khuây, ảo tưởng vỡ tan, tưởng như tuyệt vọng tình đờị Thiếu thốn hình ảnh giai nhân, cuộc sống tự nhiên cằn cỗị Nhân tết nguyên đán, Tuyết Hồng về thăm song thân, Sinh bèn thừa dịp, noi gương Tử Trường ngày xưa phiếm du xuân thủỵ
    Sinh chọn đường ven theo suối đẹp, đi mãi đã mười ngày, tiền lương muốn cạn, ý thơ chừng đầy, chợt đến một miền tiêu điều, dân cư thưa thớt, Sinh chán nản định quay về, nhưng ruột đói lưỡi khô, bèn đi tìm một tửu quán nghỉ chân. Qua ba dặm đồng trơ trọi vẫn chưa thấy bóng một người để hỏi thăm nơị Bỗng nghe phảng phất tiếng trống, tiếng chuông lẫn tiếng reo cườị Dò theo âm thanh vọng lại, lần bước đến nơi, thấy đám hội trước chùa, bèn vào quán nhỏ gần đấy ăn uống. Chủ quán cho biết, đã mấy năm rồi ở đây mới có một ngày hội lớn, vì quan khâm sai triều đình sắp về địa phương nên quan tổng trấn họ Lý bày ra trò vui để cho dân chúng thỏa thuê ít bữạ Chợt có tiếng hò hét và mọi người sợ hãi dạt ra, từ xa là chiếc kiệu hoa của tiểu thư Lý Duyên Hương, con quan Tổng Ðốc. Người đẹp vừa kiêu hãnh vừa sắc sảo khiến Sinh ngây ngất, nhìn đến quên ly rượu trong tay rơi xuống vỡ toang. Người đẹp quay nhìn thấy, nhoẽn miệng cườị Nụ cười lộng lẫy như hé sáng một trời tình. Sinh lảo đảo đứng lên trả tiền rồi theo chiếc kiệu chen vào chùạ Vào trong thấy Lý tiểu thư thành kính đàm đạo với mấy vị Tăng già rồi lên chánh điện lễ Phật. Sinh đến phòng kế lấy bút và giấy hoa tiên theo phỏng mấy câu:
    Tiên hoa gài mộng, vấn vương đền Phật bâng khuâng
    Ðông biếc, thoáng cười tiên nữ
    Mặt nước hồ in, xao động bốn mùa sóng gió
    Bóng đêm hang thẳm, long lanh một vẻ giai nhân.
    Rồi bẻ cành hoa kẹp vàọ Khi Lý tiểu thư lễ xong, khoan thai xuống thềm, mọi người sợ hãi bật ra hai bên thì Sinh vội vã đi theọ Ðến lúc nàng vừa lên kiệu, Sinh ném cành hoa lên chỗ nàng ngồị Lính hầu thoáng thấy kêu lên:
    - Có người ám hại tiểu thư.
    Lập tức mười lưỡi gươm dài vung lên, lính hầu vây lấy Lương Sinh. Những người xem hội thất sắc lùi lại, dồn dập đẩy vào nhau kêu la náo động. Tiểu thư ngồi trên, vén rèm nhìn xuống không nói một lờị Vẻ mặt hết sức kiêu kỳ. Lương Sinh đã toan mở lời khống chế, nhưng lính xông vào trói chàng.
    Ðám đông có tiếng thì thàọ
    - Anh ta chỉ ném một cành hoa thôi đấỵ
    - Bấy nhiêu cũng đủ héo cuộc đời rồị
    - Qua dinh Tổng trấn không lấy nón xuống đã là bay đầu, nói chi xúc phạm đến tiểu thơ vàng ngọc!
    Về đến nha môn, lính dẫn Lương Sinh nhốt vào trại giam, rồi tâu trình lên Tổng trấn. Lương Sinh nằm rầu rĩ trong bốn bức vách đá, e phải mang nhục phen nàỵ Ðang mơ màng về thế giới bên kia, chợt nghe tiếng người gọi dậy, lập tức được lính dẫn đến công đường. Tổng trấn ngồi giữa, vóc dạng phương phi, hàm én râu hàm, trên tay còn cầm tang vật là mảnh hoa tiên.
    Sinh cúi đầu thi lễ, toan tìm lời kêu oan gỡ tội thì quan ra lệnh mở tróị Trước sự kinh ngạc của Sinh, quan bước xuống thềm, dắt Sinh vào trong, kéo ghế bảo ngồi, Sinh từ chối hai ba lần không được. Quan nói:
    - Ta thường ước ao gặp được một người tài đức, nay biết người là danh sĩ nên thực hết lòng hâm mộ. Lính hầu sơ xuất phạm điều vô lễ vừa rồi, ta sẽ nghiêm trị. Gác đằng thuận nẽo gió đưa, người hãy cùng ta ở đây hưởng mấy ngày xuân vui câu xướng họa, cho thỏa tình ta khao khát lâu naỵ
    Ðoạn truyền đem rượu ngon thịt béo ra thết đãi nồng hậụ Lương Sinh thích thú uống rượu ngâm thơ suốt ngày Tổng trấn có vẻ đặc biệt kính trọng tài năng của Sinh. Ðộ chỉ hôm sau, quan tổ chức cuộc du xuân, đưa Sinh đi xem cảnh trí trong miền. Nơi nào quan cũng cho thấy kỳ công đại lực của quan tạo lập cho dân: Kia là dòng suối quanh co quan đã khai thông để để dân lấy nước cày cấy, nọ là đồng ruộng bao la trước kia toàn là rừng rậm hoang vu quan đã tốn công khai phá cho dân trồng trọt.
    Ngồi trên kiệu cao, Sinh nhìn theo ngón tay quan trỏ phía xa xa, mơ hồ thấy suối thấy đồng nhiều vẽ khác màu miệng không ngừng tán tụng. Hơi men nồng nàn, lòng Sinh chứa chan nhiệt tình đối với những bậc "Dân chi phụ mẫu" mà xưa nay Sinh thường tỏ ý rẻ khinh.
    Ðến đâu quan cũng xin Sinh lưu bút để cho khắc vào bia đá, cột đồng. Sinh phóng bút thao thao bất tuyệt. Mực thơm bút quý, lời lời châu ngọc, hàng hàng gấm thêụ Trước khi giã từ, Sinh còn lưu lại bài tán tổng kết công đức của quan để khắc vào chốn công đường và bài minh, ký để ghi tạc vào mấy cổ hồng chung tại các tháp đền quy mô trong hạt. Quan ân cần tiễn Sinh ra khỏi nha môn, đưa tặng một cỗ ngựa bạch, mấy nén vàng, nhưng Sinh một mực từ chối từ không nhận để giữ vẹn lòng thanh khiết.
    Giữa mùa xuân ấy Sinh lâm bệnh nặng, nằm liệt suốt một tháng liền, Tuyết Hồng hết sức săn sóc thuốc thang, nhiều đêm không ngủ. Bệnh cũ như muốn tái phát, thần kinh rạo rực không yên, giấc ngủ chập chờn ác mộng.
    Mấy lần chống tay ngồi dậy, nhưng lại bủn rủn nằm xuống, hơi thở nóng ran như lửạ Một sớm đang nằm, nghe tiếng chim hoàng anh hót ngoài vườn vụt tắt, thấy một tia nắng lọt qua khe cửa chợt tàn. Sinh hốt hoảng tưởng chừng mùa xuân bỏ mình mà đi, bèn gượng ngồi lên xô mạnh cửa sổ. Mấy nụ hoa thắm cười duyên trước thềm, lá xanh tươi màu nhựa mớị Sinh gọi đem nghiên bút và tập hoa tiên. Vừa cầm bút lên, Sinh bỗng kinh ngạc. Nghiên mực đỏ tươi sắc máụ Thử chấm bút vào, lăn tròn ngọn bút đưa lên, bỗng thấy nhỏ xuống từng giọt, từng giọt thắm hồng như rỉ chảy từ tim. Khiếp đảm, Sinh ngồi sửng sờ, tâm thần thác loạn. Cố viết đôi chữ lên giấy, nét chữ quánh lại, lợn cợn như vệt huyết khô trên cát. Sinh vội buông bút, tưởng chừng bàn tay cũng thấm máu đầỵ Ðưa lên ngang mũi, mùi tanh khủng khiếp. Quệt tay vào áo, đau nhói trong ngườị Sinh nằm vật xuống mê man bất tỉnh. Sau mấy ngày, Sinh tỉnh dậy, lòng lại khao khát cầm bút. Nhưng nhớ hình ảnh vừa qua, tự nhiên đâm ra e ngại. Sinh cố tập trung thần lực, men đến án thư vừa cầm bút lại thấy lãng vãng sắc máu, không sao có đủ can đảm vạch được nét nàọ Sinh ném bút, hất giấy, vô cùng khiếp sợ, tưởng như xôn xao chung quanh vô số hồn oan đòi mạng. Từ đó Sinh gầy rạc hẳn, liệu không sống thoát.
    Người cậu của Sinh từ lâu đã vào trong núi Hoa Dương ở với đạo sĩ họ Trình, một hôm tạt về thăm nhà thấy cháu suy nhược, rất là lo lắng. Sau khi nghe Sinh thuật hết những điều quái dị vừa qua, ông suy nghĩ hồi lâu rồi nói:
    - Ta từng bảo cháu ngòi bút không phải không có oan khiên. Lưỡi gươm tuy ác mà trách nhiệm rõ ràng, lỗi lầm tác hại cũng trong giới hạn. Mượn sự huyển hoặc của văn chương mà gây điều thiệt hại cho con người, tội ác của kẻ cầm bút xưa nay kể biết là bao, nhưng chẳng qua vì mờ mịt hư ảo nên không thấy rõ hay không muốn rõ mà thôị Làm cho thiếu nữ băn khoăn sầu muộn, làm cho thanh niên khinh bạc hoài nghi, gợi cho người ta nghĩ vật dục mà quên nhân ái, kêu cho người ta tiếc tài lợi mà xa đạo nghĩa, hoặc cười trên đạo nghĩa của tha nhân, hát trên bi cảnh của đồng loại, đem sự phù phiếm thay cho thực dụng, lấy việc thiển cận quên điều sâu xa, xuyên tạc chân lý, che lấp bần hàn, ca ngợi quyền lực, bỏ quên con người, văn chương há chẳng đã làm những điều vô đạỏ Tội ác văn chương xưa nay nếu đem phân tích biết đâu chẳng dồn thành ngàn dãy Thiên Sơn! Thần tạng của cháu kinh động thất thường, nhưng mà bản chất huyền diệu có thể cảm ứng với cõi vô hình, chắc cháu làm điều tổn đức khá nặng nên máu oan mới đuổi theo như vậỵ Hãy xem có lỡ hứng bút đi lệch đường chăng? Soát lại cho mau, soát lại cho mau, chớ để chậm thêm ngày nào!
    Lương Sinh nghe xong bồi hồi tấc dạ, trí tuệ xem như minh mẫn hơn nhiều, cơn bệnh do đó lui được khá xạ Sinh đem mấy tập thi tuyển của mình đọc lại từng câu, dò lại từng chữ, thấy toàn là ý bướm tình hoa, phát triển cảm xúc mà xao lãng trí tuệ, tán tụng thiên nhiên mà bỏ mất cảnh đời, trốn tránh thực tại, từ chối tương lai, nhưng nghĩ kỹ vẫn chưa dò được lối máu từ đâụ Bỗng sực nhớ đến những lời phóng bút viết cho quan Tổng trấn, không ghi lại trong thi tuyển, tâm não trở nên bàng hoàng. Ðồng thời bao nhiêu gương mặt hốc hác trong ngày hội chùa lại hiện rõ, mấy cánh đồng trơ trọi, những tiếng thì thầm hai bên kiệu hoa, vẻ người nhớn nhác sợ hãi, những đòn dây trói, mấy dãy nhà giam, lần lượt như sống lại trước mắt. Những cảnh ấy thật trái ngược với những bài tán bài mình đã viết. Mồ hôi toát ra như tắm, Sinh đứng lên được, quyết định trở lại chốn cũ để tìm hiểu sự thật.
    Sinh đến chốn cũ vào một buổi chiều nắng vàng thê lương phủ trên cảnh vật tiêu điều xơ xác. Qua khỏi dòng suối cạn, Sinh bước vào một thôn trang vắng vẻ, thưa thớt những mái tranh nghèo, không một bóng người thấp thoáng. Ðến một gò cỏ úa héo chợt thấy một người nông phu ủ rủ trước nấm mộ mới hiu hiu mấy nén hương tàn, Sinh dừng bước, lại gần ngồi một bên, khẽ hỏi:
    - Bác khóc thương thân quyến nào vậỷ
    Người kia ngước lên không nói, ngắm nhìn lại bụi đường trường bạc thếch trên quần áo của Sinh, dịu đôi mắt xuống:
    - Người nằm dưới mồ không phải là bà con quen thuộc của tôị
    Sinh nghĩ: "Chẳng lẽ người này cũng là một kẻ thi nhân khóc thương cho kiếp hồng nhan bạc mệnh nào chăng?"
    Chưa kịp dò ý, người kia chợt hỏi, ra vẻ hoài nghi:
    - Ông từ đâu mà đến đâỷ
    - Tôi ở chốn xa, nhân bước đường phiêu lưu ghé tạt qua thôị Buồn thấy miền này có vẻ tiêu điều hơn các nơi khác.
    Người nông phu bỗng long lanh đôi mắt như không dằn được tấm lòng dồn nén bật lên những tiếng căn hờn:
    - Nói cho muôn ngàn khách qua đường cũng chưa hả được dạ nàỵ Ví dù phải chết ngày nay thân này chẳng tiếc, miễn sao bộc bạch cho được sự thật uất hận từ lâụ Ðã bao năm rồi, sống dưới nanh vuốt của tên Tổng trấn họ Lý độc dữ hơn hùm beo, đồng ruộng gầy khô, dân làng đói rách. Ðầu xuân này có khâm sai đi về, cụ thôn trưởng của chúng tôi, mặc dù già yếu cũng quyết vì dân làm bản trần tình, cản đầu ngựa, níu bánh xe mà tỏ bày sự thật. Thế nhưng khâm sai đi khắp mọi nơi, chỗ nào cũng thấy bia đá cột đồng đầy lời hoa mỹ tán dương công đức Tổng trấn của thằng danh sĩ đốn mạt nào đó nên ném bản trần tình, không xét, bảo rằng: "Muôn ngàn lời nói của lũ dân đen vô học đâu bằng mấy vần từ điệu cao xa của kẻ danh nhọ Danh sĩ bao giờ cũng biết tự trọng. Tổng trấn đã được hạng ấy tôn xưng, hẳn không phải bất tài". Thế đã thôi đâu, khâm sai đi rồị Tổng trấn phái sai nha về tróc nã những người đã đầu đơn tố cáo nó. Bao người phải chết vì nỗi cực hình thảm khốc, vợ góa con côi, một trời nước mắt, ruộng đồng từ đây dành để nuôi loài cỏ dại mà thôi!
    Sinh chết điếng cả người, giây lát mới gượng gạo hỏị
    - Chẳng hay bác có biết... danh sĩ ấy tên gì không?
    Người nông phu trợn trừng cặp mắt, gào lên:
    - Làm gì mà biết! Mà biết làm gì? Những hạng hiếu lợi hiếu danh, trốn trong từ chương để tiếp sức cho kẻ ác mà cứ tưởng mình thanh cao, hạng ấy thì đâu chẳng có! Dân làng đây ai cũng nguyền rủa hắn mà hắn nào có biết đâu! Nghĩ thương cho cụ trưởng tôi mấy lần đứng ra chịu nhận tội để cứu bao người mà bọn chúng chẳng chịu tha, cứ việc tàn sát thẳng tay, lôi đi lớp người này rồi đến lớp người khác, nên khi bị dẫn qua đây cụ tự móc họng cho trào máu ra mà chết để khỏi bị đày đọạ Trước khi nhắm mắt cụ còn gượng nói: "Ðược chết trên cánh đồng đã đẫm mồ hôi ta, thế là quý rồị Chôn ta ở đây cho ta gần gũi với các người". Hơi thở gần tàn cụ nói tiếp: "Tội ác là ở lũ vua quan. Tên danh sĩ kia chỉ là cái cớ để chúng vịn vào mà che lấp sự thật. Ðừng oán hờn tên danh sĩ. Ðáng thương cho nó!".
    Người nông phu dừng lại nghẹn ngào nói tiếp:
    -Nhưng bao nhiêu người khổ ở đây, bao kẻ chết nơi kia, nghĩ còn đáng thương xót gấp trăm ngàn lần!
    Ðoạn gục đầu trước mồ khóc thảm thiết.Sinh cũng sụp xuống hòa tiếng khóc theọ
    Bóng đêm xóa nhòa, gió lạnh như từ cõi âm thổi về rung động bờ lau bụi cỏ. Sinh có cảm giác như theo cơn gió, oan hồn của người đã khuất hiện về chứng kiến cho những giọt lệ chảy ra từ một tấm lòng hối hận chân thành.