Thứ Bảy, 3 tháng 10, 2015

Lại phải bàn về người Minh Hương

Dẫn: Tình cờ, trời xui đất khiến, do tôi đăng lại và chia sẻ với những người quen biết bài viết của Võ Phiến vừa rồi (Rụp rụp), tôi bỗng lại rơi vào một cuộc tranh cãi (trời ơi, tôi sợ tranh cãi lắm, có ai biết không nè?) về người Minh Hương ở VN. Đại khái, người Minh Hương họ là cái gì chứ, họ được bao nhiêu người, họ có hòa huyết với ai không, sao có thể ảnh hưởng tới huyết thống của người Việt mình (hừ hừ, người Việt mình là ai, sẽ bàn sau) được chứ?

Tôi sức mòn, lực cạn, sẽ chẳng tham gia vào cuộc tranh cãi lớn lao và bất tận này được đâu. Tôi chỉ nghĩ: Đến bao nhiêu thế kỷ nữa thì người Minh Hương (well, con cháu họ) được xem là người Việt, hay họ cứ mãi mãi là người Hoa (dù nếu có đánh nhau với TQ thì chắc chắn là họ sẽ đứng trong hàng ngũ người Việt, ít nhất là vì họ sinh sống ở đây, tài sản ở đây, mồ mả cha ông ở đây ...)? 300 chưa đủ, vậy mấy trăm nữa thì đủ? Vậy còn người Chăm ở VN, họ vẫn còn là Chăm chứ, sẽ mãi mãi là Chăm, hay là họ đã thành người Việt rồi? Hay vừa là Việt, vừa là Chăm (sao lại không nhỉ, vì ở VN thì họ là Chăm, nhưng ra ngoài VN thì họ là Việt, chứ nay đâu còn Chăm nữa mà xưng?) 

Và nếu vậy, tại sao người Minh Hương không phải là người VN chứ, dù ở trong nước thì họ vẫn là người (gốc) Hoa. Dù cũng có một (vài) nước TQ khác, nhưng trời ơi, những người (gốc) Hoa ở VN với những người Hoa ở TQ làm sao mà là một được cơ chứ?

Tôi nghĩ, người Việt chúng ta (khi viết đến mấy từ này tôi bỗng ngại ngùng: Người Việt là ai chứ? Việt thuần chủng có phải là Bách Việt không? Vậy họ cũng là Hoa à? Rồi còn người Chiêm Thành, rồi Miên, rồi Minh Hương, và ai nữa? Có giòng máu Tây nào không, sau 100 năm đó? À còn 1000 năm Bắc thuộc nữa chứ? - well, thôi thì cứ cho là có một loại người Việt thuần chủng, nguyên gốc nào đó) rõ ràng cần phải học tập mấy nước như Mỹ, Úc, các nước văn minh tiên tiến đa chủng tộc khác trên thế giới, đó là: Đừng kỳ thị nữa!

Mà đó là kỳ thị ai chứ, nếu không phải là kỳ thị chính chúng ta? Chẳng phải là máu huyết của những người Bách Việt, rồi Tàu phù với 1000 năm đồng hóa chúng ta, rồi Chăm, Miên, Hoa và Tây, mà có lẽ cả Mỹ nữa, rồi Liên Xô, ai cấm - cũng đã hòa vào chúng ta biết bao lâu nay, đến không còn có thể tách bạch ra được nữa hay sao? Vậy sao chúng ta không vui vẻ mở lòng mở tai mở mắt mở miệng để mà xem nhìn nghe và nói - vâng ạ, cần phải nói to lên - những lời thừa nhận sự đóng góp của người Minh Hương trong di sản dân tộc Việt của chúng ta, như tất cả những tiền nhân khác?

Cuối cùng, thì dân tộc tính là gì? Một Hồ Dzếnh gốc Hoa mà yêu quê ngoại đến thiết tha, và có nhiều công đóng góp cho đất nước này, há chẳng hơn một tên Việt gốc nào đó (nếu có Việt gốc!!!) mà hại dân bán nước đó hay sao? Vậy xin hỏi nước Đức, họ sẽ coi vị bộ trưởng trẻ gốc Việt (mà chúng ta đang hãnh diện lây vì là người Việt), cũng là người Việt ư, hay là người Đức, hả trời?


--------------------------------
VÀI NÉT VỀ LCH SỬ NGƯỜI MINH HƯƠNG
VÀ NGƯỜI HOA Ở NAM BỘ
Nguyễn Đức Hiệp

Thiên phục khả phong
(Hoành phi trong đình Minh hương Gia Thạnh)

Trong lịch sử khẩn hoang ở Nam bộ, sự đóng góp của người Minh hương và Hoa từ xưa đến nay về kinh tế, văn hóa thật là to lớn. Bao nhiêu danh nhân Việt nam trong lịch sử là có gốc Minh hương, từ Trịnh Hoài Đức, Ngô Nhân Tịnh, Võ Tánh, Ngô Tùng Châu, Châu Văn Tiếp, Phan Thanh Giản, Phan Xích Long.. đến những nhân vật có tên tuổi trong văn hóa nghệ thuật gần đây như Hồ Dzếnh, Trịnh Công Sơn, Vương Hồng Sển, Lý Lan... Họ đã hòa nhập thành người Việt. Đã có nhiều tư liệu viết về Mạc Cửu và xứ Hà Tiên, với văn học Hà Tiên độc đáo, đỉnh cao của người Minh hương đến khai khẩn Nam bộ. Ở đây tôi sẽ chú trọng về người Minh hương và Hoa ở những vùng khác trên Nam bộ, chủ yếu là vùng Đồng Nai-Gia Định.

Lịch sử ban đầu - Những nhân vật tiên phong khai phá

Ngoài Hà Tiên, thì nơi phát triển đầu tiên của người Minh hương là xứ Đồng Nai, gồm Cù lao phố, Biên Hòa, Bến Nghé-Chợ Lớn. Nông Nại đại phố tức là Chợ Lớn của xứ Đồng Nai. Đồng Nai âm theo tiếng Quảng Đông là Nông Nại. Một trong những người đến cùng thời với Trần Thượng Xuyên (hay còn gọi là Trần Thắng Tài) là ông nội của Trịnh Hoài Đức từ tỉnh Phúc Kiến. Trong miếu Quan Đế ngày nay, ông có tên trong danh sách những người sáng lập ra miếu này ở Cù Lao phố năm 1684 (nay là xã Hiệp Hoà). Miếu Quan Đế (Chùa Ông) hiện nay vẫn còn và là miếu thờ cổ nhất ở Nam bộ. Và cha của Trịnh Hoài Đức sau đó cũng góp công vào hương khói của chùa Quan Đế.
Tư liệu quí giá và phong phú nhất về lịch sử khai khẩn Nam bộ là quyển Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức. Trịnh Hoài Đức lúc thiếu thời học với Võ Trường Toản.
Trịnh Hoài Đức viết về Cù lao Phố (18): "Nông Nại (tức Đồng Nai) đại phố, lúc đầu do Trần Thượng Xuyên khai phá, tức Trần Thắng Tài chiêu tập người buôn nước Tàu đến kiến thiết phố xá mái ngói tường vôi, lầu cao, quán rộng, dọc theo bờ sông liên lạc dài 5 dặm, chia và vạch làm 3 đường phố, đường phố lớn lót đá trắng, đường phố ngang lót đá ong, đường phố nhỏ lát gạch xanh, đường rộng bằng phẳng, kẻ buôn tụ tập, ghe thuyền lớn ở biển và ở sông đến đậu, ấy là một chỗ đại đô hội mà những nhà buôn bán giàu có ở đây là nhiều nhất hơn thảy những nơi khác".
Cù lao Phố trở thành một cảng quan trọng đầu tiên của Nam bộ, đón nhận thương thuyền nước ngoài, hưng thịnh suốt khoảng 90 năm từ khi Trần Thượng Xuyên đến với quân đội, suy thoái từ khoảng 1775, tức là khoảng sau 90 năm, để nhường cho Chợ Lớn, Bến Nghé (Sài Gòn) sau này. Trước khi Trần Thượng Xuyên được chúa Nguyễn đưa đến cù lao Phố, đã có người Việt từ miền Trung đến ở núi Dinh (Mô Xoài) vùng Bà Rịa từ năm 1658 và vùng Long Thành. Nhờ vậy, khi Trần Thượng Xuyên đến cù lao Phố đã có dân Việt, dĩ nhiên người dân tộc như người Mạ, người Khmer, Chăm cũng tới lui trao đổi hàng hóa.
Trần Thượng Xuyên đến với quân sĩ và gia đ ình mang theo, nhiều binh sĩ này vẫn tiếp tục cầm vũ khí theo đuổi binh nghiệp nhưng một số lập nghiệp tại vùng đất mới. Sau một thời gian, thêm một số cư dân và thương gia đến sau, với vốn liếng để lập chợ. Cù lao Phố trở thành cảng sầm uất xuất nhập khẩu, với kho hàng dự trữ hàng hóa nhập vào và dự trữ hàng hóa thâu mua từ nhiều nguồn của cư dân sống trong vùng Đồng Nai như lâm sản, ngà voi, nai, heo rừng, sừng tê giác..
Nguyễn Hữu Cảnh, do chúa Nguyễn gởi vào sau này để cai quản vùng đất mới, đến Cù lao Phố ngay lúc cù lao với cảng đang hưng thịnh, nhưng trụ sở hành chánh và đồn binh đặt ở Sài Gòn. Ông Nguyễn Hữu Cảnh vào cù lao Phố với thủy quân. Khi ông mất ở Rạch Gầm, quan tài được đưa về Cù lao Phố, rồi từ đấy về miền Trung theo đường thủy, chôn ở quê ông là Quảng Bình. Chứng tỏ Cù lao Phố lúc đó là cảng quan trọng, sầm uất nơi cập bến của tàu bè khi đi và đến Đồng Nai, cửa ngỏ của Nam bộ. Hiện nay ở Cù lao Phố còn đền thờ mộ tượng trưng ông, do dân chúng thiết lập để nhớ ơn ông.
Cù lao Phố bắt đầu suy thoái khi lưu dân càng xuống vùng đồng bằng sông Cửu Long càng nhiều, biến vùng Mỹ Tho và các vùng phụ cận thành nơi sản xuất lúa gạo, cây trái, thủy sản lớn nhất của miền đất mới Gia Định - Đồng Nai. Hơn nữa Cù lao Phố thiếu hàng hóa đưa ra ngoài vì lâm sản dần dần ít đi và không còn là sản phẩm chính cần ở thị trường. Nhiều thương gia lần đời xuống Sài Gòn-Chợ Lớn để mua bán nguồn lúa gạo dồi dào của đồng bằng sông Cửu Long bắt đầu dư để xuất đi nhiều nơi ở Đàng Ngoài và nhiều nơi khác mà lúa gạo là nhu yếu phẩm chính. Cù Lao Phố tàn lụi và chấm dứt khi quân Tây Sơn do Nguyễn Nhạc đến tấn công, đốt phá phố cù lao và giết rất nhiều người Minh hương trong vùng. Đại Nam nhất thống chí ghi rõ quân Tây Sơn đến "dỡ lấy hết nhà cửa, gạch đá của cải chở về Quy Nhơn, từ đời Gia Long trung hưng tuy người ta có trở về, nhưng trăm phần chưa được một". Những người sống sót đều chạy xuống vùng Bến Nghé và Chợ Lớn lập phố xá và chợ mới gần chợ Tân Kiểng. Từ đó Chợ Lớn càng trở nên phát triển hơn và là trung tâm thương mại ở Gia Định và miền Nam.  Thương thuyền khắp nơi vào buôn bán và chở sản phẩm như lúa gạo đi các vùng và các nước như Trung quốc và Mã Lai.
Năm 1822, khi người Anh ỏ Bengal (Ấn độ) và Singpapore gởi ông John Crawfurd vào Gia Định gặp Tổng trấn Lê Văn Duyệt để tìm hiểu về thương mại, Crawfurd có viết về Chợ Lớn (lúc đó gọi là Saigon) và Bến Nghé như sau "..Đây là lần đầu tiên tôi tới Saigun (Sài Gòn) và Pingeh (Bến Nghé). Và tôi bất ngờ thấy rằng nó không thua gì kinh đô nước Xiêm. Về nhiều mặt trông nó còn sầm uất hơn, không khí mát mẻ hơn, hàng hóa phong phú hơn, giá cả hợp lý hơn và an ninh ở đây rất tốt, hơn nhiều kinh thành mà chúng tôi đã đi qua. Tôi có cảm giác như đây là một vương quốc lý tưởng. . . . Dinh Tổng trấn khá đồ sộ và uy nghiêm. Các thành trì nằm ở bờ sông An Thông hà. Nơi đây buôn bán sầm uất. Dân xiêu tán tới đây được Tổng trấn cho nhập hộ tịch, qua một hai đời đã trở thành người Gia Định. Đông nhất nơi đây là dân Trung Hoa. Các dân tộc nơi đây được nhà nước bảo hộ và họ đều có nghĩa vụ như nhau. Tất cả đều được sống trong bầu không khí an lành. Trộm cướp không có. Người ăn mày rất hiếm. Tổng trấn rất nhân từ, tha cả bọn giặc, bọn phỉ, bọn trộm cướp ăn năn. Nhưng ông lại rất tàn bạo với bọn cố tình không chịu quy phục triều đình. Chưa ở đâu kỷ cương phép nước được tôn trọng như ở đây.. . . Ở đây chúng tôi mua được rất nhiều lúa gạo, ngà voi, sừng tê giác, các hàng tơ lụa, đũi thật đẹp.". Cũng theo Crawfurd thì ở Chợ Lớn nhà cửa của thương gia Trung Hoa đồ sộ hơn nhà cửa của người Việt nhiều. Đang khi John Crawfurd đi thơ thẩn, ba gia đình Trung Hoa loại khá giả nhất đã ra cửa mời ông vào chơi (20).
Nếu cảng cù lao Phố vẫn còn thì đây là khu phố cổ thương mại thứ hai ở Việt Nam sau phố cổ Hội An, được thành lập với sự đóng góp lớn của người Hoa. Cách đây 14 năm (1993), mộ tướng Trần Thượng Xuyên được khám phá nằm ở Tân Uyên, tỉnh Bình Dương, cạnh hữu ngạn sông Đồng Nai, mà tôi có dịp đến thăm (9). Đình Tân Lân, ỏ thành phố Biên Hòa, cạnh cù lao Phố là nơi thờ tướng Trần Thượng Xuyên có sắc phong của vua Minh Mạng. Được xếp hạng là một di tích lịch sử văn hóa. Đình ở vị trí rất đẹp, trước măt đền là sông Đồng Nai với cây cổ thụ lớn ngay cạnh sông. Tân Lân là tên gọi của vùng bên phía chợ Biên Hòa nơi tướng Trần Thượng Xuyên xưa kia đóng quân, sử ghi là xứ Bàn Lân, sau đổi là Tân Lân. Bàn Lân có thể là do chữ Bằng Lăng nói trại ra. Cây bằng lăng là cây bản địa, mọc rất nhiều trước đây trong vùng Đồng Nai và Gia Định. Hiện nay cây bằng lan còn có thể tìm thấy trong các rừng còn lại ở Đông Nam bộ (như rừng Cát Tiên) và một vài tỉnh ở Tây nguyên (Lâm Đồng, Dak Lak).

Văn hóa

Có thể thấy được sinh hoạt văn hóa sinh động của người Hoa trước đây và hiện nay thì không có gì hơn là đến khu Chợ Lớn. Tôi đi cùng với một người bạn gốc Hoa vào Chợ Lớn thăm viếng các nhà văn hóa người Hoa. Trong Nhà truyền thống góc đường Triệu Quang Phục và Nguyễn Trãi (xưa gọi là đường Cây Mai) thường có triễn lãm và các hình ảnh xưa ở Chợ Lớn cùng các sản phẩm mỹ thuật. Nhà Truyền thống trước đây là nhà hát Tam Đa của người Hoa trong vùng. Cạnh nhà truyền thống ở số 137 đường Triệu Quang Phục là trụ sở Hội Văn học Nghệ thuật các dân tộc, chủ yếu là của người Hoa. Trụ sở là Hội quán của chùa bà (Thiên Hậu) cho mượn. Chùa Thiên Hậu nằm ở góc đường Nguyễn Trãi và Triệu Quang Phục. Đường Triệu Quang Phục xưa là đường Canton (Quảng Đông) trong thời Pháp và là trung tâm Chợ Lớn. Phim "Người Tình", phỏng theo tự truyện ‘L'Amant‘ của nhà văn nữ Pháp Margurette Durras, được quay ở đường này. Nhà Xã Tây ở cạnh đây (gọi là Xã Tây vì là tòa nhà hành chính của Pháp chuyên lo chuyện nhập, xuất cảnh và giấy tờ). Vùng này ngày xưa cũng được gọi là Minh Hương xã.
Anh Trần Đại Tân, người Triều châu, quê ở Sóc Trăng là người biết nhiều về lịch sử người Minh hương ở Nam bộ. Anh Tân tặng tôi quyển sách của anh viết về người Hoa ở Nam bộ (4). Nói chuyện về các địa lý và phố xưa cũng như các người Hoa danh tiếng trong lịch sử và hiện nay, như Trần Thành trước đây và Lý Ngọc Minh hiện nay với xưởng gốm ở Bình Dương.  Hoạt động của Hội gồm hội họa, thư pháp, nhiếp ảnh, xuất bản văn học. Ngoài ra còn có ban bảo trợ văn hóa người Hoa, với chi hội ca múa nhạc có trụ sở là nhà văn hóa Quận 5, gần Đại Thế giới, đường Trần Hưng Đạo.
Từ hội quán, chúng tôi đi bộ đến thăm chùa Thiên Hậu do người Hoa Quảng Đông xây dựng, rất nhiều du khách nước ngoài viếng thăm. Kiến trúc chùa rất đẹp với các tượng trên nóc, mái chùa bằng sành sứ rất công phu và các tranh khắc trên tường là những tuyệt tác rất trang nhã của nghệ thuật người Hoa. Cạnh chùa Thiên hậu là đền Tam Sơn, trên đường Triệu Quang Phục, của người Phúc Kiến (Phúc Châu), nơi đây thờ Ngọc Hoàng, Quan âm, Quan công.., không có chữ quốc ngữ chỉ có chữ Hán trong và ngoài đền. Theo anh Tân, thì kế bên đền Tam Sơn, xưa kia có Thất phủ cổ miếu, nhưng đã bị phá đi, hiện nay là xí nghiệp in, chỉ còn lại một bức tường. Đây là một mất mác văn hóa to lớn.
Đến Đình Minh Hương Gia Thạnh trên đường Trần Hưng Đạo, gặp lại bác Vương Quang Tâm, hiện nay là người cai quản đình mà năm trước tôi có đến. Đình là tòa nhà cổ nhất Saigon, xây năm 1789, được công nhận là một di tích lịch sử. Năm 1698, ở vùng này đã hình thành nên làng Minh Hương ở Gia Thạnh, làng Minh hương còn để lại câu ca dao
Gỏi chi ngon bằng gỏi tôm càng
Đố ai lịch sự cho bằng làng Minh Hương.
Lần trùng tu cuối cùng của đình là vào năm 1921. Trong đình, bên phải thờ Trần Thượng Xuyên (có 2 di ảnh tướng Trần Thượng Xuyên) và Nguyễn Hữu Cảnh, bên trái thờ Trịnh Hoài Đức và Ngô Gia Tịnh. Cạnh đó là 1 chuông đồng do vua Minh Mạng tặng, với sắc phong và chuyển tên từ làng thành đình. Chuông được gióng một năm một lần vào ngày 16/1. Sau chánh điện là sân rất rộng gọi là Thiên Quang Tỉnh (giếng trời). Đình Minh hương Gia Thạnh cũng là nơi tề tựu, gặp gỡ của nhóm Bình Dương thi xã, sáng lập bởi Trịnh Hoài Đức, Ngô Nhân Tịnh, Lê Quang Định, với nhiều nhân sĩ đến đây để ngâm thơ, xướng họa vào cuối thế kỷ 18 và đầu thế kỷ 19.
Chùa Giác Lâm là ngôi chùa thuộc loại xưa nhất Saigon. Chùa nằm ở Phú Thọ Hoà kế quận 5 (nay là đường Lạc Long Quân, quận Tân Bình), vẫn còn giữ nguyên không thay đổi nhiều sau bao năm từ lúc thành lập. Chùa được cư sĩ người Minh hương tên là Lý Thụy Long xây dựng vào năm 1744 ở vùng thanh vắng nhiều cây cối không xa chùa Cây Mai và Gò cây mai, một nơi thanh lam thắng cảnh của Gia Định mà Gia Định thi xã của Trịnh Hoài Đức thường hay nhóm họp làm thơ. Lý Thụy Long có tên riêng là Cẩm, chuyên nghề đan đệm bán nên người địa phương gọi là ông Cẩm Đệm. Vì  thế chùa còn có tên là  Cẩm Sơn, Sơn Can hay Cẩm Đệm. Năm 1772 hòa thượng Viên Quang tới trụ trì, từ đó mới đổi tên chùa là Giác Lâm. Khi xưa lúc chùa được xây dựng như một cái am, xa cư dân, rất thanh vắng, cây cối rậm rạp, thích hợp cho sự tu dưỡng, tu hành. Trong quyển Gia Định thành thông chí, Trịnh Hoài Đức đã miêu tả cảnh chùa như sau: "Chùa toạ lạc trên gò Cẩm Sơn, cách phía Tây lũy Bán Bích ba dặm..., cây cao như rừng, hoa nở tựa gấm, sáng chiều mây khói nổi bay quanh quất, địa thế tuy nhỏ mà nhã thú!...". Chùa hiện nay được công nhận là di tích lịch sử - văn hóa quốc gia.
Nghề làm gốm là nghề tiểu công nghiệp lâu đời, bắt đầu từ khi người Minh hương đến định cư ở xứ Đồng Nai. Hiện nay ở tỉnh Đồng Nai và Bình Dương, đa số các chủ lò gốm là do người Việt gốc Hoa, hay Minh hương đảm trách. Họ đã làm nghề này cha truyền con nối bao nhiều đời cho đến nay. Đây là hai trung tâm gốm sứ lớn nhất Nam bộ với nhiều thợ, nghệ nhân người Hoa. Vào thế kỷ 18, đã tồn tại một trung tâm gốm sứ mang tên Xóm Lò Gốm ở vùng quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh (phía Chợ Lớn). Xung quanh vùng này còn có nhiều địa danh như Lò Rèn, Xóm Lò Siêu, xóm Lò Gạch .. Địa bàn xóm Lò Gốm xưa khá rộng, gồm các làng Hòa Lục (quận 8), Phú Định-Phú Lâm (quận 6), Phú Giáo-Gò Cây Mai (quận 11) trải dài đôi bờ kênh Ruột Ngựa, kênh-rạch Lò Gốm. Những con kênh này là tuyến đường giao thông chính của khu vực Chợ Lớn, dùng ghe xuồng chở hàng sản xuất đến các tỉnh miền Tây (15).
Gốm vùng Saigon-Gia Định-Đồng Nai ở thế kỷ 18,19 và 20 nổi tiếng có đặc thù riêng và nổi tiếng tốt mà nhiều nhà văn hóa sử, khảo cổ trước đây gọi là gốm "Cây Mai" (được biết đến qua những gốm xưa tìm được ở gò Cây Mai và khu vực đường Cây Mai, Chợ Lớn) nay được xếp loại và gọi chung là gốm Biên Hòa, Saigon. Ngày nay chỉ còn lại di tích lò gốm Hưng Lợi thuộc làng Hòa Lục (phường 16 quận 8), gần làng Phú Định, nằm ven kênh Ruột Ngựa, của xóm Lò Gốm xưa. Cuộc khai quật năm 1997-1998 đã tìm thấy tại đây phế tích 3 lò gốm, trên một gò lớn chứa đầy mảnh gốm của các loại lu, khạp, siêu, chậu.. (15) Ngày nay những nơi còn tiếp tục truyền thống gốm cổ truyền của người Hoa hiện nay còn rõ nhất ở những lò làm lu gốm ở Biên Hòa hoặc ở khu vực Q.9 TPHCM (Thủ Đức cũ, gần Công viên Văn hóa dân tộc đang xây dựng), và một số cơ sở nhỏ sản xuất đồ gốm gia dụng ở vùng Lái Thiêu.

Ngôn ngữ

Ngoài ra, anh hưởng văn hóa mà người Minh Hương để lại sâu đậm nhất trong đời sống Nam bộ là ngôn ngữ. Tiếng Việt miền Nam được lưu dân Minh hương và Hoa mang vào bổ xung cho tiếng Việt thêm phong phú. Theo Bình Nguyên Lộc, những từ sau có nguồn gốc Minh hương (19)

Các từ gốc Triều Châu

Lẩu: Có nguồn gốc từ lẩu là một món canh của Triều Châu, đựng trong một thứ bát đặc biệt bằng Laiton.
Tía: Chính các chú rể Triều Châu, lưu vong nhà Minh đã đưa ra danh từ Tía vào Nam, và bị ta hiểu là Cha.
Hên: Do Hưng. Triều Châu đưa vào và họ đọc là Hinh thì đáng lý ta phải viết là Hênh.
Xui: Tiếng nầy đất Bắc có nhưng vay mượn lâu đời hơn và nói là Xúi Quẩy. Do chữ Suy mà ra, đọc theo Triều Châu, Hên Xui = May Rủi.
Khổ Tai: Một món ăn khác mà dân miền Nam rất ưa và họ gọi là KHỔ TAI. do người Triều Châu đọc Hô Tai (Hải Táo), một thứ rong biển mà họ nấu với đường để bán cho dân miền Nam ăn.

Các từ gốc Quảng Đông

Xí Mụi: do Quảng Đông gọi Xíu Mụi, chữ Nho là Tiêu Mai.
Công xi: Công Ty, do Quảng Đông đưa vào.
Hủ tiếu: Không biết chữ ra sao, nhưng do Quảng Đông đưa vào, họ nói là Phải, không hiểu sao ta lại biến thành Hủ Tiếu.
Xíu Mại: Không biết chữ nghĩa ra sao, nhưng đa số các món ăn đều do Quảng Đông đưa vào.
Chạp Phô: Chỉ là Tạp hóa. Nhưng chính người Quảng Đông lại cho nó cái nghĩa hạn chế là thực phẩm: trứng vịt, tôm khô, cá khô,v.v. còn các cửa hàng bán các thứ khác cũng tạp nhạp lại không được gọi là chạp phô.
Giò Chá Quảy: Thật đúng là Dầu chá quảy tức con quỷ nướng trong dầu, chỉ loại bánh bột mì chiên mỡ.
Ly: Cốc bằng pha lê, người Quảng Đông gọi là Pò Lý Púi, tức Pha Lê Bôi, ta nuốt hết, chỉ chừa lại Lý và đọc là Ly.
Xì Thẩu: Chữ Nho là Sự Đầu, chủ sự, nhưng bị ta hiểu là Ông chủ.
Điều này cho ta thấy miền Nam ban đầu chịu ảnh hưởng nhiều của phong tục, sinh hoạt, tập quán người Minh Hương.

Các tỉnh ở Nam bộ

Trong năm 2007, tôi đã có dịp đi thăm một số tỉnh, thị xã ở Nam bộ, sau đây là một vài nét sơ lược về người Minh Hương và Hoa ngày nay ở các tỉnh Nam bộ
Cần Thơ: Dọc bến Ninh Kiều, bên sông Hậu có chùa Ông của người Quảng Đông. Chùa được xây ở một vị trí khác cách đây hơn 70 năm, chùa được dời đến vị trí đẹp ở bến Ninh Kiều gần đây sau này. Kiến trúc chùa bên trong được xây theo chữ Quốc. Bên trái khi bước qua công là tượng tướng Mã Tiền đứng cạnh tượng ngưa, bên phải là tượng thờ ông Phước mang đến may mắn. Giữa đền thờ Quan Công. Dọc theo bến Ninh Kiều, đường Hai Bà Trưng, gần phía khu chợ ngày trước, còn vài nhà xưa của người Hoa và nhiều cửa tiệm của người Hoa trên các đường Châu Văn Liêm, Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Võ Văn Tần đổ ra bến Ninh Kiều. Sau năm 1975, cộng đồng người Hoa ở Cần Thơ có ít đi nhiều so với trước.
Sóc Trăng:  Ngoài thị xã Sóc Trăng, có rất nhiều cửa hiệu bán bánh pía từ các cơ sở làm bánh pía An Thành, Tân Hưng, Công Lệ Thành...  bánh pía là đặc sản Sóc Trăng của người Hoa Triều Châu làm ra. Nhiều vùng ở tỉnh Sóc Trăng, như huyện Vĩnh Châu, nơi có nhiều vườn nhãn, có rất nhiều người Khmer và Hoa cư ngụ, hơn cả người Việt. Đa số dân ở vùng này nói 3 thứ tiếng Khmer, Triều Châu, Việt. Thị xã Sóc Trăng nay đã trở nên phồn thịnh phát đạt, phố xá ban đêm rất đông đảo xe cộ. Đường Hai Bà Trưng gần chợ có nhiều cửa tiệm người Hoa, không khác gì đường Trần Hưng Đạo, Chợ Lớn. Trên đường Trần Minh Phú góc đường Ngô Quyền là Hội tương tế người Hoa (18-20 Trần Minh Phú) gần bờ sông Sóc Trăng. Một trong những nhân vật văn hóa nổi tiếng sinh ra ở Sóc Trăng là ông Vương Hồng Sển, người gốc Triều Châu. Ông đã ghi lại và sưu tập những chuyện xưa, sự kiện từ đầu thế kỷ 20 xảy ra ở Nam bộ và vùng Saigon Gia Định, để lại nhiều tài liệu quý giá. Hiện nay bộ sưu tập gốm của ông được đặt ở phòng mang tên Vương Hồng Sển trong Viện Bảo tàng Lịch sử, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bảo Lộc: Thị trấn lớn và trù phú nhất Lâm Đồng sau Đà Lạt là Bảo Lộc, giàu có nhờ các đồn điền trà và cafe chung quanh vùng. Ở đây có cộng đồng người Hoa khá đông so với các vùng khác trong tỉnh. Tôi có ghé vào tiệm bán trà, cafe Lâm Kim Hoa của người Hoa. Chủ là 2 chị em gốc Phúc Kiến, người chị đang ở Mỹ, có đồn điền mướn nhiều công nhân và người giúp việc ở tiệm trưng bày và thử trà, cafe. Gần Ninh Chữ, Ninh Thuận, có một nghĩa trang Triều Châu, ở Phan Rang cộng đồng người Hoa có khoảng từ 3000 đến 4000 người.

Nhân vật

Không thể liệt kê hết các nhân vật người Minh hương từ trước đến nay trong quá trình lịch sử nhiều thời đã đóng góp vào văn hóa Việt Nam như Võ Trường Toản, Trịnh Hoài Đức, Lê Quang Định, Ngô Nhân Tịnh, Phan Thanh Giản, Mạc Thiên Tích, Vương Hồng Sển... Ở đây chỉ nêu lên vài nhân vật tiêu biểu của các thời kỳ đã qua trong lịch sử.
Trịnh Hoài Đức
Ông nổi tiếng và được nhớ đến nhiều trong lịch sử không phải là vì ông là một vị đại thần dưới hai triều vua Gia Long và Minh Mạng được trọng dụng và làm đến chức Thượng thư bộ Hộ mà là vì tác phẩm "Gia Định thành thông chí " có giá trị văn hóa, địa chí về miền Nam trong giai đoạn mở mang cuối thế kỷ 18, đầu thế kỷ 19. Tác phẩm duy nhất này về miền Nam thời khai hoang mở đất, cho ta những tư liệu quí giá về con người, phong tục, đất đai, địa chí, lịch sử... Nếu nhà bác học Lê Quí Đôn có Vân Đài Loại Ngữ cho Bắc và Trung bộ thì Trịnh Hoài Đức có "Gia Định thành thông chí" cho giai đoạn miền Nam mở đất.
Ngoài ra ông còn là một nhà thơ, để lại các bài thơ tả cảnh đất Gia Định trong tập thơ văn "Cấn Trai thi tập". Ông là và các bạn thơ sáng lập "Bình Dương thi xã" và là một trong "Gia Định tam thi" (Trịnh Hoài Đức, Lê Quang Định, Ngô Nhân Tịnh) thường tập họp làm thơ ở những nơi như chùa Giác Lâm, gò Cây Mai (nay là Phụng Sơn tự, đường 3/2 Saigon), Minh hương gia thạnh, chùa Cây Mai..Trong bài thơ tả cảnh ở khu Đầm Sen (Saigon) cuối thế kỷ 18, cho ta thấy cảnh thanh tịnh, hoang sơ ở Saigon hơn 200 năm nay (11).
Liên Chiểu Miên Âu
Âm âm hạm đạm thủy trung tiêu

Dục bãi sa âu liễm ngọc kiều

Tầm mộng phù tung y lục cái,

Vong cơ nhàn khách chẩm hương miệu

Nặc tha xảo thước thu tang đỗ,
Nhiệm nhĩ lưu oanh chức liễu điều,
Du nữ thái liên hưu loạn động,
Cựu minh do đãi trục lai triều
                         Trịnh Hoài Đức
                       (Cấn trai thi tập)
(Dịch nghĩa:
Chim âu (vịt trời, le le) ngủ ở Đầm Sen
Hoa sen sum suê vươn cao lên trong nước
Tắm xong, chim âu thu lông ngọc lại
Tìm mộng, bước chân trôi nổi đi theo các lọng xanh
Quên đời khách nhàn nhã gối đầu vào cỏ thơm,
Gần chim thước khéo léo lấy vỏ gốc cây dâu (để làm tổ)
Mặc chim oanh lanh lợi dệt cành liễu
Các cô g ái đến hái sen đ ừng làm kinh động
Hẹn cũ * còn chờ theo nước triều lên. )
* Hẹn cũ: Dịch chữ Hán "cựu minh" do điển "âu minh" chỉ người ở ẩn chốn mây nước như có ước hẹn làm bạn với chim âu
Năm 1825, ông mất ở Phú Xuân, linh cửu được tổng trấn Lê Văn Duyệt thân hành hộ tống đưa về quê mẹ ở Biên Hoà chôn ở phường Trung Dũng, không xa Cù Lao phố. Năm 1938, trường Viễn đông Bác cổ xếp mộ ông là di tích bảo tồn và hiện nay là di tích lịch sử quốc gia.
Diệp Văn Cương, Diệp Văn Kỳ
Diệp Văn Cương, hiệu Thọ Sơn, bút hiệu Yên Sa, vì quê quán ông ở An Nhơn (gần Gò Vấp), Gia Định. Thuở nhỏ, Diệp Văn Cương giỏi chữ Hán và quốc ngữ nên được học bổng du học và đỗ tú tài ở Pháp. Ông về nước dạy tại trường Chasseloup Laubat (tục danh trường "Bổn quốc")(1). Sau làm thông ngôn cho toà Khâm sứ Huế và là thầy dạy học cho vua Đồng Khánh. Ông lấy công chúa, Công nữ Thiện Niệm, con của Thoại Thái Vương Hồng Y, em vua Dục Đức. Ông có vai trò trong việc đưa vua Thành Thái lên ngôi, sau khi vua Đồng Khánh mất.
Là một trí thức lớn ở miền Nam, năm 1868, ông là chủ biên tờ Phan Yên báo tại Sài Gòn. Tờ báo quốc ngữ thứ hai sau Gia Định báo (1865) do Trương Vĩnh Ký và Huỳnh Tịnh Của chủ biên. Nội dung tương tự như Gia Định báo (lúc đầu bài trong Gia Định báo đa số là công báo của chính quyền Pháp), với tin địa phương và thư độc giả bằng chữ quốc ngữ, nhưng sau đó có các bài chính trị, nên báo bị đóng cửa. Tác phẩm của Diệp Văn Cương gồm có: Syllabaire quốc ngữ (sách vần quốc ngữ) (1919), Recueil de morale annamite (1917), dịch tập Phong Hóa từ chữ Hán ra chữ quốc ngữ.
Hãy nghe Vương Hồng Sển (1) kể về ông:"Gần tuổi về hưu, ông trở lại dạy Sử học và Việt văn trường Chasseloup-Laubat như trước. Kẻ viết bài này khi còn học lớp dưới, đã từng đứng nghe lóm ngoài cửa và ân hận không được thọ giáo cùng ông. Khoảng năm 1919, dạy sử học, ông lấy Sử Diễn Ca Lê Ngọc Cát ra bình chú, dạy Việt Văn ông đã biết đem những đoạn xuất sắc trong Kiều, Lục Vân Tiên, và Chinh Phụ Ngâm ra giải thích cũng là mới lạ. Người ông nẫm thấp hùng vĩ, lịch duyệt Bắc Nam, ông ngâm thi sang sảng, nói tiếng Tây rất "giòn", bình sanh sở thích hát bội, roi chầu bóng bẩy rất mực phong lưu, tuồng hát nằm lòng, cô đào anh kép phục sát đất! Vãn hát ông rước luôn đào để cả y phục và áo mão về nhà hát lại cho ông thưởng thức riêng."
Diệp Văn Kỳ, con trai của Diệp Văn Cương, đỗ cử nhân, luật sư, cũng là một nhà báo tiền phong rất có tiếng tăm như cha. Mua lại tờ Đông Pháp thời báo (1927) từ ông Nguyễn Kim Đính, sau đổi thành nhật báo Thần Chung, được sự cộng tác đắc lực của nhóm Nguyễn Văn Bá, Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu, Đào Trinh Nhất, Trần Huy Liệu, Phan Khôi, v.v.. Từ khi làm chủ, ông đã chuyển Đông Pháp thời báo theo hướng một tờ báo đối lập và Đông Pháp thời báo trở thành tờ báo có rất đông bạn đọc khắp Nam, Trung, Bắc. Cũng như cha, ông viết nhiều, đôi khi cùng với Phan Khôi (dưới bút hiệu Tân Việt) và rất mê kịch, tuồng (13). Ông là nhà báo dân tộc, lên tiếng bảo vệ sự hợp nhất chữ quốc ngữ ở 3 kỳ chống lại sự chia rẽ trong những tranh luận tách riêng sách giáo khoa quốc ngữ ở trong Nam (14) và là người rất rộng lượng, giúp đở nhiều nhà văn, nhà báo như Mộng Đài, Tản Đà..
Ông giúp đỡ thi sĩ Tản Đà, khi Tản Đà thất bại làm báo "An Nam tạp chí" thiếu nợ phải vào Nam kiếm sống khoảng năm 1926, trong lúc tình cờ gặp Tản Đà đang lang thang trên đường Catinat (đường Đồng Khởi) trước nhà hàng Continental mà ông và một số bạn đang ngồi bên trong. Mến tài Tản Đà, ông cho 2000$ (một số tiền lớn thời đó) để Tản Đà trở ra Bắc trang trãi nợ nần và vào Nam viết cho tờ Đông Pháp thời báo. Ông trã rất hậu hĩnh mỗi tháng cho thi sĩ Tản Đà bằng tiền lương quận trưởng (12) và giúp đỡ định cư ở Saigon (Xóm Gà, Gia Định) trong ngôi nhà rộng, tĩnh mịch để thi sĩ có cảm hứng. Tuy vậy thi sĩ Tản Đà cũng có lúc báo sắp lên khuôn mà chưa thấy đưa bài. Ông Kỳ phải kêu tùy phái vào Xóm Gà để hối thúc bài. Tản Đà vẫn thản nhiên thốt một câu lịch sử để đời trong văn học "Làm thơ đâu phải bửa củi mà muốn lúc nào có lúc ấy".
Nhà thơ thời tiền chiến Mộng Đài cũng là một người thuở còn trẻ khi vào Saigon đã được ông giúp đỡ. Trong dịp cùng với nhà báo Hoa Đường xông đất đầu năm đến nhà Diệp Văn Kỳ thăm, Mộng Đài viết trong hồi ký như sau
"Sau khi cho phép Hoa Đường múa "Gioọc" ("Giọc" là giọc tẩu, ống hút thuốc phiện) đầu năm, cụ Diệp quay lại nắm lấy tay tôi và bằng giọng thật ấm áp nói:
-"Xừ Mạnh đến với anh, anh chẳng biết chúc gì cho chú em mà chỉ có mỗi bài thơ này tặng nhau ngày Xuân".
Rồi cụ Diệp cất tiếng cao ngâm bài thơ ứng khẩu ấy như sau:
Cái kiếp trần duyên, kiếp đọa đày
Non Tiên sao khéo lạc loài đây?!
Trớ trêu thu thủy hoa in nguyệt
Đỏng đảnh Xuân Tiêu liễu vẽ mày
Sóng sắc lập lòe con nước động
Gió hương phưởng phất cánh hoa lay.
Trông em khó nổi vô tình được
Mượn bút làm duyên để giải khuây.
Ngâm xong cụ lấy bút viết ngay vào tờ giấy đoạn vào
phòng trong bỏ trong phong bì đỏ ra trao tôi:
-"Bài thơ này tặng em. Ý tứ của bài thơ thì em về chiêm nghiệm lấy".
Đêm hôm ấy tôi về đến nhà, mở ra để đọc lại cho vui. Không ngờ ngoài tờ thơ cụ viết, cụ còn để ngay ngắn tờ "Con Công" năm đồng ngay trong phong bì để lì xì cùng mấy chữ ngoằn ngoèo trong tờ giấy đỏ:
"Cho người em cưng nhất của ta". Cụ ký vào bên dưới".
Năm 1945, ông Diệp Văn Kỳ bị ám sát ở Trảng Bàng (Tây Ninh) vì bị coi là thân Nhật, uổng mất một tài năng trong lịch sử báo chí Nam kỳ. Ngoài số bài báo ông viết và viết chung với Phan Khôi, còn có tác phẩm để lại: Thần ái tình (Rabindranath Tagore), Diệp Văn Kỳ dịch, 1929. Biệt thự nhà ông trên đường Trần Hưng Đạo, được quân đội Nhật trưng dụng dùng làm nơi chỉ huy, sau quân đội Anh giải giới giao cho Pháp và được chế độ củ dùng làm Bộ Tổng Tham Mưu.
Vương Hồng Sển
Sinh ở Sóc Trăng, trong gia đình gốc Phúc Kiến đã định cư từ lâu đời ở Sóc Trăng. Ông là nhà văn rất Nam bộ trong cuộc sống và phong cách viết văn. Những tư liệu, dữ kiện, biến cố, nhân vật và nhận xét ông thâu thập trong suốt từ các năm ở thập niên 1920 cho đến hết thế kỷ 20 ở miền Nam và các nơi ông có dịp viếng thăm mà ông viết ra là những tài liệu lịch sử và văn hóa quý giá cho những ai muốn tìm hiểu về những vùng đất, tỉnh thành ở miền Nam. . Khi còn trẻ ở Sóc Trăng, ông làm công chức Phó ban hành chánh của chính phủ thời Pháp thuộc rồi sau đó lên Saigon làm quản thủ thư viện trong Viện bảo tàng Saigon. Ông có trí nhớ rất giỏi từng chi tiết, rất mê sưu tầm tư liệu lớn, nhỏ và đồ cổ như đồ gốm sành, sứ.
Cùng thời với Sơn Nam, ông ít viết truyện nhưng rất nhiều bút ký. Văn ông rất bình dân, dễ đọc và có duyên. Ngoài các nhân vật nổi tiếng ông có gặp và viết như Nguyễn An Ninh, Phan Văn Hùm, Nguyễn Văn Sâm, Ngô Đình Nhu.., ông còn viết về những người thân, người thầy, người bạn, quen biết trong sở làm, học đường, nhà trọ... đủ mọi tầng lớp trong xã hội. Hãy xem một đoạn ông viết về Nguyễn An Ninh
" Tôi làm quen với ông Ninh nhờ mua báo bằng Pháp văn đối lập chống chánh phủ đương thời, gọi là La Cloche fêlée (Cái chuông rè) do ông một mình vừa chủ trương, vừa viết báo, và vừa bổn phận đứng khắp Sài Gòn, mình mặc áo trắng, đi xe đạp, tay ôm mớ nhật trình, miệng rao lanh lẹ và chạy bán từ số, từ tờ cho mấy ông mấy thầy, bất chấp cách lườm ngó đầy ác ý và tiếng nặng nhẹ của nhóm thực dân, từ thằng biện chà gác đường đến thằng Cọt (Corse) ngồi nhà hàng uống rượu khai vị xưng mình là người cai trị da trắng mà sức học chưa có tới mảnh xẹt-ti-fi-ca (certificat)...
Nhưng mỗi tuần vào khoảng tháng hai tháng ba tây năm 1926 cứ mỗi thứ hai và thứ năm lối bảy tám giờ tối không sót ngày nào, ai muốn gặp Ninh cứ lại trước nhà hàng Yeng yeng thì gặp, không trật bữa nào...  Trước khi giáp mặt chị em, tôi thường mua một tờ Chuông Rè để lấy le. Nhưng ông Ninh sau khi bán cho tôi đều đều, lại lầm tưởng, cho tôi đúng là nhà ái quốc có gan, không nữa cũng một tay cừ nào đó có sạn trong đầu. Một đôi khi sau khi nhận của tôi một cắc bạc tiền mua báo, ông chồng báo qua tay trái và chìa tay mặt bắt tay tôi niềm nở như hai bạn tương tri cách mặt lâu ngày. Có mấy lần tôi thẳng thắng kéo tay mời ông vô dùng cơm Yeng Yeng, nhưng ông lắc đầu lia lịa, xổ một dọc tiếng Tây cám ơn không ngớt, và tỏ vẽ cảm động thật tình. Nói cho đúng lúc ấy ai ai đều ngán ông Ninh và không dám giao thiệp công khai, vì sợ liên lụy không nhỏ. Riêng tôi, tôi lại nghĩ lại. Lúc bấy giờ chưa ai biết là nhà ái quốc dám hy sinh tánh mạng như ngày nay đã rõ, lúc ấy ông là người ai cũng e dè không dám lại gần, trừ những người cùng một chủ nghĩa với ông, Việt Tha, Le Jean de la Bâtie, Paul Marchet, vân vân. Còn tôi, tôi vẫn phục ông thật tình..."   
Những bút ký ông viết cho ta thấy toàn thể đời sống, suy nghĩ, văn hóa của thời bấy giờ rất sống động và quý giá về xã hội năm xưa. Các tác phẩm nổi tiếng của ông gồm có: Saigon xưa và nay, Hơn nữa đời hư.
Khi ông mất, ông cống hiến hết thảy tài sản, tư liệu và đồ sưu tập của ông cho chính quyền thành phố. Hiện nay căn nhà của ông ở Saigon số 9/1 Nguyễn Thiện Thuật, phường 14, quận Bình Thạnh, được Bảo tàng Lịch sử Việt Nam TP HCM quản lý, sử dụng. Theo báo Người Lao Động thì năm 2002, tức 6 năm sau khi VHS qua đời, qua căn nhà của cố học giả gần như vô chủ và bị xuống cấp nặng nề. Theo di chúc, ông hiến toàn bộ tài sản của mình tại ngôi nhà cho Nhà nước, nhưng do có tranh chấp về quyền thừa kế nên thời gian qua các cơ quan chức năng chưa quản lý ngôi nhà này. Chỉ có số cổ vật và sách quý được Bảo tàng Lịch sử Việt Nam TP HCM và Thư viện Khoa học Tổng hợp tạm thời cất giữ.
Ngôi nhà cổ này hiện nay đã được trùng tu và có thể viếng thăm để hiểu và biết được cuộc đời của một con người rất Nam bộ đặc sắc đam mê văn hóa, nghiên cứu viết sách, hiến trọn đời mình cho sự đam mê ấy và những di sản quí báu mà ông để lại. Trong Viện bảo tàng lịch sử, Thảo cầm viên Saigon, có một phòng đặt tên Vương Hồng Sển, trưng bày những hiện vật quý mà ông bỏ cả đời để thu thập như các đồ gốm Trung hoa, men lam Huế.. 
Lý Lan
Nhà văn Lý Lan, sinh năm 1957 ở quê mẹ Bình Dương, quê nội ở Quảng Tây. Trưởng thành trong Chợ Lớn và dạy học ở Cần Giuộc. Chị là nhà giáo và cũng là nhà văn viết nhiều truyện ngắn với giọng văn tinh tế, ý nhị và đượm tình người. Trong những năm ở thập niên 1980, tôi đã đọc các truyện và tuỳ bút của Lý Lan trên báo Tuổi trẻ, và các tập truyện như Nơi bình yên chim hót, Chút lãng mạng trong mưa. Những chi tiết trong đời sống thường ngày ở trong phố, ở người chung quanh trong xã hội Việt Nam mà thường ta không để ý, được chị viết rất ý nhị với văn trong sáng và cảm thông với người và cảnh. Một Thạch Lam mới trên văn đàn văn học Việt Nam. Các tác phẩm của Lý Lan rất được ưa chuộng, đánh giá cao và được coi là nhà văn chững chạc có tiếng với nhiều độc giả trong nhiều năm qua. Ngoài ra chị cũng viết các truyện thiếu nhi như quyển Ngôi Nhà Trong Cỏ (1984) được giải thưởng văn học thiếu nhi của Hội Nhà văn Việt Nam. Năm 2005, tập thơ Là Mình được giải thưởng thơ hội Nhà Văn Thành Phố Hồ Chí Minh.
Các năm gần đây chị cũng là dịch giả các bộ Harry Potter ra tiếng Việt. Lý Lan hiện đang sống ở Mỹ, cho rằng Hoa kiều trong giai đoạn trước 1975 có văn học tiếng Hoa riêng ở Chợ Lớn và chị đang khuyến khích các nhà văn gốc Hoa ở Việt Nam viết hình thành một văn học Hoa văn như các văn học Hoa văn khác ở Singapore, Mã Lai, Hongkong, Đài Loan và viết một tuyển tập (anthology) về văn học Hoa ở Việt Nam. Lý Lan thường viếng quê nhà và vẫn còn sáng tác, cộng tác với các báo và xuất bản các tác phẩm trong nước mà gần đây nhất là tác phẩm Miên man tùy bút.

Kinh tế

Hiện nay 30% doanh nghiệp ở Thành phố Hồ Chí Minh là do người Hoa làm chủ, như các công ty lớn Bitis, Sacombank và các cơ sở thương mãi Thuận Kiều Plaza, An Đông Plaza. Chúng ta cũng nên để ý là trong khi chủ người Hoa hiện nay của công ty nước uống lớn nhất ở Phi Luật Tân, St Miguel, còn đang sống cực nhọc trong "xóm nhà lá" ở Manila trước khi thành công phát triển công ty lớn nhất ở Phi Luật Tân thì ở Chợ Lớn thời gian đó, các thương gia giàu có người Hoa đã có văn phòng, khách hàng, đối tác ở Singapore, Đài Loan, HongKong. Họ đã thiết lập một hệ thống thương mại với các người Hoa khác trong vùng Đông Nam Á để xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ.  Tôi nhớ khoảng đầu thập niên 1970, những sản phẩm dầu gió sản xuất ở Chợ Lớn như dầu Nhị Thiên Đường được ưa chuộng và xuất khẩu qua thị trường Đông Nam Á, nhất là ở Thái Lan, cạnh tranh với những sản phẩm dầu của một công ty Singapore, nay nằm trong tập đoàn Temasek, mà bà chủ hiện nay trở thành có thế lực và giàu có bậc nhất ở nước này.
(a) Giai đoạn trước 1975
Trước đây phần lớn kỹ nghệ nhẹ như sản xuất đồ gia dụng là tập trung ở Chợ Lớn, trước khi các vùng kỹ nghệ Thủ Đức, Biên Hòa, Bình Dương được thành lập trong đầu thập niên 1970. Những cơ xưởng sản xuất nhỏ này phần lớn do các gia đình người Hoa hoặc các tiểu thương gầy dựng. Những cơ xưởng này đã và hiện nay vẫn còn đóng vai trò quan trọng vào kinh tế vùng thành phố Hồ Chí Minh. Ngày xưa trước 1975, Saigon có thể là nền kinh tế phồn vinh "giả tạo" không có cơ sở vật chất, do tiền viện trợ nước ngoài đổ vào, nhưng kinh tế ở Chợ Lớn cơ bản là tốt và có thực lực dựa vào sự làm ăn cần cù, chăm chỉ và chuyên tâm của người Hoa.
Sau đây là tóm tắt về một số thương gia người Việt gốc Hoa từ thời Pháp thuộc tới nay (1).
(1) Chú Hỏa: Theo Vương Hồng Sểnh (1), tên thật là Hui Bon Hoa, ký âm theo tiếng Pháp sau khi nhập Pháp tịch, nên gọi "Chú Hỏa" như vậy cho đến đời đời (người miền Nam thường thân mật gọi các người Hoa là "Chú"), không rõ danh tánh theo Hán tư..  Lúc đầu là thợ dạo mua bán "lạc son", mua đồ củ để chế biến và bán lạị Sau khi tạo dược một số vốn, hùn hạp với một người Pháp thầu khuếch trương các tiệm cầm đồ trong Nam kỳ và buôn bán bất động sản. Sau khi rã hùn, được chia một số tiền, làm chủ các sản nghiệp đất cát miền Lục Tỉnh. Các tài sản bất động sản ở trung tâm Saigon trên đường Nguyễn Huệ và Lê Lợi của công ty Hui Bon Hoa được cho mướn. Công ty này được tiếng là rất "biết điều" và không eo sách, làm khó người mướn phố.  Các con cháu của "Chú Hỏa" luôn luôn hòa thuận, gia tài giử nguyên vẹn không chia phần manh mún, chỉ cùng nhau chia lợi tức, và mổi khi cần dùng một số tiền to tát thì người trong họ phải xin chử ký của người trưởng huynh khi ấy ngân hàng mới phát bạc.
Cùng thời với chú Hoả là một người Việt gốc Hoa nổi tiếng ở Lục Tỉnh, Chú Hỷ. Ông cạnh tranh với công ty Pháp, công ty Vận tải đường sông rạch "Compagnie des Messageries fluviales" chuyên chở hàng và người trên sông ngòi miền Tây nam bộ. Tàu Chú Hỷ giá vé rẻ hơn và hành khách được lo chu đáo. Bởi vậy có câu " Đi tàu Chú Hỷ, ở phố Chú Hỏa".
Hồi về thăm Việt Nam đầu năm 2007, tôi có viếng nhà của chú Hỏa ngày xưa (nay là viện Mỹ thuật thành phố), và có may mắn nói chuyện với chị giám đốc về đề tài chú Hỏa. Ngoài các toà nhà bên cạnh Viện, chú Hoả ngày xưa còn xây khách sạn Majestic ngay bến Bạch Đằng cạnh sông Saigon, Bệnh viện Saigon và các dinh thự khác ở Saigon, Vũng Tàu theo kiểu nhà Tây. Vào dịp viếng thăm Vũng Tàu, tôi có dự đám cưới con nhà văn Xuân Sách ở khách sạn Palace. Xưa kia khách sạn Palace là biệt thự của chú Hỏa. Ngày nay thì hiện đại nhưng mất đi dáng cổ kính của kiến trúc Tây ngày xưa. Giữa sân vào khách sạn giờ đây là một hồ bơi rất sang của khách san, nhưng bên cạnh vẫn còn cây cổ thụ to lớn mấy người ôm cũng không xuể, tàn lá xum xuê.
Ngày nay ta có thể đến thăm một căn nhà của chú Hỏa trên đường Phó Đức Chính, gần chợ Saigon.  Toà nhà này hiện nay là Viện Mỹ Thuật thành phố Hồ Chí Minh, bên cạnh trụ sở của bộ Văn hóa Thông tin thành phố đồ sộ không kém (xưa kia cũng là nhà của chú Hỏa). Giá vé vào cửa thăm quan rất rẽ (5000 đồng). Tòa nhà Bảo tàng Mỹ Thuật đồ sộ, rất đẹp, xưa kia là của chú Hỏa (Hứa Văn Bon). Tổng thống Mỹ Bill Clinton khi dến Saigon đã có viếng thăm Viện Bảo tàng Mỹ thuật này. Rất ít khách Việt, đa số là khách nước ngoài nhưng tuy vậy vẫn còn rất vắng vẽ. Giữa tòa nhà 3 tầng là một sân lớn, chung quanh là các phòng với sân ban công (balconỵ) và hành lang nhìn mở ra phía sân trong.
Tòa nhà xây theo kiểu Pháp (chỉ có mái là có dạng Việt), rất kiên cố chắc chắn với trần cao. Các bậc thang làm bằng đá cẩm thạch (marble), giữa sân lobby vào cửa chính có 1 thang máy làm đầu thế kỹ 20, giống như thang máy cỗ xưa ở Paris, vẫn còn chạy nhưng ít dùng. Tòa nhà này có rất nhiều phòng, mỗi phòng đều có đèn treo từ trần và lót gạch bông vẫn còn như xưa. Các tranh trưng bày trong Viện đa số về các sinh hoạt và chiến tích, thành tích trong thời chiến tranh chống Mỹ không có gì xuất sắc ngoài bức sơn mài to lớn "Vui xuân" của Nguyễn Công Trí (một nghệ sĩ tạo hình nổi tiếng của Trường Mỹ thuật Đông Dương mà xưa kia toàn quyền Pháp đã mua 1 bức sơn mài đặt trong phủ toàn quyền ở Hà Nội). Ở lầu hai có trưng bày đồ gốm, bàn ghế xưa và các tượng thờ trong vùng Saigon từ thế kỷ 19, 20. Đằng sau trên lầu 3 nhìn xuống sân vườn giữa tòa nhà, có trưng bày bức tượng ông Trương Vĩnh Ký (sau giải phóng được mang vào đây).
Trong lúc tôi đang xem gốm Biên Hòa, thì tình cờ gặp chị giám đốc Viện trong phòng triễn lãm. Tôi hỏi về lịch sử gốm Biên Hòa và được chị tiếp chuyện. Qua đó tôi có góp ý với chị là các tranh nên có đề năm sáng tác (ngoài tên tác giả), chị cho biết sẽ có tập sách viết về lịch sử viện trong dịp 20 năm thành lập và các mục lục tranh và tiểu sử các tác giả. Nói chuyện với chị về huyền thuyết "con ma" nhà chú Hỏa ly kỳ rùng rợn về con gái chú Hỏa với bệnh cùi và huyền thuyết thuở hàn vi "đi bán ve chai". Tất cả đều không đúng sự thật. Chú Hỏa không có con gái chỉ có 3 người con trai và sau này đã về Tàu chết ở đó. Chú Hỏa làm việc với một chủ người Pháp, vì tính siêng năng và tốt nên ông chủ Pháp thương và đã giúp chú Hỏa vốn mở tiêm cần đồ buôn bán. Tiệm cầm đồ đầu tiên là tòa nhà góc đường Phó Đức Chính và Nguyễn Thái Bình, văn phòng ông ở trước cửa viện bên kia đường, trên một khu đất vẫn còn trống. Khi nhà ông được xây, thì từ chợ Saigon và phía đường Lê Lợi, Nguyễn Huệ, có thể thấy được biệt thự của ông. Ông xây 3 căn trên sát nhau trên đường Phó Đức Chính, mỗi căn cho một người con trai. Căn giữa (hiện nay là trụ sở Bộ Văn hóa Thông tin) cho người con trai lớn có đặt bàn thờ tổ tiên. Theo chị giám đốc thì trụ sở Bộ sẽ di về chổ khác, giao tòa nhà (cũng đồ sộ với kiến trúc Pháp) lại cho bảo tàng Mỹ Thuật.
Cách đây vài tháng (khoãng cuối năm 2006), con cháu chú Hỏa về thăm và có nói là cũng thấy nhà đã được dùng cho công chúng và chưa có ý đòi lại tòa nhà và các tòa nhà chung quanh (đất gồm diện tích giữa 4 góc đường Lê Thị Hồng Gấm, Calmette, Phó Đức Chính và Nguyễn Thái Bình).
Trên lầu ba là các phòng trưng bày hiện vật của nền văn hóa Óc Eo tìm được ở nhiều nơi ở đồng bằng sông Cửu Long (Rạch giá, Kiên Giang, Sóc Trăng, Long An, Tây Ninh...), phòng văn minh Champa với các phù điêu, tượng thần tìm được ở Trà Kiệu, Bình Định, và phòng trưng bày các gốm, tượng, đồ đồng Việt Nam.
Ở góc sân giữa tòa nhà là bức tượng đồng rất đẹp ông Quách Đàm, một người Hoa nổi tiếng ở Saigon. Người đã xây dựng chợ Bình Tây. Trên bức tượng ở ngực ông đầy huy chương. Trước đây tượng được đặt ở chợ, sau giải phóng, cũng như tượng Trương Vĩnh Ký, đã được mang về đây. Hai phòng bên cạnh sân giữa tòa nhà là hai phòng trưng bày tranh (gallery) để bán, chủ tiệm của phòng tranh bên trái có treo ảnh chụp của bà với tổng thống Clinton khi ông vào đây thăm viếng.
Hôm viếng thăm, tôi có dịp dừng lại nói chuyện với các du khách từ Pháp giải thích cho họ về bức tượng Petrus Ký và Quách Đàm và sơ lược tiểu sử của hai nhân vật lịch sử này. Phải nói là Viện Bảo tàng nên có hướng dẫn viên hay sách chỉ dẫn cơ bản về những hiện vật trong Viện để du khách có thể hiểu biết về nghệ thuật và học hỏi về các đặc thù nghệ thuật Việt Nam nói chung và thành phố nói riêng.
(2) Quách Đàm: Miền Nam có câu nói về những người giàu có trong giữa thế kỷ 20 "Nhất Hỏa, nhì  Đàm, tam Xường, tứ  Ích", cho thấy Quách Đàm là nhân vật thứ hai sau chú Hỏa. Xuất thân thuở hàn vi bán ve chai, kèm theo mua da trâu, vi cá và bong bóng cá. Ddàm nhờ lanh trí, nhập giới thương mại thấy việc mau lẹ hơn ai hết, nên làm giàu nhanh chóng.
Ông là người xây lập chợ Bình Tây hiện nay vẫn còn ở Chợ Lớn. Lúc đó Chánh tham biện Chợ Lớn thấy Chợ Củ (hiện nay là nền nhà Bưu Điện Chợ Lớn, Quận 5) nhỏ hẹp, không đủ cho bạn hàng nhóm họp. Ông nghe biết được nên mua ngay vùng đất ruộng Bình Tây, biến đất ruộng thành đất thổ trạch châu thành, rồi cho người đến dâng miếng đất, chỉ đòi được xây chợ và cất phố kiểu buôn bán chung quanh chợ để cho mướn. Chính quyền đồng ý và sau này cơ sở phát triển còn cho phép tượng Quách Đàm được tạc và dựng ở chợ. Trụ sở của nhà buôn Quách Đàm nằm ở đường Quai de Gaudot (nay là đường Khổng Tử).
Về sau Quách Đàm rất giàu, xoay qua đứng bảo lảnh cho các con nợ nhà băng "Đông Dương Ngân hàng". Mỗi lần xin chử ký bảo chứng, họ phải chịu cho Đàm một huê hồng qui định trước. Nhưng gặp năm kinh tế khủng hoảng 1929, các nhà buôn vỡ nợ không đủ sức trả bạc vay, nhà băng phát mãi phá sãn, lôi kéo sự nghiệp nhà họ Quách sụp đổ theo cơn khủng hoảng kinh tế trầm trọng ở Nam kỳ.
Sau này, khi Quách Đàm chết, đám ma lớn không đám nào bằng. Bàn đưa không thể đếm. Đủ thứ nhạc Tây, Tàu, Ta, Miên... Khách đi dường có việc, miễn nối gót theo đám ma vài bước là có người lễ phép đến dâng một ly nước dừa hay la ve (bia) và riêng tặng một quạt giấy có kèm một tấm giấy "ngẫu" (năm đồng bạc) đền ơn có lòng đưa đón! Quách Đàm được chôn ở gần chùa Giác Lâm giáp ranh Chợ Lớn và Gia Định (1)
(3) Mạc Phúc Sử: Nổi tiếng với sản phẩm dầu cù là Macphsu. Dầu cù là Macphsu do ông làm chủ và sản xuất. Macphsu là tên ký âm bằng Pháp ngữ khi Mạc Phú Sử ra cầu chứng tại tòa. Vì không biết đọc, biết viết tiếng Pháp nên khi được hỏi dầu cù là cầu chứng tên gì, ông tưởng là nhân viên tòa hỏi tên mình là gì, ông bèn nói Mạc Phúc Sử và được người Pháp viết theo phiên âm Pháp ngữ là Macphsu. Sản lượng và tiếng tăm dầu cù là Macphsu rất lớn, ngoài thị trường miền Nam, Mạc Phúc Sử còn xuất cảng sang Lào, Cambodia, Singapore và Thái Lan.
(4) Trương Văn Bền, sinh năm 1883, trong một gia đình người Hoa gốc Triều Châu đến Việt Nam lập nghiệp từ đầu thế kỷ 19. Trương Văn Bền có dịp sang Pháp du học và đã học được nghề sản xuất xà bông. Năm 1918, ông dùng dừa có sẵn rất nhiều ở miền Tây Nam bộ để thành lập xưởng ép dầu dừa và từ đó sản xuất xà bông cục đáp ứng nhu cầu rửa ráy, giặt giũ của dân chúng hằng ngày. Khi cơ sở phát triển, năm 1932, ông cho xây một hãng lớn hơn và làm chủ nhân hãng xà bông "Trương Văn Bền". Sản phẩm nổi tiếng nhất của hãng ông là xà bông thơm Việt Nam hiệu Cô Ba, rất thịnh hành ở miền Nam và sau đó trên khắp thị trường Đông Dương. Cô Ba tượng trưng cho một phụ nữ đẹp, giản dị, trong trắng của cô gái miền Nam trong huyền thoại. Xà bông Cô Ba cạnh tranh về chất lượng và giá thành rẽ đã đánh bạt được xà bông nước ngoài, nhập từ Pháp (17). Ông là người Hoa Triều Châu đi trước trong thương mại và làm gương cho những người sau này như Trần Thành. Ông Trương Văn Bền nổi tiếng như Bạch Thái Bưởi cùng thời ở miền Bắc và trở thành giàu có, có hạng ở Nam kỳ. Gia sản của ông tương đương với ông Phủ Kiểng ở Bến Tre, ông Kho Gressier Remy ở Sóc Trăng, hay gia đình Lâm Quang ở Trà Vinh. Ông Bền cũng chính là người xuất tiền cất một dãy phố 50 căn, gần Ngã Sáu Chợ Lớn, nằm góc đường Armans Rousseau và Général Lizé (nay là đường Ngô Gia Tự và Hùng Vương) (17).
Còn nhiều câu truyện của các doanh nhân người Hoa ở Chợ Lớn đã phát triển kinh doanh đóng góp vào nền kinh tế Việt Nam từ các năm xưa. Tôi trước đây có đọc một bài trong tạp chí nghiên cứu lịch sử hồi năm khoảng năm 1977 đã liệt kê nhiều nhà kinh doanh người Hoa, nhưng hồi ấy là đả phá họ, cho họ là tư bản bóc lột. Nay thì đã khác hẳn rồi, họ là những những người đã giúp cho nền kinh tế phát triển và có ích cho đất nước, xã hội. Trước 1975, có những tư sản Việt gốc Hoa cở lớn, kể sơ lược như sau (2):
 (5) Trần Thành: Ông xuất thân từ gia đình nghèo qua Việt Nam đầu thế kỷ 20. Thưở còn thanh niên tìm việc ở Chợ Lớn, ông được vào làm công trong một xưởng chế biến dầu thực vật của một chủ người Hoa họ Trịnh, cạo rữa các thùng chứa. Được sự tín nhiệm của chủ, ông được giao trọng trách đi mua nguyên liệu chủ yếu là đậu nành và đậu phọng cho xưởng. Với uy tín của ông với nông dân và đối tác ở nông thôn miền Nam và cả ở Cao Miên (Cambodia), ông không những cung cấp hiệu quả kinh tế cho cơ sở xưởng chủ ông mà sau này khi được chủ giúp đỡ cho vốn ra riêng còn cung cấp cho các xưởng khác nữa.
Trong công việc làm ăn, ông coi trọng nhất là chữ tín. Ông nói:" Chữ TÍN. Làm nghề gì cũng phải giữ cho được chữ TÍN mới có thể thành công được. Ông lập ra hãng bột ngọt Vị Hương Tố. Được coi là  "vua bột ngọt và vua mễ cốc", ông được bầu vào chức vụ bang trưởng Triều Châu, khi tuổi chỉ mới xấp xỉ 40. Ông đại diện cho người Hoa liên hệ với chính quyền miền Nam Ngô Đình Diệm và sau này trong thập niên 1960-1970 và được chính quyền kiêng nễ. Ông giúp đỡ nhiều người có chí mượn vốn. Nhà ông lúc nào cũng có người đến xin ý kiến làm ăn. Ông đi thăm các nhà máy, xí nghiệp lớn ở Đài Loan, Nhật Bản để học hỏi kinh nghiệm tổ chức, điều hành các xí nghiệp cở lớn và nghiên cứu thị trường.
 (6) Vương Đạo Nghĩa, chủ hãng kem đánh răng hiệu Hynos cạnh tranh với các hãng kem Việt Nam hiệu Perlon và Leyna ở miền Nam và kem ngoại quốc như Colgate (Mỹ), C'est it (Pháp). Vào thập niên 1960, hồi tôi còn nhỏ khi được bác tôi dẫn ra Saigon và bây giờ vẫn còn nhớ là hình ảnh rất lớn trên cửa chính của chợ Bến Thành đường Nguyễn Huệ một anh "chà và" da đen cười tươi với hàm răng trắng đều và đẹp của kem đánh răng hiệu Hynos. Lúc đầu, vào mới hơn 20 tuổi, ông làm cho hãng kem nhỏ ít biết tiếng Hynos do một người Mỹ gốc Do Thái có vợ Việt Nam mở hãng sản xuất kem đánh răng ở Việt Nam. Sau này khi người vợ mất, ông chủ buồn rầu bỏ đi giao lại cho ông vì ông được tiếng là trung thành, cần cù làm ăn.
Vương Đạo Nghĩa là người Việt gốc Hoa tiên phong trong lãnh vực tiếp thị làm ăn kiểu Tây Phương. Ông là người biết được giá trị của thương hiệu và sự quan trọng của tiếp thị trong kinh doanh thương mại. Quảng cáo kem Hynos của ông xuất hiện ở khắp nơi từ thành thị đến nông thôn trên mọi phương tiện, ở các cửa hàng ăn uống, loa phóng thanh, dọc đường, chợ búa, báo chí, hệ thống truyền thanh và truyền hình, ngay cả trên các thùng xe vận tải chạy khắp miền Nam. Ông cũng là người đầu tiên biết vận dụng phim võ hiệp và tình báo kiểu Trung Hoa vào quảng cáo, sau khi gặp lại người anh họ (con ông bác) ở Hong Kong là tài tử Vương Vũ và được ông mời đến Việt nam nhiều lần trong các dịp nghĩ hè. Người dân miền Nam khó có thể quên hình ảnh tài tử Vương Vũ giải thoát các xe hàng do đoàn bảo tiêu hộ tống thoát khỏi quân cướp nhưng tất cả bảo tiêu đã bị chết, chỉ còn Vương Vũ và khi ông mở xe hàng thì trong đó không phải là vàng bạc châu báo mà là các hộp kem đánh răng Hynos hay anh Bảy Chà cười toe toét với hàm răng trắng sáng chói có mặt khắp nơi trên các hang cùng ngõ hẻm. Thương hiệu Hynos gắn liền với kem đánh răng trong tâm trí người dân. Sản phẩm của hãng kem đánh răng Hynos có mặt khắp nơi tại Việt Nam, và sau đó ở thị trường Đông Nam Á và Hong Kong. Khác với các hãng và doanh nghiệp Việt Nam thời bấy giờ, ông đã trích ra nhiều hơn từ lợi nhuận vào quảng cáo thương hiệu, giới thiệu sản phẩm với tầm cở quốc tế, tương đương với quảng cáo của các thương hiệu nổi tiếng nước ngoài như Coca-Cola, Seiko, Adidas...
(7) Trương Vĩ Nhiên,"vua ciné": Xuất thân từ một gia đình người Hoa, anh em họ Trương được ăn học và giáo dục theo phong cách quý phái người Hoa. Trương Vĩ Nhiên thấm nhuần đạo Phật và say mê triết lý Đông phương (11), có đầu óc phóng khoáng và nhạy cảm hiểu biết về tâm lý quần chúng và thị trường. Ông là chủ nhân hãng xuất nhập cảng phim Viễn Đông, đại lý độc quyền các phim của hảng phim nổi tiếng Shaw Brothers (Đài Loan) và Golden Harvest (Hồng Kông). Điện ảnh Hong Kong và Đài Loan cuối thập niên 1960, được coi là thời vàng son, đã sản xuất các phim dã sử kiếm hiệp thu hút khán giả nhiều nơi ở Đông Nam Á cạnh tranh và làm các hảng phim Âu Mỹ nể sợ và khâm phục. Ở miền Nam thời bấy giờ, các tài tử Lý Thanh, Trịnh Phối Phối, Khương Đại Vệ, Vương Vũ, Địch Long, Hà Lợi Lợi... với các phim Độc Long Đàm, Hiệp Khách Hành, Độc Thủ Đại Hiệp, Nhất kiếm trấn ải, Long hổ quyết đấu... đã chinh phục khán giả với doanh thu vượt kỷ lục hơn cả các phim Âu Mỹ thời đó như Cleopatre, Love Story, Romeo Juliet, Deux hommes dans la ville.. của các tài tử Liz Taylor, Ali Mc Graw, Steve McQueen, Alain Delon, Jean Belmondo..
Trương Văn Vĩ đã nhìn thấy trước qua sự say mê của người dân với các truyện võ hiệp Kim Dung và sau này Quỳnh Dao ở các nước Á châu và ông đã mua lại các rạp làm ăn ế ẩm, tân trang lại và làm chủ các rạp hát ciné ở nhiều nơi vùng Sài Gòn - Chợ Lớn: Eden, Đại Nam, Palace, Opéra, Oscar, Lệ Thanh, Hoàng Cung, Đại Quang, Thủ Đô... (ngoài các rạp Rex, Văn Hoa Dakao, Văn Hoa Sài Gòn, Mini Rex A, B, C của ông Ưng Thi, trong hoàng gia nhà Nguyễn, chuyên chiếu phim cao cấp). Tất cả các rạp của Trương Văn Vĩ đều được sửa sang xây dựng mới mẻ, với hệ thống máy lạnh tốt, ghế ngồi bọc da, trang hoàng đẹp mắt và hấp dẫn khách hàng với hệ thống máy móc như máy chiếu, âm thanh, ánh sáng nhiều màu trong rạp, cả buvette (quầy giải khát) phục vụ ngay trong rạp, cùng các phương tiện quảng cáo đa dạng và quy mô. Bắt đầu từ năm 1966, Trương Vĩ Nhiên nhập cảng các loại phim võ hiệp, kiếm hiệp dã sữ Hồng Kông và Đài Loan, sau là phim tình cảm phỏng theo truyện của các tác giả nổi tiếng như Kim Dung, Ngọa Long tiên sinh, Quỳnh Dao.... Ông trở thành tỉ phú giàu có khi chỉ mới hơn 30 tuổi. Ông có ảnh hưởng rất lớn về nghệ thuật và văn hóa điện ảnh trong cuối thập niên 1960 và đầu 1970.
(8) L.N ("vua bột mì"): L.N giàu có bằng "cho vay lúa",, nhập cảng thóc gạo miền Tây, kinh doanh bột mì .  L.N xây dựng "Saigon kỹ nghệ bột mì công ty" (Sakybomi), hùn vốn vào công ty bột mì khác Viflomico. Để nắm độc quyền hai nhà máy cở lớn nhất ở Đông Nam Á này, L.N đã đóng cổ phần vào 3 ngân hàng: Trung Nam ngân hàng (100 triệu), Đồng Nai ngân hàng (40% cổ phần), Nông Doanh ngân hàng và vào hai công ty xuất nhập cảng Mỹ Liên (21 %), Hứa Nhuận Chân (70%), đồng thời lập hai công ty nhập khẩu 18 mặt hàng khác (3).
(9) Tập đoàn đại gia tộc họ Ông, chủ dầu cù là hiệu Con Cọp, được gọi là Cọp Saigon (Ông Nghiệp Hùng, Ông Nghiệp Sơ, Ông Nghiệp Kỳ, là con của Ông Tích). Ngoài ra tập đoàn này khống chế một nhà máy dệt lớn, một công ty vận tải đường bộ, đường sông, công ty xuất nhập cảng, một xưởng đóng tàu, một công ty bốc dở hàng ở Thương cảng Saigon, một ngân hàng và nhiều nhà cho thuê. Trong thời này cũng có nhiều tập đoàn và các nhân vật khác như các tập đoàn tư bản họ Trương, họ Mã, vua "xăng dầu" Lý Hớn, "vua cà phê" Trần Thiện Tứ, "vua vải sợ" Lưu Tú Dân, "vua thuốc lá" Siou Phong ....

 (b) Thời kỳ đổi mới sau 1975

Đất nước Việt Nam có nhiều người Hoa và Minh Hương giỏi, nhưng do những chính sách sai lầm, chính quyền trước đây đã đánh đổ họ qua mấy chiến dịch đánh tư sản sau 1975: vua thép, vua gạo, vua bột giặt, vua sà bông, vua bột mì ... đều bị đánh tan hoang bại sản. Trong khi trong thời gian ấy mấy người Hoa chủ các công ty lớn ở các nước Đông Nam Á như Temasek của Singapore, St Miguel của Philippines..) vẫn còn không bằng một góc các công ty Hoa ở Vietnam.
Ngày nay có một người Minh hương nổi tiếng không kém chú Hỏa, Trần Thành xưa kia. Đó là "vua gốm" Lý Ngọc Minh, chủ công ty gốm Minh Long ở Bình Dương. Kế thừa truyền thống nghề gốm của người Minh hương ở Gia Định- Đồng Nai, ngày nay các cơ xưởng làm gốm (đa số ở Biên Hòa và Bình Dương) tiếp tục phát triển làm gốm, nhất là sau giai đoạn Đổi mới, với các sản phẩm đặc sắc xuất khẩu đi nhiều nơi trên thế giới. Ông đã tạo những bộ gốm nổi tiếng Cẩm Tú, Sơn Hà, Hồn Việt ..Trước đây ông có nhờ gs Cao Xuân Phổ và Trần Quốc Vượng cố vần để ông tạo con rồng Việt Nam theo kiểu triều đại Lý - Trần, lúc cổ thành Thăng Long vừa được khám phá, trên sản phẩm gốm của ông. Công ty ông cũng là nơi làm các "cup" gốm làm quà tặng cho các nguyên thủ quốc gia tham gia Hội nghị APEC năm ngoái ở Hà Nôi.
Cuộc đời của ông Minh trước 1975 đến nay đã được dựng thành phim "Miền đất phúc" làm nhiều tập chiếu trên truyền hình Tp Hồ Chí Minh. Xuất phát từ một gia đình có truyền thống làm gốm sứ ở Tân Phước Khánh (Tân Uyên - Bình Dương), gia tộc Lý Ngọc Minh đã có ba đời theo nghề gốm sứ. Năm 1975, đất nước thống nhất nhưng thương mại tư nhân bị cấm và hạn chế. Trãi qua bao khó kh ăn, ông vẫn kiên trì sản xuất và đến khoảng những giữa thập niên 1980 và đầu 1990 sản phẩm của ông bắt đầu có mặt tại thị trường các nước Đông Âu và tư bản. Nay thì ông Lý Ngọc Minh là người chính phủ Việt Nam trọng vọng (Ủy viên của mặt trận Tổ quốc, đại biểu quốc hội, anh hùng lao động ...), công ty ông có gần 2000 công nhân làm việc và thương hiệu gốm Minh Long xuất khẩu qua nhiều nước làm các công ty Nhật, Hàn, Âu Mỹ gờm vì cạnh tranh và qua mặt họ.

Chính Trị

Từ lúc Trần Thượng Xuyên và Dương Ngạn Địch được chúa Nguyễn cho vào miền Nam mở đất, lập nghiệp, người Minh hương tiên phong cùng lưu dân người Việt và dân bản sứ Khmer đã khai hoang mở mang bờ cỏi làm vùng đất Gia Định-Đồng Nai (tức cả miền Nam thuở đó) trở nên trù phú. Miền Nam trở thành miền đất hứa của nhiều dân nghèo từ miền Trung vào lập cuộc đời mới. Người Minh hương đã tham gia bình đẳng trung thành nhớ ơn phục vụ phò chúa Nguyễn ngay cả lúc Nguyễn Ánh phải trốn chạy Tây Sơn bôn ba khắp nơi ở vùng đất mới. Các tướng Minh hương như Châu Văn Tiếp, Đỗ Thành Nhân, Võ Tánh.. là những tướng đã ra giúp Nguyễn Ánh trong cuộc tranh hùng với Tây Sơn. Vì sự giúp đỡ chúa Nguyễn, quân Tây Sơn năm 1783 đã giết rất nhiều người Hoa, hủy hoại hoàn toàn Cù lao phố, và năm 1785 lần nữa vào cướp giết, phá hủy cơ nghiệp người Hoa vùng Chợ Lớn, Mỹ Tho.
Khi Gia Long (Nguyễn Ánh) lấy được giang sơn, trong hàng công thần phục vụ triều đình có rất nhiều người gốc Minh hương và nhà vua đã nhớ ơn và đãi ngộ xứng đáng. Nhân tài gốc Minh hương, từ Võ Trường Toản, Trịnh Hoài Đức đến Trương Minh Giảng.. ra phục vụ triều đình và đất nước không phân biệt Việt hay Minh hương
Tuy nhiên sau khi Gia Long mất, vua Minh Mạng không hài lòng với quyền tự chủ của tổng trấn Gia Định Lê Văn Duyệt. Lê Văn Duyệt vẫn theo chính sách của Gia Long cho người Hoa các bang được tự trị, và không có thuế thân. Sau khi tổng trấn Gia Định mất, chính sách hà khắc của Minh Mạng đối với Lê Văn Duyệt, và trung ương tập quyền bãi bỏ hết chính sách nhu hòa ngày trước gây bất bình với nhiều người ở Gia Định trước đây đã phò Gia Long kể cả người Minh hương, gốc Hoa, người Chăm, giáo sĩ truyền đạo người Pháp. Sau cuộc khởi nghĩa của Lê Văn Khôi bị dẹp mà trong hàng ngũ giúp Lê Văn Khôi có nhiều người Hoa, chính sách của Minh Mạng càng ngày càng khắc khe với người Hoa và người Minh hương. Trong tác phẩm thơ "Bốn Bang thư" của một người Hoa gọi là Bốn Bang (thực sự tên hiệu đại diện cho bốn bang Quảng Đông, Triều Châu, Phúc Kiến và Hải Nam) bị bắt và làm ra bài thơ dài 308 câu lục bát trước khi bị hành hình, có kể rõ về sự tình miền Nam trong cuộc khởi nghĩa Lê Văn Khôi.
Từ đó người Minh Hương và Hoa ít có tham gia vào triều đình chính quyền cho đến thời Pháp thuộc, họ chỉ chăm chú làm ăn vì đối với họ chánh quyền Việt và Pháp cũng không khác qua sự đối xử, phân biệt.
Võ Tánh
Một trong "Gia Định tam hùng" (Châu Văn Tiếp, Đỗ Thành Nhân, Võ Tánh). người Minh Hương, tổ tiên trước kia ở làng Phước An (Biên Hòa) sau dời về Bình Dương, Gia Định. Thuở còn thanh niên, ông luyện tập võ nghệ, nổi tiếng là một võ sư cao cường có sức mạnh hơn người, một mình Võ Tánh đã dùng tay không đánh cọp tại 18 thôn Vườn Trầu . Đương thời, ông cùng với Đỗ Thành Nhân và Châu Văn Tiếp họp thành Gia Định tam hùng. Quân Tây Sơn thường nói rằng: "Trong bọn tam hùng đất Gia Định, Võ Tánh là anh hùng bậc nhất, không nên phạm đến".
Vì không chịu khuất phục Tây Sơn, Võ Tánh chiêu tập nghĩa binh cùng với anh là Võ Nhân phất cờ khởi nghĩa tại 18 thôn Vườn Trầu (Gia Định), rồi kéo binh chiếm giữ cả vùng đất Gò Công. Sau khi người anh mất, ông rút quân về án giữ thôn Vườn Trầu. Nghĩa quân của Võ Tánh có đến mấy vạn người, chia thành 5 đoàn, được đặt hiệu là đạo quân Kiến Hạ.
Khi Nguyễn Phúc Ánh từ Xiêm La trở về nước có mời Võ Tánh về giúp. Năm 1788, Võ Tánh cùng các bộ tướng đến bái kiến Nguyễn vương. Nguyễn Phúc Ánh mừng rỡ, phong cho Võ Tánh làm Tiền phong dinh Khâm sai Chưởng cơ và gả em gái là Ngọc Du công chúa.
Ngay từ buổi đầu, Võ Tánh đã giúp Nguyễn Phúc Ánh nhiều công trạng: vây đánh và bắt được tướng của Tây Sơn tên Phạm Văn Tham (1789), đánh bại tướng Đào Văn Hổ và thu phục thành Diên khánh (1790). Khi trấn thủ thành Diên Khánh, Võ Tánh dùng mưu đuổi quân Tây Sơn đến vây thành (1794). Sau đó về lại Gia Định, ông được phong tước Quận Công kiêm lãnh chức Đại Tướng Quân. Năm 1797, ông theo Nguyễn Ánh ra đánh Quảng Nam, thắng được tướng Nguyễn Văn Ngụ tại cửa Đại Chiêm (Cửa Đại), quân sĩ Tây Sơn về hàng rất đông. Thừa thắng, ông vượt sông Mỹ Khê (Quảng Ngãi), đánh bại Đô đốc Nguyễn Văn Giáp.
Năm 1799, Võ Tánh lại theo Nguyễn Phúc Ánh ra đánh Qui Nhơn. Cùng với tướng Nguyễn Huỳnh Đức đánh thắng nhiều trận tại Thị Giả và cầu Tân An, giết được Đô đốc Nguyễn Thiệt và chiêu hàng Đô đốc Lê Chất. Thành Qui Nhơn được đổi tên là thành Bình Định và giao cho Võ Tánh và Ngô Tùng Châu ở lại trấn giữ. Lúc Võ Tánh cầm chân quân Tây Sơn tại thành Bình Định, Nguyễn Ánh đánh chiếm thành Phú Yên rất dễ dàng.
Không lâu, quân đội Tây Sơn dưới quyền chỉ huy của Thái Phó Trần Quang Diệu, tướng giỏi của Tây Sơn phản công vây thành Bình Định. Nguyễn Ánh đưa binh ra giải cứu không nổi, cuộc bao vây măi kéo dài đến 14 tháng. Lâu ngày, trong thành binh sï thiếu lương thực rất nguy ngập. Ngày 7-7-1801, trong lúc bị vây ngặt, có người khuyên Võ Tánh bỏ thành mà chạy nhưng ông không chịu. Võ Tánh nói: "Không thể được. Ta phụng mạng giữ thành này, nên thề với thành cùng sống chết. Nếu bỏ thành mà hèn nhát trốn lấy một mình, thời sau này còn mặt mũi nào trông thấy Chúa thượng". Sau đó ông trao cho tướng Tây Sơn Trần Quang Diệu một bức thư đại ý nói rằng: "Phận sự ta làm chủ tướng thì đành liều chết ở dưới cờ, ta đâu có ngại. Còn như các quân sĩ không có tội tình gì, xin chớ nên giết hại". Tiếp theo ông lấy rơm cỏ chất dưới lầu Bát Giác (Bình Định), đổ thuốc súng rồi tự đốt mà chết. Quan Hiệp trấn Ngô Tùng Châu cũng uống thuốc độc tự tử. Trần Quang Diệu đem quân vào thành, xúc động trước tấm gương tiết liệt của Võ Tánh, sai người làm lễ liệm tang tử tế và không làm tội hay giết hại một ai.
Vua Gia Long, sau khi lên ngôi Hoàng đế, tưởng nhớ đến công lao của Võ Tánh cho lập đền thờ ở nền cũ lầu Bát Giác, sai người đưa di cốt của ông về chôn tại Phú Nhuận, Gia Định (nay nằm trong một hẻm ở đường Hồ Văn Huê, Saigon) và truy tặng tước Dực vận Công thần, Phụ quốc Thượng tướng công, Trụ quốc úy Thái trung liệt. Vua Minh Mạng truy phong làm Hoài quốc công.
Ngày nay, người Bình Định vẫn còn lưu truyền câu hát nói lên cảm tình của dân với Võ Tánh:
Ngó lên ngọn tháp Cánh Tiên
Cảm thương quan Hậu thủ thiềng ba năm !
Châu Văn Tiếp
Châu Văn Tiếp sinh năm 1738, tên tộc là Châu Doãn Ngạnh, quê huyện Phù Mỹ, Quy Nhơn. Khi Tây Sơn đánh chiếm thành Quy Nhơn, gia đình ông dời về Phú Yên. Ông thông thạo 2 ngoại ngữ Xiêm và Miên. Sau ông chiêu mộ người, dựng cờ khởi nghĩa chống Tây Sơn. Cờ thêu bốn chữ lớn Lương Sơn Bá Quốc. Được Nguyễn Nhạc chiêu hàng nhưng sau đó tách ra theo chúa Nguyễn Ánh ở Gia Định. Năm Canh Tý (1780) Nguyễn Phúc ánh xưng vương tài Sài Côn (Sài gòn) phong ông làm khâm sai đại đô đốc, nổi tiếng trong gia đình tam hùng. Năm 1781, ông đánh ra Diên Khánh, nhưng thua rút về Phú Yên. Không lâu sau đó, Gia Định cũng thất thủ, ông theo Chúa Nguyễn sang Xiêm. Năm Giáp Thìn (1784), Chúa Nguyễn đưa binh Xiêm về chống nhau với Tây Sơn. Ông làm Bình tây đại đô đốc chưởng quản các đạo quân Xiêm trên sông Mang Thít (Vĩnh Long). Trong trận thủy chiến, ông bị tướng của nghĩa quân Tây Sơn là chưởng tiền Bảo giết chết. Năm 1802, Nguyễn Ánh lên ngôi vua, sắc sai Đặng Đức Siêu soạn văn tế và truy phong ông Tả là quân đô đốc tước quận công, lập đền thờ tại thôn An hội (nay là làng Tân Long Hội), tỉnh Vĩnh Long và được thờ nơi miếu Hiển Trung của nhà Nguyễn ở Huế.
Trương Minh Giảng
Trương Minh Giảng, sinh ở Bình Dương, thuộc trấn Gia Định. Đỗ cử nhân năm 1819, được bổ nhiều chức vụ, sau lên ch ức Thượng thư bộ Hộ. Ông là người văn võ song tài. Lúc Lê Văn Khôi nổi loạn ở Gia Định, vua Minh Mạng sai ông và tướng Phan Văn Thúy mang quân vào dẹp loạn. Sau đó, ông cầm quân đánh với quân Xiêm xâm nhập nước ta ở mặt trận Hà Tiên theo đường thủy và Châu Đốc và An Giang qua ngã Chân Lạp (Cao Miên). Lúc bấy giờ Xiêm đã chiếm đóng và cai trị Chân Lạp
Ở mặt trận An Giang, tại sông Cổ Cắng Trương Minh Giảng và Nguyễn Văn Xuân đại phá quân Xiêm. Thắng thế tiến thẳng lên Nam Vang (Phnom Penh), đưa vua nước nầy là Nặc Ông Chân về nước. Sau đó, Trương Minh Giảng cho lập đồn ở gần Nam Vang để bảo hộ Chân Lạp. Khi Nặc Ông Chân mất (1843), Trương Minh Giảng xin lập người con gái của Ông Chân là Ang Mey, tục gọi là Ngọc Văn công chúa lên làm Quận Chúa, rồi đổi nước Chân Lạp ra Trấn Tây Thành, chia làm 34 phủ huyện và cắt đặt người lo việc chính trị, kinh lý, thanh sát các việc buôn bán, đo ruộng đất và đặt các thứ thuế đinh, điền, thuyền bè... Không bao lâu, dân Chân Lạp nổi loạn dưới sự lãnh đạo của em Nặc Ông Chân là Nặc Ông Đôn, quan quân địa phương đánh mãi mà không dẹp nổi. Khi vua Minh Mạng mất, vua Thiệu Trị lên nối ngôi, sau một thời gian có nhiều khó khăn qua sự nổi dậy và chống đối của dân Chân Lạp mà Trấn Tây Tướng Quân (Trương Minh Giảng) không dập tắt được, một số triều thần tâu trình vua Thiệu Trị bỏ đất Trấn Tây, cho lệnh rút quân về An Giang. Năm 1841, Trương Minh Giảng về An Giang buồn phiền vì không giữ được thành Trấn Tây nên sinh bệnh rồi mất. Thật ra đây không phải là lỗi của ông mà vua Minh Mạng mới là người chịu trách nhiệm chính qua chính sách thật sai lầm, thiếu sáng suốt là thôn tính, xác nhập Chân Lạp vào Việt Nam. Một di sản để lại nhiều hệ quả ngoại giao tai hại sau này mà người Chân Lạp không quên cho đến ngày nay.
Phan Xích Long
Sinh năm 1893, Phan Xích Long tên thật là Phan Phát Sanh, con của Phan Núi, một người cảnh sát gốc Hoa tại Chợ Lớn. Từ thuở nhỏ Phan Phát Sanh đã tỏ ra là một tay anh chị hảo hán, trừ gian diệt bạo, nhờ đó đã kết nạp rất nhiều đàn em và trở thành đại ca. Tháng 3, năm 1913 (Quý Sửu), "đại ca" Phan Phát Sanh tự xưng Phan Xích Long, tự nhận là Đông Cung con vua Hàm Nghi và tự tôn làm Hoàng Đế cùng với một số đàn em làm cách mạng chống Pháp. Họ chế tạo lựu đạn, trái phá, dán truyền đơn khắp chợ Sài Gòn, Chợ Lớn, Bình Tây kêu gọi dân chúng nổi dậy. Nhóm hội kín "Thiên Địa Hội" của Phan Xích Long đặt bom ở trụ sở bót cảnh sát, xưởng Ba Son, ở Chợ Lớn, Tân An, Sóc Trăng... đến tận Nam Vang (Cao Miên) làm thực dân Pháp sợ hải trước sự lớn mạnh và bạo gan của phong trào Phan Xích Long.  Chẳng may Phan Xích Long bị bắt tại Phan Thiết cùng một số đồ đệ và. bị xử án chung thân khổ sai về tội khủng bố, phá rối trị an, giam tại nhà lao khám lớn Saigon.
Vụ án Phan Xích Long làm chấn động giới anh chị giang hồ mã thượng thời đó. Tháng 3-1916, thừa dịp Pháp đang bị Đức đánh tại mẫu quốc, một số đàn em dưới quyền của Hải Trí mặc áo đen, quần trắng, mang áo giáp da, trang bị bùa chú, tổ chức đánh phá Khám Lớn Sài Gòn để cứu "đại ca". Ban đầu rất nhiều thuyền nhỏ tứ xứ đến đậu chen nhau dưới gầm cầu Khánh Hội, đến ba giờ khuya là khởi sự. Dưới khẩu hiệu "Cứu đại ca", các đồng đảng thảy đều uống bùa, cổ mang phù chú, tay cầm gươm mác, kéo lên Khám lớn Sài Gòn. Nhưng mã tấu và bùa chú không chống nổi súng đạn, nên ngoài một số bị chết tại trận, hầu như tất cả đều bị bắt, tất cả gồm 56 người. Vài ngày sau 56 "anh hùng" và "đại ca" đều bị xử tử và chôn chung trong một mộ ở Đất Thánh Chà (đường Hiền Vương, Chợ Lớn). Tiếng thơm vẫn còn lưu truyền trong giới giang hồ Chợ Lớn, tầng lớp lao động làm xấu hổ rất nhiều người trí thức, tự nhận làm cách mạng nhưng không có cái can đảm của những tay giang hồ hảo hán, với chí khí "trọng nghĩa khinh tài", cùng chịu chết chung với nhau chứ không bỏ chạy. Trong dân gian, giai thoại về "tướng cướp" Phan Xích Long là đề tài của nhiều vỡ hát bội, hồ quảng hay cải lương sau này ở miền Nam.
Trần Bội Cơ
Trong kháng chiến chống Pháp, người con gái nữ sinh Trần Bội Cơ ở quận 5 (thành phố Hồ Chí Minh), người Hoa gốc Phúc Kiến, đã đấu tranh đòi bãi bỏ lệnh đóng cửa trường ngày 4/5 hàng năm. Chị bị bắt lúc đang diễn thuyết trước đám đông học sinh sau đó bị tra tấn và hy sinh lúc chỉ mới 18 tuổi, ngày 12/5/1950. Chị bị sát hại lúc cô em gái Trần Bội Anh đã về Vĩnh Long. Biết tình hình Sài Gòn bất ổn nên ba của chị, ông Trần Thủy Nam, tức tốc lên Sài Gòn định đón con gái về nhưng không kịp. Tại nhà xác Bệnh viện Chợ Rẫy, ông Nam đã ngất xỉu khi thấy thân xác không toàn vẹn của chị. Ngày 2-9-1950, chị được truy tặng Huân chương Kháng chiến chống Pháp hạng 2. Sau ngày 30-4-1975, mộ chị được di dời từ Q.11 về nghĩa trang Lạc Cảnh, sau đó về yên nghỉ tại Nghĩa trang liệt sĩ TP.HCM.

Tổng luận

Vùng đất Nam bộ khi mới khẩn hoang lập nghiệp, người Minh hương và người Hoa sau này cũng như dân Việt từ miền Trung vào tìm cuộc sống mới với những cư dân Miên, Mạ đã ở đấy trước đó. Để lại và quên đi những lầm than, sai trái, áp bức ở vùng đất mà họ phải ra đi, lưu dân sống mở vùng đất mới, họ dễ đồng cảm với nhau, không câu nệ và phóng khoáng coi những người cùng hoàn cảnh là anh em, coi vùng đất Nam bộ là quê hương mới. Tất cả coi nhau như anh em và chính thái độ này đã tạo ra phong cách đặc trưng của vùng đất này: thực thà, học hỏi lẫn nhau, phóng khoáng, thực dụng và không câu nệ.
Một văn hóa mới đã được sinh ra dựa trên quan niệm và giá trị là mọi người đều bình đẳng không phân biệt với chí khí giúp kẻ cô thế, chống bất công và tinh thần hảo hán anh hùng "trọng nghĩa khinh tài", không sợ, tiên phong tìm hay thử những cái mới, cái hay có thể áp dụng được làm tăng giá trị hay có lợi trong cuộc sống. Văn hóa Nam bộ đã có những đóng góp to lớn từ người Minh Hương trong nhiều lãnh vực, đúng hơn là con người nam bộ một phần là con người Minh hương.
Trong lãnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội và chính trị, họ đã có những đóng góp lớn lao và hòa hợp như mọi công dân Việt Nam. Tùy theo từng thời kỳ của lịch sử, sự đóng góp tài năng có lên xuống là do thái độ và chính sách của chính quyền. Đã có những thời kỳ họ bị nghi kỵ và đối xử không công bằng như những đối tượng ngoại vi của cộng đồng dân Việt. Những chính sách sai lầm này là những kinh nghiệm quý báu mà chúng ta nên suy ngẫm và học hỏi.

Tham khảo

(1)           Vương Hồng Sển, Saigon năm xưa, Nxb Trẻ, 2002.
(2)           Vương Hồng Sển, Hơn nữa đời hư, Nxb Trẻ, 2003.
(3)           Cao Văn Lương,  "Vài nét về giai cấp tư sản mại bản ở miền Nam dưới chế độ thực dân mới của Mỹ", Nghiên cứu lịch sử, số 2, tháng 3 và 4, 1976
(4)           Phan An, Trần Đại Tân, Lưu Kim Hoa, Lê Quốc Lâm, "Gáp phần tìm hiểu văn hóa người Hoa ở Nam bộ", Hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thành phố Hồ Chí Minh, Nxb Văn hóa-thông tin, 2006.
(5)           Trần Hồng Liên, "Văn hóa người Hoa ở Nam bộ", Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, 2005.
(6)           Nguyễn Cẩm Thúy, Định cư của người Hoa trên đất Nam bộ (từ thế kỷ 17 đến năm 1945), Nxb Khoa học Xã hội, Hà nội, 2000.
(7)           Trần Khánh, Vai trò của người Hoa trong nền kinh tế các nước Đông Nam Á, Viện Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1992.
(8)           Tsai Maw Kuey, Người Hoa ở miền Nam Việt Nam, Thư viện quốc gia, Paris, 1968.
(9)           Trịnh Hoài Đức, Nguyễn Xuân Khoang - Phong tục Nam bộ xưa, tục thờ cúng thần thành hoàng tại làng thôn bắc bộ, Nxb Trẻ 1996.
(10)       Nguyễn Đức Hiệp, Thăm mộ Trần Thượng Xuyên, http://213.251.176.152:8080/diendan/BanDocVaZD/thu-ban-111oc-15-1.2007/
(11)       Dương Đức Dũng, Những gương mặt tỷ phú Saigon trước năm 1975, Nxb Trẻ
(12)       Nguyễn Thị Thanh Xuân, Nguyễn Khuê - Trần Khuê, SàiGòn Gia Định qua thơ văn xưa, Nhà Xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh, 1987.
(13)       Huỳnh Minh, Gia Định xưa, Nxb Văn Hóa-Thông Tin, 2007.
(14)       Phạm Quỳnh, Một tháng ở Nam Kỳ, http://vannghesongcuulong.org/vietnamese/tulieu_tacpham.asp?TPID=2346&LOAIID=17&TGID=567
(15)       Lại Nguyên Ân, Một cuộc thảo luận về sách giáo khoa tiếng Việt trên báo chí Sài Gòn 1929-1930, Talawas 2006, http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=8049&rb=06
(16)       Nguyễn Thị Hậu, Đi tìm quá khứ Sài Gòn, Xóm Lò Gốm xưa, www.vannghesongcuulong.org/vietnamese/tulieu_tacpham.asp?TPID=5238&LOAIID=18&LOAIREF=5&TGID=1046.
(17)       Hứa Hoành, Những phú hộ lừng danh Nam Kỳ: Trương Văn Bền: nhà kỹ nghệ không bằng cấp kỹ sư, http://vnthuquan.net/truyen/truyen.aspx?tid=2qtqv3m3237n4nnntn1n31n343tq83a3q3m3237nnn0n
(18)       Li Tana, P. Van Dyke, Canton, Cancao and Cochinchina: New data and new light on eighteenth-century Canton and the Nanyang, Chinese Southern Diaspora Studies, Vol.1, 2007, p.10-28.
(19)       Bình Nguyên Lộc, Lột trần Việt ngữ, http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=9922&rb=08
(20)       Vương Trí Nhàn, Ảnh hưởng văn hoá Trung Hoa trong sự hình thành tiểu thuyết Việt Nam trước 1930 http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=8433&rb=0102

Nguồn: tác giả
http://www.vanhoahoc.edu.vn/nghien-cuu/van-hoa-viet-nam/van-hoa-nam-bo/344-nguyen-duc-hiep-ve-lich-su-nguoi-minh-huong-va-nguoi-hoa-o-nam-bo.html

Thứ Sáu, 2 tháng 10, 2015

Tùy bút Võ Phiến: Rụp rụp (Tưởng Năng Tiến giới thiệu)

Dẫn: Tôi đang muốn viết về Võ Phiến, thì đọc được bài này.

Đọc, và vừa đọc vừa xuýt xoa, y như vừa ăn được một món gì rất ngon, nước miếng ứa đến tận chân răng. Vì ông viết hay quá!

Sao mà hay? Well, tôi mà tả ra thì chi bằng giết luôn bài văn của ông đi còn hơn. Một bài như thế thì cách tốt nhất để "hưởng thụ" nó là, well, đọc nó.

Vâng, đọc đi các bạn. Mà này, đọc chầm chậm thôi nhé. Cứ nhẩn nha từng câu, từng chữ, để cái hay, cái tinh tế, cái ý nhị của tác giả thấm dần vào đầu lưỡi, chân răng, cho nước miếng túa ra, cho nước mắt nước mũi ràn rụa vì cay tê, để xuýt xoa ngon quá, ngon quá.


PS: Tôi vẫn sẽ viết về Võ Phiến. Dù chưa biết bao giờ. Vì không thể không viết, giống như người ăn một món gì ngon, không thể không quảng cáo cho người khác.
-----------------------

Tùy Bút Võ Phiến – Rụp Rụp

Tưởng Năng Tiến, viết từ California
2015-09-30

Nhà văn Võ Phiến (1925 - 2015)
Nhà văn Võ Phiến (1925 - 2015)
File photo

L.T.Đ: Từ California, nhà văn Phạm Xuân Đài vừa cho biết một tin buồn:
“ Võ Phiến đã qua đời vào lúc 7 giờ tối ngày 28 tháng Chín, 2015, tại Advanced Rehab Center of Tustin, Santa Ana, thọ 90 tuổi...

Nhà văn Võ Phiến là một tác giả quan trọng của văn học Việt Nam từ thời Đệ Nhất Cộng Hòa. Trước 1975 ông là công chức thuộc bộ Thông Tin của Miền Nam, và đã cộng tác với tạp chí Bách Khoa cho đến 1975 với bút danh Tràng Thiên (một bút danh chung cho nhiều tác giả, nhưng từ sau 1965 hầu như chỉ dành cho một mình ông). Ông sang Hoa Kỳ từ 1975 và làm việc cho tòa Hành Chánh quận Los Angeles, California cho đến ngày về hưu. Tại hải ngoại, ông vẫn tiếp tục viết sách và cộng tác với các tạp chí văn học. Từ cuối thập niên 1970 ông đã chủ trương tờ Văn Học Nghệ Thuật, là tiền thân của tạp chí Văn Học sau này.

Võ Phiến là một tác giả đa dạng. Ông viết truyện ngắn, truyện dài, tạp luận, tùy bút, lý luận và phê bình văn học. Các tác phẩm đã xuất bản của ông gồm có, về truyện ngắn và tiểu thuyết: Chữ Tình, Người Tù, Mưa Đêm Cuối Năm, Về Một Xóm Quê, Đêm Xuân Trăng Sáng, Giã Từ, Thương Hoài Ngàn Năm, Thư Nhà...; về tùy bút, tạp bút: Tạp bút I, II, III, Đàn Ông, Ảo Ảnh, Phù Thế, Chúng Ta Qua Cách Viết, Đất Nước Quê Hương, Tùy bút I, II, Đàm Thoại v.v... Tại hải ngoại, ông đã bỏ công sức trong nhiều năm trời để soạn bộ Văn Học Miền Nam Tổng Quan nhằm lưu giữ nền văn học miền Nam đã bị Cộng Sản thiêu hủy từ sau 1975.”

Để tưởng niệm một vì sao vừa khuất, chúng tôi xin trân trọng giới thiệu một tuỳ bút tiêu biểu của ông. Bài viết này được trích từ tập Đất Nước Quê Hương, do nhà Lửa Thiêng xuất bản lần vào năm 1973.

Tưởng Năng Tiến
------------------
Ông Bình Nguyên Lộc quả quyết rằng trong một bàn ăn mười ba người, gồm mười hai người Việt và một người Hoa, đồng vóc dáng, đồng trang phục, ngồi im không nói, ông cũng phân biệt được kẻ Việt người Hoa.

Như vậy đã là tài, nhưng ông còn đi xa hơn: có thể nhìn hình dáng mà phân biệt được người Tàu Phúc Kiến với người Tàu Quảng Ðông, người Tàu tỉnh này với người Tàu tỉnh khác.(1)

Cũng trong quán ăn, trong khi chờ đợi tô hủ tiếu, tôi có dăm ba lần theo dõi cử chỉ của người làm bếp, và chợt lấy làm ngạc nhiên về một nhận xét. Không phải ngạc nhiên về chuyện suy tưởng nhân chủng ưa liên quan với các tiệm ăn quán nhậu. Mà là vì tôi có cảm tưởng đôi khi có thể nhìn mà phân biệt một người Việt miền Nam với một người Việt miền Trung, tức một đồng bào ở miền ông Bình Nguyên Lộc với một đồng bào ở miền tôi. Nói cách khác, tôi có cảm tưởng mình cũng... tài giỏi như ông Bình Nguyên Lộc: cái mới kỳ cục!

Một buổi trưa, tại Cần Thơ, trong ngôi quán ở đầu một ngõ hẻm gần bến xe Lam, lần đầu tiên tôi chú ý đến điệu bộ có vẻ ngộ nghĩnh của người chủ quán.

Ngôi quán khá chật và tối. Giữa trưa, trong quán vẫn có ngọn điện vàng cạch thả toòng teng trên đầu người chủ. Người này mặc mai-ô quần lính, đầu đội chiếc mũ địa phương quân rộng vành, chân mang đôi giày da đen, không vớ. Tại sao phải giày và mũ trong một chỗ kín như thế? Có thể chỉ là một thói quen, hay chỉ là một trường hợp ngẫu nhiên nào đó, tức một chi tiết không có ý nghĩa gì. Tuy vậy tôi vẫn ghi lại, vì hình ảnh ấy tưởng còn hiển hiện trước mắt tôi lúc này. Hình ảnh một người khỏe mạnh, nhanh nhẹn, và làm việc hào hứng.

Mỗi người có một cách biểu lộ sự hào hứng. Riêng cái cách của người chủ quán hôm ấy, trời ơi, trông mà mê. Hai tay ông ta thoăn thoắt: chặt khúc xương, xắt lát thịt, gắp mớ ớt, múc vá nước từ trong thùng đổ ra tô, xóc xóc mớ hủ tiếu vừa mới trụng qua nước sôi, rắc một tí tiêu bột v.v. Tất cả bấy nhiêu cử chỉ đều rập ràng, hơi có vẻ nhún nhẩy. Mỗi cái quơ tay, cái nhấc lên hạ xuống đều như có gì quá mức cần thiết một chút. Mỗi cử chỉ bao hàm bảy tám phần cần thiết, lại thêm vài ba phần thừa thãi, chỉ để cho đẹp mắt, để biểu diễn sự thích thú trong công việc. Ðộng tác nghề nghiệp gần chuyển thành sự múa men. Một điệu vũ ca ngợi lao động.

Ðứng bên chủ quán là bà vợ, tôi đã tưởng bà làm công việc chạy bàn. Nhưng không: Lúc một cậu bé gầy gầy cưỡi chiếc xe đạp vụt về trước cửa, xách vào cục nước đá, thì đã rõ đây mới là người chạy bàn chính thức; người đàn bà chỉ tạm thời thay thế cậu ta trong chốc lát.

Khi đã đủ một vợ một con bên mình, chủ quán điều động càng hào hứng:
- Bàn trong. Một nhỏ một lớn. Rồi! Bưng.
- Bàn ngoài, số một. Tô lớn, khô. Rồi! Bưng, bàn số một.
- Bàn số ba tính tiền. Tám chục với ba lăm là trăm mười lăm. Trăm mười lăm với tám đồng là trăm hăm ba. Trăm rưởi trừ trăm hăm ba, còn lại...

Bà vợ nhắc:
- Hăm bảy.
- Hăm bảy. Nè!

Ông ta đưa món tiền lẻ, cậu con mang ra cho khách. Rảnh tay, ông ta chặt một miếng cánh gà, nho nhỏ, quăng gọn vào mồm, nhai. Lại nhanh nhẹn chặt luôn miếng khác, trao cho vợ. Người đàn bà thụt né vào sau cánh cửa; ăn xong lại ló ra, sẵn sàng...
- Tô nước, tô khô. Bàn số hai. Rồi!

Cứ thế, chủ quán làm việc, cắt đặt công việc, điều khiển vợ con v.v., điệu bộ vẫn lại cứ như có gì thừa thãi một chút. Bảy tám phần cần thiết, đôi ba phần để bày tỏ sự hài lòng, để biểu diễn sự hoạt động ăn khớp của một tổ chức hoàn hảo, một bộ máy hợp khuôn rập, chạy đều ro ro.

Vừa rồi có lẽ đã có sự lạm dụng: hầu hết mỗi câu nói của người chủ quán đều có một tiếng “rồi”. Nếu tôi ghi nhớ sai, ấy là vì đã quá chú ý đến tiếng đó. Nhưng hay nhất, ngộ nhất lại là cái tiếng “rồi” tưởng tượng phát ra từ mỗi cử chỉ. Mỗi cử chỉ - ngắt cọng rau, xóc mớ hủ tiếu v.v. - đến chỗ sau cùng thường được gằn mạnh. Như thể một tiếng “rồi” phát ra bằng động tác thay vì bằng âm thanh: Một tiếng câm.

Dầu sao lần ấy tôi không có một đối tượng quan sát im lặng như ông Bình Nguyên Lộc; nhưng các lần sau này thì họ im lặng.

Sau buổi trưa ở Cần Thơ, về Sài Gòn những lần vào quán hủ tiếu, tôi sực nhớ hình ảnh nọ, và tò mò nhìn theo chủ quán: thỉnh thoảng lại gặp những điệu bộ ấy. Có khi ở một người đàn bà, có khi ở một người đàn ông đứng tuổi. Họ nhanh nhẹn, mau mắn; nhưng cái đặc biệt là, trong cử chỉ, họ như muốn nhấn mạnh vào tính cách toàn hảo của những hoạt động rập ràng mau mắn ấy.

Những người ấy họ có cung cách làm việc giống nhau. Cung cách ấy, gọi nó ra sao? Tôi tìm một chữ để diễn tả. Tôi loay hoay tìm kiếm... A! Ðây rồi: “Rụp rụp”! Họ làm việc “rụp rụp”.

Chữ nghĩa sao mà thần tình. Lại chính là một tiếng địa phương ra đời ở miền Nam này. Thế mới biết sự xuất hiện của một tiếng nói mới không bao giờ là chuyện ngẫu nhiên, không lý do. Phải có một thực tại mới, đòi hỏi được mô tả sát đúng. Phải có một sự cần thiết réo gọi nó, đích danh nó.

“Rụp rụp” là một đáp ứng tài tình cho một đòi hỏi như thế. Làm rụp rụp không phải chỉ là làm mau mắn, mà còn với một vẻ hứng chí trong sự mau mắn.

- Nhưng tại sao lại bảo đó là của miền Nam? Ðâu phải người nào trong Nam cũng làm việc rụp rụp?
- Tất nhiên đó không phải là tác phong của toàn thể. Cũng không thể nào biết được là tác phong của một tỉ lệ người Nam lớn nhỏ ra sao. Có điều tác phong ấy không gặp thấy ở các miền ngoài. Vả lại, còn có chuyện khác...

- Nào, xem chuyện khác có gì rõ rệt hơn chăng.

Trong một bài tục ca của Phạm Duy, có câu: “Người dân nhìn thoáng hết hồn luôn”, lại có câu: “Lệch đi thì chết, cấm sờ luôn”. Những tiếng “luôn” dùng kiểu đó không có trong ngôn ngữ các miền ngoài.

Cũng thế, ở ngoài Trung mỗi khi xe đò dừng lại dọc đường, hành khách lên xe xong, anh “ết” hô to cho tài xế nghe: “Chạy!”; ở trong Nam, anh ta hô: “Chạy luôn!”.

Tại sao lại luôn? Những tiếng “luôn” ấy không có nghĩa, nhưng dĩ nhiên không phải không có công dụng. Trái lại, công dụng đó thường khi khiến nó còn được xem trọng hơn những tiếng có nghĩa rõ rệt đứng trước nó. Chẳng hạn trong trường hợp “chạy luôn”: tiếng “chạy” hô phớt qua, tiếng “luôn” được gằn mạnh. Người ta nghe “Ch... luôn!”; có khi chỉ nghe có một tiếng “Luôn!”.

Không chừng đó cũng là trường hợp đã xảy đến cho tiếng “vô”. Mời nhau uống rượu, anh em hô: “Dô!” Có lẽ thoạt tiên là tiếng “nhậu vô”, “uống vô” chăng? Dần dần tiếng trước bị lướt phớt qua rồi bị bỏ rơi. Chỉ còn lại tiếng sau; từ một tiếng trợ từ, nó tiến lên nhận lấy cái nghĩa của các tiếng nhậu, uống.

Trong “chạy luôn”, nghĩa ở tiếng chạy; trong “hết hồn luôn”, nghĩa ở hết hồn; trong “nhậu vô”, nghĩa ở nhậu v.v. Còn tiếng “luôn”? Nó thêm vào một thái độ phát biểu, không thêm gì vào cái ý nghĩa đã phát biểu. Trong “chạy luôn” chẳng hạn, “luôn” là một tiếng kêu hơn là một tiếng nói: nó phát lên để tỏ thái độ thúc giục, nó không nói gì về cái nội dung của sự thúc giục ấy. Nó có công dụng về ngữ khí, chứ không phải về ngữ ý.

Như vậy trong cách nói này cái nội dung, cái cần thiết, đôi khi bị lướt qua; cái phụ, có phần thừa thãi, lại được nhấn mạnh.

Lại cái thừa thãi.

Trong cử chỉ, một chút gì thừa, vượt quá sự cần thiết; trong lời nói, cũng một chút gì thừa, vượt quá sự cần thiết. Cử chỉ và lời nói đều được phóng đại lên...

- Vẫn không có gì rõ rệt.
- Không rõ, về mặt nào?
- Một dấu hiệu để phân biệt bản sắc địa phương như vậy không mấy cụ thể.

- Thực ra ở đây vấn đề không phải là đi tìm một dấu hiệu phân biệt. Cái đó đâu cần tìm kiếm nữa? Ðã có sự khác nhau thật rõ ràng, thật cụ thể, ấy là cái chỉ số sọ của ông Bình Nguyên Lộc: cuộc di cư của nhóm Trần Thắng Tài, Dương Ngạn Ðịch làm cho đồng bào ta ở miền Nam có xương sọ hơi dài thêm.(2) Kẻ Nam người Bắc tha hồ yên lặng, ông Bình Nguyên Lộc đo đạc là biết ngay.

Vậy ở đây không có chuyện tìm một dấu hiệu phân biệt. Chẳng qua là chộp bắt một nét cá tính phản ảnh trong phong cách, ngôn ngữ. Và hình như sự phản ảnh không dừng lại ở vài tiếng trợ từ, ở mấy điệu bộ. Hình như trên sân khấu cải lương, một bộ môn nghệ thuật của miền Nam, chúng ta có cảm tưởng nhận thấy cá tính ấy xuất lộ ở phong cách diễn xuất...

- Cảm tưởng? Không có gì rõ rệt.
- Quả nhiên.

Võ Phiến

Thứ Tư, 30 tháng 9, 2015

Tình yêu: Giải pháp cứu vãn nền giáo dục của Việt Nam?

(Bài gửi đăng Tập san Giáo huấn xã hội Công giáo)
----------------


Tình yêu: Giải pháp cứu vãn nền giáo dục của Việt Nam?

Giáo dục Việt Nam đã xuống cấp quá sức trầm trọng. Chúng ta đã tụt hậu rất nhiều, không chỉ khi so với các nước trên thế giới và trong khu vực, mà còn cả khi so với chính chúng ta nữa.

Những phát biểu rất đụng chạm này lẽ ra phải làm cho người nghe Việt Nam cảm thấy tự ái và đòi được chứng minh, nhưng hình như cho đến nay thì điều này đã quá rõ đến độ không ai thèm cần chứng cứ nữa. Chỉ cần gõ “giáo dục Việt Nam xuống cấp” vào google thì ta sẽ có ngay hằng hà sa số những bài viết để chứng minh sự xuống cấp của nền giáo dục Việt Nam. 

Chất lượng thấp của nền giáo dục không chỉ được biểu hiện bằng chất lượng thấp của nhân lực (ngày càng có nhiều sinh viên tốt nghiệp nhưng không tìm được việc làm; nền sản xuất èo uột, không có bất kỳ phát minh sáng chế nào để phục vụ cho cuộc sống …) mà còn thể hiện qua đạo đức cá nhân và xã hội (học sinh xích mích với nhau là sẵn sàng rút dao đâm bạn; thầy giáo lạm dụng tình dục học trò vị thành niên; thi cử gian lận, mua bằng bán điểm; cả làng xông vào đánh chết người trộm chó mà không cần có sự can thiệp của pháp luật, vv …). Càng nói ra, có lẽ chỉ càng đau lòng mà thôi.

Có giải pháp nào cho nền giáo dục của Việt Nam không? Đã có rất nhiều đề xuất cũng như nỗ lực cải tổ về mặt kỹ thuật của giáo dục. Cấu trúc lại chương trình đào tạo đại học. Phân tầng và xếp hạng các trường. Chuẩn hóa năng lực thầy/cô giáo qua những đòi hỏi về bằng cấp, chứng chỉ. Soạn lại sách giáo khoa. Nhập các các chương trình tiên tiến của nước ngoài. Cải cách thi cử. Trao thêm quyền tự chủ cho các trường. Chấp nhận một chương trình, nhiều bộ sách giáo khoa…. Nhưng có vẻ như hầu hết mọi nỗ lực đổ ra đều bỏ sông bỏ bể, nếu không muốn nói chỉ là chữa “lợn lành thành lợn què” mà thôi. 

Đặt thực trạng của nền giáo dục Việt Nam vào bối cảnh kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước ngày nay, người ta dễ có cảm giác tuyệt vọng, buông xuôi. Vâng, một cá nhân như tôi, một người ở đã phục vụ trong ngành giáo hết cả cuộc đời làm việc của mình, liệu tôi có thể làm gì đây? 

Khuyên sinh viên đừng quay cóp, đừng mua bằng mua điểm, mà hãy học để cho chính mình ư? Tôi hoàn toàn có thể nghiêm khắc với sinh viên của một khóa, nhưng điều đó chỉ làm cho các sinh viên đánh giá tôi thấp trong phiếu đánh giá giảng viên ở cuối học kỳ, và sinh viên các khóa sau sẽ tránh không học với tôi nữa. Thậm chí tôi còn có thể bị mất việc. 

Đóng góp ý kiến với cấp trên ư? Lâu nay tôi vẫn cố gắng làm điều ấy. Nhưng đa số những lời góp ý của tôi – và của những người có thiện tâm khác trong cùng cơ quan – đều rơi vào không trung và tan biến. Fall on deaf ears (rơi vào những cái tai điếc), như  trong tiếng Anh người ta thường nói. Chưa kể, ai cũng biết rằng con đường thăng tiến trong nghề nghiệp của tôi khá lận đận là do tôi không biết “giữ mồm giữ miệng”, cứ công khai chỉ ra những điều trái tai gai mắt mà chẳng ai muốn nghe. Bởi, “làm láo báo cáo tốt” để rồi nhận được những huân chương, khen thưởng, thăng chức từ cấp trên dường như đã trở thành căn tính mới của ngành giáo dục Việt Nam từ lâu nay rồi thì phải.

Vậy rồi sao? Tất cả chúng ta sẽ cùng chấp nhận bó tay nhìn cho nền giáo dục của Việt Nam tiếp tục tuột dốc cho xuống tận đáy, đến độ không còn ai tin vào nó, kể cả những người làm trong ngành giáo dục như tôi ư? Chúng ta sẽ khoanh tay ngồi yên để nhìn tiếp tục nhìn làn sóng tị nạn giáo dục diễn ra với quy mô ngày càng lớn hơn, đến độ ai có nhiều tiền thì cho con em đi học ở các nước phát triển cao như Anh, Mỹ, châu Âu, ai ít tiền hơn thì cho con sang những nước thường thường bậc trung như Mã Lai, Thái Lan, Indo, Philippines, Trung Quốc? 

Còn chúng ta, những người có niềm tin Công giáo? Những người tự nhận là con Thiên Chúa, những người được Chúa dạy phải làm “muối của đời” và “ánh sáng của thế gian”? Chúng ta cũng sẽ ngồi yên, không làm gì cả, và đổ lỗi tất cả cho hoàn cảnh chứ? Vì chúng ta không có quyền hành, không có chức vụ, không có điều kiện, nên chúng ta không cần phải làm gì hết, vì đó không phải là trách nhiệm của chúng ta?

Không, không thể như thế. Niềm tin vào Thiên Chúa buộc chúng ta phải làm một điều gì đó. Nhưng làm gì đây? Tôi nghĩ, đầu tiên chúng ta cần phải hiểu rõ ý nghĩa căn bản của từ “giáo dục”. Tốt nhất, hãy cùng định nghĩa giáo dục là gì, rồi từ đó mới biết chúng ta có thể làm gì. 

Từ điển bách khoa trực tuyến mở Wikipedia đưa ra định nghĩa về giáo dục như sau:

Giáo dục là quá trình tạo ra việc học. Kiến thức, kỹ năng, giá trị, niềm tin, thói quen của một nhóm người được truyền sang cho những người khác, thông qua việc kể truyện, trao đổi, giảng dạy, huấn luyện, hoặc nghiên cứu. Giáo dục thường diễn ra dưới sự hướng dẫn của các nhà giáo, nhưng người học cũng có thể tự giáo dục chính mình thông qua một quá trình gọi là học tập tự thân. Bất kỳ một trải nghiệm nào tạo ra được một hiệu ứng hình thành nên cách suy nghĩ, cảm nhận, hoặc hành động của chúng ta đều có thể được xem là có tính giáo dục.[1]

Đọc lại định nghĩa về giáo dục nêu trên – dù thực ra rất quen thuộc và không có gì là mới mẻ – bỗng làm cho tôi bừng tỉnh. Giáo dục không phải chỉ là việc của nhà trường, cũng chẳng phải là chỉ việc của các  nhà giáo. Giáo dục không chỉ nhằm dạy kiến thức và kỹ năng, mà còn  – và có lẽ quan trọng hơn nhiều trong sự xuống cấp giáo dục và đạo đức của xã hội Việt Nam hiện nay – nhằm tạo ra những giá trị, niềm tin, và thói quen cho thế hệ sau. Giáo dục cũng không chỉ có thể diễn ra dưới dạng bài giảng, seminar, bài nghiên cứu, thi cử, mà mọi trải nghiệm của con người đều có tính giáo dục, miễn là nó tác động đến việc hình thành nhân cách của một người – đặc biệt là những người trẻ, lứa tuổi rất dễ bị tác động bởi ngoại cảnh.

Nói về các trải nghiệm, kể cả những trải nghiệm rất nhỏ, tôi muốn kể một việc này. Có một buổi tôi đưa một người bạn không phải là người Công giáo nhưng có quan tâm tìm hiểu đạo Thiên Chúa đi xem lễ ở nhà thờ Đức Mẹ Vô Nhiễm trên đường Hoàng Hoa Thám, Quận Bình Thạnh. Khi xong lễ, chúng tôi bước ra ngoài sân nhà thờ thì thấy xe của người đi xem lễ được gửi đầy sân đến nỗi không có chỗ mà đi. Bạn tôi lo lắng, vì đinh ninh rằng việc lấy xe sẽ rất hỗn loạn và mất nhiều thời gian cùng sự căng thẳng không đáng có. Nhưng không, không hề có cảnh chen lấn, mà ngược lại là một sự nhường nhịn và kiên nhẫn khó thấy ở những nơi công cộng của Việt Nam. Những người có xe để ở vị trí thuận tiện nhất thì ra lấy trước, và sau đó là những người khác, tuần tự theo vị trí thuận tiện để lấy xe. Chỉ vài phút là sân nhà thờ đông nghẹt đã trống hẳn, mà không hề có sự la ó, chửi mắng, dành giựt thường thấy ở Việt Nam. 

Nhìn cảnh lấy xe trong trật tự và nhường nhịn, người bạn tôi thốt lên: “Đúng là cách ứng xử của những người có giáo dục, có nhân cách. Chỉ cần các trường giáo dục cho các em biết cách nhường nhịn tương tự như vậy, thì xã hội Việt Nam có lẽ đã bớt hẳn bạo lực đi rồi.”

Nghe câu nói ấy, tôi vừa hãnh diện mà vừa cảm thấy xấu hổ. Tôi, một người Công giáo, là “ánh sáng của thế gian”, tôi đã nỗ lực hết cỡ chưa, hay chỉ biết tuyệt vọng, than van? 

Tôi muốn kết thúc bài này bằng một câu trích dẫn từ O. Henry, người đã từng viết, “If one loves one’s art, no service seems too hard.” Chỉ xin đổi lại một từ: Sẽ không có điều gì là quá NHỎ, nếu chúng ta thực hiện nó với một tình yêu.  

Vâng, tình yêu của Chúa.



[1] Education is the process of facilitating learning. Knowledge, skills, values, beliefs, and habits of a group of people are transferred to other people, through storytelling, discussion, teaching, training, or research. Education frequently takes place under the guidance of educators, but learners may also educate themselves in a process called autodidactic learning.[1] Any experience that has a formative effect on the way one thinks, feels, or acts may be considered educational.

Thứ Hai, 14 tháng 9, 2015

Đi xa về, tha hồ nói khoác .... (1): Chợ chồm hổm ở Houston, TX

Tôi mới đi xa về. Xa đến nửa vòng trái đất, như người ta thường nói.

Vì đi xa, nhìn thấy nhiều điều lạ, nên tất nhiên là có quá nhiều điều muốn nói. Nhưng cũng có quá ít thời gian, vì khi đi xa thì việc ở nhà chồng chất lên, giờ phải dọn dẹp đống nợ nần đó. Chưa kể, khi đi thì gạt hết mọi việc qua một bên, dồn mọi thời gian cho việc đi, nhìn, nghĩ, và ... muốn viết. Nhưng giờ về rồi thì phải trở lại nhịp điệu của cuộc sống cũ, mà cuộc sống ấy thì ai cũng biết rồi, nó ngốn hết mọi thời gian của ta đến nỗi gần như không thở nổi.

Thế này thì viết cái nỗi gì cơ chứ? Nhưng quả là có nhiều điều cần phải viết ra, nếu không thì quên rất uổng. May quá, những gì tôi định viết thì lại cũng có người viết rồi. Không hoàn toàn giống như tôi thấy và nghĩ, nhưng về đại thể thì cũng tương tự. Nên tôi sẽ đăng lại những bài  viết của người khác và thêm phần bình loạn của tôi, nếu có. Không phải là giải pháp tối ưu, nhưng có còn hơn không (có còn hơn không ... Người từ trăm năm ...).

Vậy thì đây, bài 1: Chợ chồm hổm ở Houston, Texas.

Thêm 1: Tôi không đến Houston trong chuyến đi này, nhưng biết đó là "thủ đô" của người Việt ở Texas, cũng giống như Orange County là thủ đô của người Việt ở Cali. Sẽ quay lại chủ đề này sau vậy.

Thêm 2: Kinh nghiệm bán hàng chồm hổm ở Houston cũng giống y chang kinh nghiệm mà tôi có hồi ở Canberra (thủ đô nước Úc), từ thập niên 1990. Tuy nhiên người bán hàng ở các chợ trời (chợ chồm hổm) ở Canberra không phải là người Việt (hoặc nếu có thì rất ít) mà toàn là người nhập cư khác như Ý, như Nam Tư, vân vân.

Nào, giờ thì mời các bạn enjoy nhé!
-------------------
Nguồn: https://www.facebook.com/groups/1399481216981167/permalink/1620851191510834/

Quê hương có ai không nhớ ?" - ĐTQ

Chợ ” chồm hổm ” ở Houston, Texas, Mỹ


Nói đúng ra thì chợ Việt ở Mỹ rất nhiều, từ các cửa hàng nhỏ đến những siêu thị lớn bán đủ loại đặc sản Việt Nam. Nhưng một cái chợ chồm hỗm ngay lề đường bán mớ rau, con cá có lẽ là điều rất hiếm. Vậy mà có một cái chợ chồm hổm của người Việt đã tồn tại ở đất Mỹ hơn chục năm qua – đó là ngôi chợ nằm trên đường Old Foltin Rd giữa hai bên nhà thờ Giáo xứ Đức Mẹ La Vang ở Houston, Texas.











 Thật ra theo lẽ thường ở Mỹ không được họp chợ ven đường như thế này. Nhưng sau khi tiếp nhận đề nghị của cộng đồng người Việt ở Houston, may mắn là chính quyền Houston đã đồng ý để chợ tồn tại – như một cách tôn trọng quyền tự do sinh hoạt và văn hoá đặc trưng của người Việt Nam.

6g30 sáng, chiếc Acura bóng lộn đời mới đỗ xịch ven đường. Một ông già từ trong xe khệ nệ bưng thùng giấy đựng mấy bó rau bỏ xuống. Cạnh đó mấy bà già cũng tất bật lôi từ xe hơi của mình những trái mướp, quả bầu, mớ chanh, ớt, đậu bắp… để bày biện. Đó là những hình ảnh thường thấy để bắt đầu một ngày sinh hoạt ở chợ chồm hổm.














Xứ Mỹ văn minh hiện đại thế nào không biết, nhưng cứ đến đây mọi người như được trở về với cái “chợ lề đường” quen thuộc ở Việt Nam. Vẫn những cái ghế đòn nhỏ, những tiếng lao xao kỳ kèo trả giá của người mua, người bán… Ngay cả nón lá, khăn mỏ quạ, áo bà ba – những thứ giờ đã hiếm ở thị thành Việt Nam cũng hiện diện đầy đủ ở chợ chồm hổm. Toàn người Việt mua bán với nhau. Đủ thứ ngôn ngữ các vùng miền Nam Trung Bắc. Mà hình như người ta đi chợ để mua bán thì ít, mà mục đích chính là để gặp gỡ, để được nói chuyện bằng tiếng Việt cho thỏa thích mới là nhiều.

 

Hầu hết hàng ở chợ đều là rau quả cây nhà lá vườn do các Mẹ, các Chị tự trồng rồi mang ra chợ bán, và là những loại đặc sản bình dị Việt Nam như bầu, bí, mướp, khổ qua, rau muống, rau lang, rau đay, dấp cá… So với giá siêu thị thì giá rau ở đây rẻ hơn khá nhiều. Nếu như bó rau ở siêu thị gần 2 usd/ bó thì ở đây chỉ tầm 1usd/bó. Có khi mua 10 bó tặng 1, hoặc cũng có khi nếu gặp người quen thì sẽ theo kiểu vừa bán vừa cho. Vì là rau nhà trồng nên tất cả đều non và xanh mượt, hơn hẳn rau siêu thị nhiều lúc vừa cũ vừa già.

Ngôi chợ đặc biệt này chỉ mở đúng vào ngày Chủ Nhật, mà mỗi lần mở cũng chỉ độ vài ba tiếng trong buổi sáng mà thôi. Với đa phần người bán ở đây ngoài chuyện kiếm thêm chút đồng ra đồng vào thì mỗi lần họp chợ chủ yếu cũng để giúp những người lớn tuổi cảm thấy được nhẹ lòng.
 
Và chính vì không đặt nặng chuyện lời lỗ nên cách họ buôn bán cũng tài tử lắm. Ví dụ như ông này bữa nào kẹt về sớm thì gửi hết mớ rau sang nhờ bà kia bán hộ. Bà bán bánh thỉnh thoảng lại mang bánh ra mời “đối thủ cạnh tranh” của mình. Riêng trường hợp của bà bán hẹ mới là độc đáo. Mỗi sáng họp chợ bà cũng bày biện hàng hóa đầy đủ y như người ta. Xong xuôi… bà bỏ đi nhà thờ. Bởi vì canh hàng cho bà bây giờ đã có con chó Chihuahua cổ đeo cái bảng nhỏ: “Hẹ 2 bó 1 đồng”. Bà còn cẩn thận đặt thêm tấm bảng ” Hẹ rất tốt cho cơ thể. Xin mua dùm. Xin bỏ tiền vào hộp “. Người mua cứ việc lấy bao nhiêu bó, rồi tự động bỏ tiền vào cái lon nhỏ để cạnh. Vậy mà chẳng khi nào mất.
Đó còn là cái chợ mà bà già 78 tuổi lụm cụm thối tiền cho khách, lẫn lộn lung tung. Thế là khách phải ngồi xuống tính tiền, thậm chí bán hàng giùm bà già luôn.
 












Thế đó ! Họ bán họ mua vừa như thật, vừa như chơi. Nhưng cái THẬT nhất là chính từ những phiên chợ quê thế này xoa dịu cho họ biết bao nỗi nhớ quê nhà vời vợi …



vomedia.ca (sbtn-ca)

Thứ Bảy, 8 tháng 8, 2015

Ngỡ trái ngâu vàng trước cửa vuông ...

Câu thơ tôi dùng làm tựa entry này chẳng hiểu tôi đã đọc từ đâu, chỉ biết là nó nằm sẵn trong trí nhớ của tôi, gắn chặt với những ký ức nhẹ nhàng thoảng chút hương thơm dìu dịu. Như chính mùi hương tỏa ra từ những hạt ngâu vàng nho nhỏ, xinh xinh ấy, mà từ bé tôi đã rất thích.

Sân nhà tôi hiện giờ cũng có một cây ngâu. Cái cây ngâu nho nhỏ mà ông xã tôi mua về trồng cách đây vài tháng ấy, giờ đã ra hoa đến đợt thứ hai. Cứ mỗi lần bước ra sân, tôi lại ngập trong mùi hương dịu dàng ấy, và ký ức cứ thế ùa về.

Tôi vẫn nhớ lần đầu nhìn thấy cây ngâu cổ thụ đang mùa, bông nở vàng tỏa hương ngào ngạt khắp vườn nhà của cô bạn cùng lớp thời tiểu học của tôi. Thậm chí tôi còn nhớ rõ ngôi nhà ấy, dù từ ấy đến nay đã gần nửa thế kỷ rồi, một căn biệt thự nhỏ với một khoảng sân be bé nằm trong một con hẻm đường Lê Văn Duyệt (nay là đường CMT8), thuộc xứ Thái Hòa.

Hôm ấy cũng vào mùa mưa như bây giờ, trời không mưa nhưng bầu trời không có nắng, căn nhà toát ra một vẻ gì cổ xưa,  với chiếc cửa sổ hình tròn từ căn phòng nhô ra theo hình chữ L nhìn ra vườn ngay chỗ cây ngâu. Căn phòng ấy bạn tôi bảo là gian của bà nội bạn ấy, có một vẻ thâm nghiêm, cũ kỹ làm tôi sờ sợ. Bọn tôi không đi vào nhà mà ở ngoài sân nói chuyện với nhau dưới gốc cây ngâu cổ thụ xanh um điểm vàng lấm tấm ấy, và chỉ thế thôi, mà hình ảnh cây ngâu vàng với mùi hương ngọt ngào ấy đã kịp tạo ra một ấn tượng tuyệt vời hằn sâu trong ký ức của tôi.



Và quên đi. Hồi tôi học ở tiểu học, có một thời gian gia đình tôi không có chỗ ở ổn định mà phải thuê nhà, ở những nơi khá chật chội, nên việc có một khoảnh đất trồng cây đối với tôi là điều không bao giờ có thể mơ tưởng được. Thế rồi số phận run rủi, chẳng biết sao đến khi tôi học trung học đệ nhất cấp (bây giờ là trung học cơ sở, trước nữa người ta gọi là cấp 2) thì bố mẹ tôi chuyển nhà đến ngay đối diện con hẻm của nhà cô bạn thời tiểu học của tôi. Căn nhà lầu đúc 2 tầng ở mặt đường lớn, dù không có đất để trồng cây nhưng khá rộng rãi, thoáng mát, và đặc biệt là có một ban công dài có thể đặt các chậu trồng cây. Chúng tôi chuyển đến căn nhà ấy vào khoảng giữa năm 73, vào lúc chiến tranh VN ở vào giai đoạn cuối …. 

Rồi thì những mẩu ký ức nhòe nhoẹt quanh sự kiện 30/4, và sau đó là bố tôi không còn đi làm dù chỉ mới ngoài 40. Lý do chinh thức là vì sức khỏe, và điều này không phải là không đúng, nhưng tôi nghĩ một phần (và là phần lớn) nguyên nhân của việc bố tôi nghỉ việc là vì ông không cảm thấy có thể hòa nhập vào hệ thống mới. Điều này lúc ấy tôi không hiểu, mà phải mãi đến sau này, khi tôi có gia đình và trải qua nhiều thăng trầm của cuộc đời, tôi mới có thể hiểu được.

Bố tôi, một người đàn ông vừa mới ngoài 40, trong độ tuổi vừa chin, đang ở đỉnh cao của sự nghiệp,  là trụ cột của giai đình, thì mọi sự dưng bỗng đảo lộn: mẹ tôi, và phụ với mẹ là chính tôi, lúc ấy vẫn còn là một đứa trẻ con, trở thành những người gánh vác gia đình về kinh tế, còn bố tôi thì quanh quẩn ở nhà nội trợ, đọc sách, và quanh quẩn trồng cây.

Trên chiếc sân thượng mà trước đây bố tôi mua những cây cảnh để chưng cho đẹp (tôi vẫn nhớ hai chậu cây kiểng với hình con nai rất đẹp mà sau năm 75 chẳng hiểu sao cũng bị héo tàn) giờ được trồng linh tinh những cây thuốc nam – trồng theo phong trào được nhà nước khuyến khích, vì lúc ấy VN rơi vào tình trạng bị cô lập, thiếu thốn dược phẩm, bệnh tật chẳng có thuốc men gì. Nào xuyên tâm liên thay cho thuốc kháng sinh, nào húng chanh để trị ho, rồi cái gì mà “rễ tranh, rau má, cỏ mần chầu …”. Bố tôi còn đặt ra cả một bài thơ về công dụng của các cây thuốc nam nữa cơ, nhưng đã lâu qua nên tôi quên mất rồi. 

Giờ đây nhớ lại, tôi nghĩ lúc ấy chắc bố tôi buồn lắm. Vợ con đầu tắt mặt tối đi làm, đi học, đi lao động “xã hội chủ nghĩa” (đào kênh – kênh Nhiêu Lộc trong xanh ngày nay, hồi ấy đã có nhiều mồ hôi của tôi đổ xuống), thì bố tôi lại chỉ quanh quẩn ở nhà – ừ thì cũng có bạn bè, những người hoàn cảnh cũng không khá hơn gì bố tôi là mấy, rồi thì họ hàng, tổ dân phố, và cả nhà dòng nữa (bố tôi vào dòng ba Phan Sinh, và tìm thấy ở đó một nguồn an ủi thực sự, tôi tin như vậy). Nhưng bạn bè đích thực của ông là mảnh “vườn” trên ban công. Ông trồng đủ thứ, hết rau thơm lại đến thuốc nam, cứ rộ lên phong trào gì ông lại trồng thứ đó, có một dạo đầy sâm đại hành, rồi sau đó chán, lại nhổ bỏ, trồng thứ khác.

Và rồi, đến một lúc nào đó tôi chẳng rõ, chính trên ban công nhà tôi xuất hiện một cây ngâu. Hình như đời sống đã dễ thở hơn một chút, người dân dược tự do buôn bán (trước đó, tiểu thương bị xem là chân rết của bọn tư sản mại bản, phá hoại chính sách nhà nước …). Tôi đã lập gia đình, chỉ thỉnh thoảng mới về nhà thăm cha mẹ. Trên thị trường, hàng hóa đã dồi dào hơn, thuốc men cũng đã có, không còn cảnh mọi người dân đi khám bệnh ở các trạm y tế đều được xuyên tâm liên trị bá bệnh…. Sân thượng, mảnh vườn của bố tôi, cũng không còn các loại rau thuốc nam, mà đã lại xuất hiện các cây cảnh. Tôi nhớ có một cây bông lài, hình như có cả lan đất, nhưng tôi nhớ nhất là cây ngâu.

Được trồng từ một cây giống nhỏ chỉ khoảng  hơn nửa mét, đến lúc tôi để ý đến nó thì cây ngâu mà bố tôi trồng trong lu nước trên sân thượng đã cao cao lớn, cành lá xum xuê. Cứ đến mùa mưa là hoa ngâu lại nở đầy, nếu không kịp hái thì những hạt ngâu vàng vàng nho nhỏ như hạt cườm lại rụng đầy mặt đất, rất đẹp. 

Nhưng tất nhiên là bố tôi không  bao giờ để phí phạm thế. Vì hoa ngâu có thể dùng để ướp trà, mặc dù như một loại trà ướp hương thì trà ngâu không ngọt ngào và phổ biến như trà lài, không sang trọng như trà sen, không nồng nàn như trà sói, không thanh tao như trà cúc, nhưng nó có một nét rất riêng, nhuần nhụy và ấm áp. Và vì vậy, cứ mỗi lần hoa ngâu nở nhiều là bố tôi lại lui cui đi hái bỏ vào một cái chén, để khi mẹ tôi đi bán hàng về sẽ đưa cho mẹ tôi.

Tôi cũng nhớ rất rõ cảnh mẹ tôi hí hửng bưng chén ngâu đầy mà bố tôi để dành cho mẹ tôi (những lúc hoa nở rộ và hái khéo léo) đưa lên ngửi, thở một hơi dài khoan khoái, và sau đó lụi hụi bỏ vào một chiếc hộp thiếc và trộn vào đấy một ít trà mộc mà nhà tôi lúc nào cũng có sẵn vì mẹ tôi làm nghề ướp trà, rồi để dành để uống. Những đốm sáng trong ký ức của tôi về những năm tháng tối tăm ấy, những niềm vui thật nhỏ bé nhưng cũng thật cần thiết cho cuộc sống cực nhọc bộn bề sau năm 75 mà bố mẹ tôi đã trải qua.  

Tất cả những điều này thực ra tôi chỉ mới hiểu đây thôi, chứ hồi ấy tôi không nghĩ gì cả. Mọi thứ cứ diễn ra trước mắt tôi, và bộ não tôi chỉ chăm chỉ làm nhiệm vụ ghi lại một cách trung thành những gì đã xảy ra, như một máy quay phim vô hồn thế thôi.

Tôi hiểu ra khi giờ đây chính tôi ở tuổi của bố tôi thời ấy. Và tôi thấy mình mỗi chiều lại lui cui mò mẫm bên cây ngâu vẫn còn gầy còm mảnh khảnh trong sân nhà tôi,  canh chừng cho ngâu vừa chín để  hái, dù chỉ được một bụm nhỏ trong tay chứ không bao giờ được cả chén như bố tôi ngày ấy. Dù ít, nhưng gần như ngày nào tôi cũng phải canh để hái. Vì ngâu hái sớm thì sẽ không có hương, nhưng khi đã chín thì phải rất nhẹ tay, nếu không thì hạt ngâu sẽ rụng hết.

Và rồi, cũng như mẹ tôi, tôi nâng niu từng hạt vàng, bỏ vào chiếc hộp thiếc đựng trà, để những cánh trà khô sẽ hút hết hương thơm dịu dàng vào trong ấy. Để rồi khi đưa tách trà vàng nhạt nghi ngút khói lên miệng, tôi lại thấy ngây ngất một mùi hương, và tự dung thấy mình rưng rưng muốn khóc ….

Không, không phải hương trà, mà là hương của thời gian. 

Hương thời gian không nồng/Hương thời gian thanh thanh (Đoàn Phú Tứ).


Thứ Tư, 22 tháng 7, 2015

Một thoáng Tơ Trời ...

 
Tình cờ nhìn thấy trên trang Báo Thiếu Nhi (một nhóm đóng, dành cho những người được mời tham gia dự án Báo Thiếu Nhi do LM Thanh AN​ chủ xướng) hình vẽ tập truyện ngắn Tơ Trời của tác giả Tỷ Tỷ do họa sĩ Vy Vy vẽ năm 1969, tôi bỗng thấy tim mình thót lại và cả một trời ký ức ồ ạt đổ về.

Giật mình, vì với tôi 4 từ Tỷ Tỷ - Tơ Trời cùng cái bìa tập truyện ngắn ấy vô cùng thân thiết trong ký ức tuổi thơ của tôi. Hồi ấy, các ấn phẩm của tờ Tuổi Hoa là những món ăn tinh thần không thể nào thiếu của bọn trẻ con chúng tôi. Tôi vẫn nhớ hàng tuần bọn tôi thường được ba tôi dẫn đi Sài Gòn dạo phố, và thế nào cũng vào Nhà Sách Khai Trí trên đường Lê Lợi. Nơi ấy là một thiên đường của những người yêu sách; ba tôi thì chúi mũi vào các sách triết học, lịch sử, địa lý vv, còn bọn tôi thì chắc chắn lê lết ở khu vực sách thiếu nhi. Và trong số những ấn phẩm dành cho thiếu nhi thời ấy, không thể không có các ấn phẩm của Tuổi Hoa.

Tơ Trời của Tỷ Tỷ là một trong những ấn phẩm mà tôi đã mua từ thời ấy. Đọc, và rất thích, đặc biệt là thích hai từ Tơ Trời. Tơ trời, tức là những đám mây nhẹ nhàng với màu trắng phớt hồng, như những đám bông bồng bềnh phiêu dạt .... Đám mây ấy cứ trôi, trôi mãi ... trôi qua dải Trường Sơn, nơi quê hương Việt Nam dấu yêu lúc ấy còn đang chịu cảnh chiến tranh, nồi da nấu thịt, tang tóc đau thương  ....

"Tơ Trời ơi, cứ bay mãi và đừng bao giờ ngừng cánh."

Câu cuối cùng của mẩu truyện Tơ Trời là như thế. Một câu chuyện không có cốt truyện, không có nhân vật chính, chỉ là những chi tiết vụn ráp nối với nhau, và hình ảnh , những suy nghĩ tản mạn .... Nhưng rất nên thơ, và cũng rất buồn, và làm cho tâm hồn một đứa trẻ 9, 10 tuổi như tôi lúc ấy cứ bâng khuâng mãi ....

Chẳng biết có phải là vì ảnh hưởng của những ấn phẩm của Tuổi Hoa và các nhóm tương tự hay không, chỉ biết hồi nhỏ tôi mơ lớn lên sẽ thành nhà văn. Và hơn thế, tôi cũng đã viết nhiều, đăng trên báo tường (hồi ấy gọi là bích báo) của lớp, rồi sau đó còn mon men đăng báo nữa. Năm 13 tuổi, hồi còn học lớp 7 trường Gia Long, tôi đã có bài đầu tiên đăng trên báo Chính Luận, trang Mai Bê Bi (My Baby). Và, chẳng biết tác giả Tỷ Tỷ nào đấy có bao giờ biết điều này hay chăng, bút hiệu đầu tiên của tôi là ... vâng ạ, nó đó: Tơ Trời.


Tơ Trời ... Tơ Trời. Nó gợi cho tôi một cái gì đó thanh thoát, nhẹ nhàng, hướng thiện, và - vì câu truyện Tơ Trời của Tỷ Tỷ mà tôi có nhắc tới ở trên - nó cũng có một cái gì đó buồn buồn, kèm một niềm hy vọng mơ hồ về một tương lai tốt đẹp hơn. Nói gọn lại, nó đẹp đẽ một cách mơ hồ, buồn buồn nhưng không tuyệt vọng, và trên hết là một sự hướng thượng không ngừng. Và đó là lý do tại sao tôi chọn nó làm bút hiệu đầu tiên của tôi.

Rồi từ đó .... Thoắt một cái, hơn 40 năm vụt trôi qua, như một giấc mộng, đôi khi là mộng đẹp nhưng nhiều lúc cũng như một cơn ác mộng. Hai từ Tơ Trời mà thời ấy tôi mê mẩn không còn mấy ai dùng đến nữa (có lẽ người ta đã không còn mơ mộng như thời thơ ấu của tôi); tờ Tuổi Hoa cũng chỉ còn trong ký ức của những người thuộc thế hệ của tôi. Tưởng chừng nó sẽ vĩnh viễn chìm sâu trong tâm khảm của một thế hệ đã và đang qua đi. Nhưng không, nó vẫn còn đó, và sẽ được tái sinh qua nỗ lực của những người yêu con người và mong muốn vun đắp một cái gì đó tốt đẹp, hướng thượng và để lại cho tương lai. Qua dự án phục hồi tờ Tuổi Hoa thời ấy của LM Lê Ngọc Thanh mà tôi đã nói ở trên.

Vâng, Tơ Trời ơi, xin mãi bay và không bao giờ ngừng cánh.

-------------------
Đọc trọn truyện ngắn ấy ở đây, và các truyện khác trong tập truyện dễ thương ấy: http://tuoihoa.hatnang.com/node/1220

Thứ Hai, 13 tháng 7, 2015

Nhân vụ án Bình Phước, nghĩ về nguyên nhân của cái ác và vai trò của báo chí (Hồng Vân)

http://nhipcauthegioi.hu/goc-nhin/Nhan-vu-an-Binh-Phuoc-NGHI-VE-NGUYEN-NHAN-CUA-CAI-AC-VA-VAI-TRO-CUA-BAO-CHI-4746.html
------------
Một bài viết "ngược dòng" đáng suy nghĩ, đặc biệt trong bối cảnh báo chí "minh họa" và "vào hùa" với công an để tạo dư luận và kết án thay tòa.

Thứ hai - 13/07/2015 04:22



(NCTG) “Liên quan đến vụ án Bình Phước, điều tôi mong đợi báo chí nhắc đến trong các bài viết là quyền “suy đoán vô tội” của nghi phạm, vì nó thể hiện rõ nhất sự tôn trọng quyền con người mà nhà nước Việt Nam vẫn luôn khẳng định. Ngay cả khi đã bị khởi tố và bị đưa ra tòa, bị can vẫn phải được giả định là vô tội, và mọi chứng cứ, lập luận được sử dụng để buộc tội đều phải được chất vấn công khai với sự hỗ trợ của luật sư để chứng minh tính thuyết phục của bản án”.

Cơ quan điều tra đã nhanh chóng tuyên bố phá án thành công vụ thảm sát Bình Phước, nhưng vai trò của báo chí trong sự kiện này vẫn là điều khiến công luận phải lưu tâm - Ảnh: motthegioi.vn
Cơ quan điều tra đã nhanh chóng tuyên bố phá án thành công vụ thảm sát Bình Phước, nhưng vai trò của báo chí trong sự kiện này vẫn là điều khiến công luận phải lưu tâm - Ảnh: motthegioi.vn

Vụ thảm sát cả gia đình sáu người ở Bình Phước đang là một điểm nóng thu hút mối quan tâm của toàn xã hội. Đã có hàng trăm bài báo khai thác đề tài này dưới nhiều khía cạnh khác nhau, từ các tình tiết li kỳ của vụ án, sự hung ác của kẻ sát thủ, sự thương tâm của tấm thảm kịch kinh hoàng, sự đau đớn của người thân hai thanh niên vừa bị khởi tố, đến các vấn đề rộng hơn như sự quan trọng của giáo dục gia đình, sự phức tạp của tâm lý tội phạm, hoặc căn nguyên của cái ác trong xã hội Việt Nam hiện nay... Tưởng chừng mọi khía cạnh của vụ thảm sát trên đã được khai thác gần cạn hết; bài học cho từng đối tượng khác nhau đã và đang được rút ra, để hy vọng tránh được những thảm kịch tương tự về sau.

Nhưng có một khía cạnh khác của vụ án này chưa thấy bất kỳ tờ báo nào nhắc đến, trong khi theo tôi điều này là vô cùng quan trọng trong thời điểm Việt Nam đang có những cam kết với thế giới về cải thiện quyền con người, và trong bối cảnh nền tư pháp của Việt Nam có những oan sai chấn động đã được thừa nhận và sửa sai như vụ án Nguyễn Thanh Chấn, hoặc đang bị vướng mắc chưa biết giải quyết ra sao như vụ án của Hồ Duy Hải và Nguyễn Văn Chưởng. Tôi muốn nói đến quyền của những người bị nghi là có tội, đã được ghi rõ trong Hiến pháp 2013, tại Điều 31, Khoản 1: “Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật”.


Quyền con người, trong đó có các quyền về tư pháp, lần đầu tiên đã được Hiến pháp 2013 thừa nhận như một quyền độc lập tách ra khỏi quyền công dân. Điều này thường được nhà nước Việt Nam nêu ra như là một trong những điểm sáng trong Hiến pháp 2013 mà tôi vừa nhắc đến ở trên. Vì vậy, liên quan đến vụ án Bình Phước, điều tôi mong đợi báo chí nhắc đến trong các bài viết là quyền “suy đoán vô tội” của nghi phạm, vì nó thể hiện rõ nhất sự tôn trọng quyền con người mà nhà nước Việt Nam vẫn luôn khẳng định. Với quyền này, ngay cả khi đã bị khởi tố và bị đưa ra tòa, bị can vẫn phải được giả định là vô tội, và mọi chứng cứ, lập luận được sử dụng để buộc tội đều phải được chất vấn công khai với sự hỗ trợ của luật sư - những người am tường luật pháp - để chứng minh tính thuyết phục của bản án.


Với những bước tiến quan trọng như vậy trong việc thừa nhận các quyền của con người tại Việt Nam, chắc chắn không ai có thể tin rằng các phóng viên chuyên nghiệp của các tờ báo lớn lại không phân biệt được ý nghĩa của hai từ “nghi phạm” (kẻ bị nghi là phạm pháp) và “hung thủ” (kẻ gây ra tội ác). Và càng không ai dám nghĩ họ không biết rằng việc quyết định một người có tội hay không là việc của tòa án chứ không phải là việc của công an, càng không phải là việc của báo chí.


Vậy mà không hiểu vô tình hay cố ý, công an chỉ vừa đưa ra thông tin về tên tuổi của hai nghi phạm của vụ án là ngay lập tức các tờ báo chính thống đã lao vào khai thác các chi tiết về nhân thân của nghi phạm (kể cả khai thác hình ảnh riêng tư trên Facebook của các nghi phạm), tất cả đều theo chỉ theo một chiều hướng gây bất lợi cho các nghi phạm. Sự tranh luận, thắc mắc, nghi vấn liên quan đến quá trình điều tra và tính logic của diễn biến sự việc - những việc làm cần thiết để hỗ trợ việc đảm bảo nguyên tắc “suy đoán vô tội” - không hề thấy tồn tại trên các tờ báo chính thống, mà chỉ có thể thấy trên các mạng xã hội.


Rồi khi công an khẳng định đã tìm được đối tượng gây án, có thể chấm dứt điều tra để khởi tố, thì cũng các tờ báo chính thống lớn nhất như tờ “Tuổi Trẻ”, hoặc có chuyên môn nhất như tờ “Pháp luật TP. HCM” đã nhanh nhẩu gọi đích danh, đăng hình ảnh và giật tít lớn trên trang nhất của các tờ báo, và dành luôn cả quyền phán xét của tòa án khi gọi các đối tượng bị tình nghi và đưa ra khởi tố là “hung thủ”, trong khi chính cơ quan điều tra vẫn chỉ gọi họ là “nghi can” theo đúng Luật Tố tụng Hình sự.


Không chỉ có vậy. Như một cuốn phim hình sự truyền hình nhiều tập, các nhà báo sau khi đã khai thác cạn những tình tiết li kỳ liên quan đến các nạn nhân và thủ phạm (hiện vẫn còn chờ đang chờ tòa xét xử), thì bắt đầu quay sang tấn công, khai thác sự đau đớn, tủi nhục của những người thân hai kẻ tình nghi. Như những điều tra viên đang làm nhiệm vụ, họ bâu vào tra hỏi cha mẹ của hai thanh niên này về thói quen đi lại, ăn ở, tính nết, biểu hiện bất thường vv của hai cậu con trai mà giờ đây đã quá nổi tiếng trên cả nước. Nhưng không phải là để làm rõ những điểm còn mơ hồ hoặc còn nghi vấn, mà dường như chỉ nhằm tìm thêm các chi tiết thú vị, độc đáo để viết nốt một kịch bản có sẵn, theo đó ai là thủ phạm thì đã được tác giả xác định sẵn từ trước rồi, không thể có điều gì bất ngờ nữa cả. Như một vị tướng công an đã lên tiếng sáng nay: “Chỉ có hai đối tượng gây án, đề nghị không suy diễn”.


Bản án tử hình dành cho hai “đối tượng” này dường như đã được tuyên ngay từ trước khi tòa án thụ lý hồ sơ vụ án. Không chỉ cho các nghi can, mà còn cho cả gia đình, người thân của họ nữa. Và, điều mà một số người lo sợ - trong đó có tôi - đã xảy ra: Sức ép nặng nề của dư luận và sự bàng hoàng, đau đớn và tủi nhục khi nghe tin con mình phạm tội tày đình mà không hề có một cơ hội để được nghe con mình thổ lộ tâm sự, cha hoặc mẹ của cả hai “đối tượng” này đều đã nghĩ đến và có hành động quyên sinh, dù chưa ai phải bỏ mạng.


Có một bài báo trên tờ “Pháp luật TP. HCM” hôm nay được nhiều người chia sẻ vì những suy nghĩ được cho là khá sâu sắc. Bài viết ấy có tựa đề là “Đêm trước tội ác”, trong đó nêu câu hỏi tại sao các hung thủ của vụ án lại tàn ác đến như vậy, khi trước đó họ là những người hiền lành vô tội. Trong phần trả lời, tác giả trách mỗi người chúng ta là đã có lỗi khi quá hiếu kỳ chạy theo tìm và chia sẻ trên trang cá nhân các tình tiết ly kỳ của vụ án, và cả các nhà báo cũng có lỗi khi chỉ biết khai thác cạn kiệt các thông tin để phục vụ cho sự hiếu kỳ này của độc giả. Chính sự hiếu kỳ, bàng quan và vô trách nhiệm của mỗi người chúng ta khiến những thanh niên hiền lành lương thiện hôm trước qua một đêm bỗng trở thành sát thủ.


Một bài viết hay, và đúng, nếu nó không được mở đầu bằng lời khẳng định như đinh đóng cột mà không cần đưa ra căn cứ, rằng: “Hai đối tượng giết chết sáu người đã bị bắt. Thời gian ngắn nhưng các lực lượng đã làm rất chặt chẽ để đảm bảo không thể có oan sai”. Dựa trên sự khẳng định không thể có sai sót ấy, toàn bộ bài viết của tác giả về cái ác đều được xây dựng trên hình ảnh của hai nghi phạm mà giờ đây thêm một lần nữa lại được xem như đương nhiên là thủ phạm.


Còn tôi, thì nghĩ: nguyên nhân của thái độ hiếu kỳ, bàng quan và vô trách nhiệm mà tác giả đã nêu ở trên có một lý do sâu xa hơn, đó là cả xã hội đã mất niềm tin vào pháp luật. Vâng, ai có thể tin vào pháp luật khi tồn tại các vụ án oan sai đầy rẫy nhưng dường như không có cách gì để ngăn chặn, khi vai trò phản biện của báo chí - tai mắt và tiếng nói của người dân, giúp người dân giám sát những người thi hành nhiệm vụ - đã hoàn toàn bị chối bỏ.


Làm sao người dân không bàng quan, vô trách nhiệm khi chính báo chí với vai trò quyền lực thứ tư đã tự nguyện biến mình thành một nền báo chí “vào hùa”, chỉ biết “phụ họa” cho kết luận cơ quan điều tra - và tất nhiên, khai thác các thông tin giật gân để bán báo mua vui?



Hồng Vân, từ TP. HCM