Thứ Bảy, 25 tháng 4, 2015

Viết cho ngày 30/4: Chiến tranh VN dưới mắt một ký giả nước ngoài

Dẫn:
Cuộc chiến 1954-1975 giữa 2 miền Bắc - Nam của VN đã chấm dứt 40 năm, và đã được bàn luận quá nhiều đến tưởng như không còn gì để viết nữa. Tôi cũng đã viết về ký ức và suy nghĩ của tôi về ngày  30/4 hơn một lần rồi, và năm nay tôi định im lặng vì có viết cũng chẳng thay đổi được gì, mà thật ra những gì cần nói có lẽ tôi cũng đã nói cả rồi, nên không cần viết nữa.

Nhưng không, tôi đã lầm. Cuộc chiến ấy vẫn là một đề tài đáng viết. Không chỉ là những VN vẫn còn tranh cãi với nhau về ý nghĩa của cuộc chiến, cũng không phải là người trẻ ngoại quốc, những người muốn nhìn lại một vấn đề lịch sử hệ trọng cách đây đã 2 thế hệ bằng con mắt khách quan và hiện đại của những người ngoài cuộc, để thử tìm ra một góc nhìn, một giải pháp mới mẻ (dù giả tưởng) để thay thế cho cuộc chiến cảnh núi xương sông máu và hoàn toàn vô nghĩa kia. Mà còn là những người già thuộc thế hệ của tôi và cả thế hệ của cha mẹ tôi nữa.

Tôi muốn nói đến một cuốn sách của một ký giả người Mỹ gốc Đức sinh năm 1936 (bằng tuổi mẹ tôi nếu bà còn sống), cuốn sách có tựa là Đức: A reporter's love for a wounded people (Đức: Tình yêu của một ký giả cho một đất nước tang thương) của Uwe Siemon-Netto. Cuốn sách đã ra mắt độc giả từ năm 2013, nhưng bây giờ tôi mới nghe đến. Một cuốn sách không đưa ra bất kỳ tư liệu hay góc nhìn mới mẻ nào, mà chỉ là những ký ức, suy tư và cảm xúc của tác giả về cuộc chiến ấy. Một cuộc chiến đã quá xa và đã được quá nhiều người nhắc đến, đến độ nếu không khai thác tốt thì rất có thể trở thành nhàm chán. Nhưng không, cuốn sách của Uwe Siemon-Netto đã tạo ra sự xúc động chân thành với rất nhiều độc giả - đặc biệt là độc giả VN, và sự thành công của cuốn sách có lẽ  đã làm cho chính tác giả ngạc nhiên.

Nhưng thôi, tôi không nói thêm về cuốn sách nữa, vì phải để cho các bạn tìm đọc và tự nhận định chứ. Tôi chỉ xin giới thiệu ở đây một số đường links về cuốn sách, một vài bài phỏng vấn, và cuối cùng là trích dịch một số đoạn mà tôi thực sự tâm đắc.


Đây, trang web của tác giả: http://uwesiemon.blogspot.com/2013_04_01_archive.html


Và đây, đường dẫn đến bài phỏng vấn trên trang web của Acton Institute: http://www.acton.org/pub/religion-liberty/volume-24-number-1/vietnam-luther-doctrine-vocation

Trích:
Vietnam was covered in a completely different way than previous conflicts and wars where America was a participant. After the Tet Offensive, Walter Cronkite essentially opined, "The war is lost." How did that event change the media in America?

You are touching on the essence of my Vietnam memoir, Triumph of the Absurd. Let's step back: I covered Têt in 1968, first in Saigon, and then in Hué, where I was in the thick of the battle as a war correspondent. I saw a mass grave with the bodies of hundreds of women, children, and old men and witnessed an American camera team refusing to film this scene saying, "We are not here to spread anti-Communist propaganda." Like other real combat correspondents, I had just witnessed how the South Vietnamese, Americans, and their other allies defeated the Communists at Têt.

The Allies took heavy losses, yes, but they smashed the North Vietnamese and Vietcong, killing more than 40,000. Hanoi would never have recovered from this massive military defeat had not Cronkite irresponsibly declared this war unwinnable before 20 million viewers. This prompted President Lyndon B. Johnson to say, "I have lost Cronkite, I have lost Middle America." It is shocking that Cronkite is still venerated as the model journalist. He committed an arrogant act of journalistic malpractice, and so have other media personalities, though certainly not all. Most American and European combat reporters did a brave and honorable job covering this conflict where it was actually fought: not in Saigon's bars and New York newsrooms but in the jungles, rice paddies, and streets of South Vietnam.

Dịch (đoạn in nghiêng đậm): 
Tôi thấy một nấm mộ tập thể với hàng trăm thi thể phụ nữ, người già và trẻ em, và chứng kiến một đoàn làm phim Mỹ đã từ chối không chịu quay cảnh ấy vì cho rằng: "Chúng tôi không có mặt ở đây để đưa ra những lời tuyên truyền chống cộng."

[...]
Hà Nội lẽ ra đã không bao giờ hồi phục lại được sau tổn thất quân sự nặng nề này nếu như Cronkite đã không tuyên bố trước 20 triệu khán giả truyền hình một cách vô trách nhiệm rằng cuộc chiến ấy là bất khả chiến thắng. Điều ấy đã làm cho TT Lyndon B. Johnson phải thốt lên rằng: "Tôi đã mất sự ủng hộ của Cronkite, tôi đã mất hẳn [sự ủng hộ] của vùng Trung Mỹ." Tôi thật không hiểu tại sao đến giờ người ta vẫn xem Cronkite là một phóng viên mẫu mực. Ông ta đã phạm phải một sai lầm tệ hại trong nghề báo, đó là sự ngạo mạn; và những nhân vật khác trong giới truyền thông cũng thế, dù không phải là ai cũng sai lầm.

Một bài phỏng vấn khác: http://www.legion.org/magazine/217890/wrong-side-won

Four days later, on April 30, Soviet-made T-54 tanks completed the communist conquest of South Vietnam by bursting through the gate of the presidential palace in Saigon. Inside, newly appointed South Vietnamese President Duong Van “Big” Minh offered to transfer power. North Vietnamese Col. Bui Tin replied, “There is no question of your transferring power ... You cannot give up what you don’t have.”

To me, a German, these words sounded identical to the terms the Allies imposed on my country in 1945 when I was still a child: unconditional surrender. The irony was that while at the end of World War II a manifestly evil government was forced to surrender this way, the opposite was true 30 years later in Saigon: a totalitarian regime with deeply inhumane features bullied a much more humane – though faulty – opponent into capitulating unconditionally, and the world cheered.

Bài viết này vốn bằng tiếng Việt: http://svqy.org/2014/4-2014/ramat/ramat.html

Những mẩu chuyện về chiến tranh Việt Nam của ông Uwe và những nhận định của ông về thời cuộc đã lôi cuốn người nghe tột bực khi ông chỉ ra nguyên ủy thất bại của Hoa Kỳ qua dẫn chứng bằng câu nói của Võ Nguyên Giáp: "Kẻ thù không có được các phương tiện tâm lý và chính trị để theo đuổi một cuộc chiến tranh lâu dài," và ông tiếp: “Osama bin Laden đã nhanh chóng học được bài này.” Trong tất cả những buổi giới thiệu cuốn sách, lời nhận định này ngay lập tức đã làm dấy lên một loạt câu hỏi về hiện tình chính trị, về thái độ của Tổng thống Nga Putin trong vấn đề bán đảo Crimea đang nóng hổi.

Trả lời cho câu hỏi là những quốc gia tự do dân chủ học được bài gì qua cuộc chiến Việt Nam vừa qua, ông Uwe thú nhận: “Nó nằm ở bản chất của sự độc tài. Chúng ta cho dù có biết nhưng cũng chẳng làm gì được vì bản chất của những chế độ độc tài bạo lực là sử dụng phương tiện khủng bố lên mỗi cá nhân để răn đe tập thể. Chỉ trừ khi nào mọi người dứt khoát không chấp nhận bạo lực thì mới có hy vọng.” Ông đưa ra một trường hợp ông đã chứng kiến ngay sau khi vụ việc xảy ra, là Việt cộng đã tập trung dân trong một xã để bắt buộc họ phải chứng kiến cảnh tra tấn đến chết toàn bộ gia đình ông xã trưởng, bắt đầu từ đứa con nhỏ, đi lần lên cho tới người cha, chỉ vì gia đình ông có cảm tình với chính phủ quốc gia.



To me, a German, these words sounded identical to the terms the Allies imposed on my country in 1945 when I was still a child: unconditional surrender. The irony was that while at the end of World War II a manifestly evil government was forced to surrender this way, the opposite was true 30 years later in Saigon: a totalitarian regime with deeply inhumane features bullied a much more humane – though faulty – opponent into capitulating unconditionally, and the world cheered. - See more at: http://www.legion.org/magazine/217890/wrong-side-won#sthash.gZjhX1Om.dpuf
on April 30, Soviet-made T-54 tanks completed the communist conquest of South Vietnam by bursting through the gate of the presidential palace in Saigon. Inside, newly appointed South Vietnamese President Duong Van “Big” Minh offered to transfer power. North Vietnamese Col. Bui Tin replied, “There is no question of your transferring power ... You cannot give up what you don’t have.”
To me, a German, these words sounded identical to the terms the Allies imposed on my country in 1945 when I was still a child: unconditional surrender. The irony was that while at the end of World War II a manifestly evil government was forced to surrender this way, the opposite was true 30 years later in Saigon: a totalitarian regime with deeply inhumane features bullied a much more humane – though faulty – opponent into capitulating unconditionally, and the world cheered.
- See more at: http://www.legion.org/magazine/217890/wrong-side-won#sthash.gZjhX1Om.dpuf
on April 30, Soviet-made T-54 tanks completed the communist conquest of South Vietnam by bursting through the gate of the presidential palace in Saigon. Inside, newly appointed South Vietnamese President Duong Van “Big” Minh offered to transfer power. North Vietnamese Col. Bui Tin replied, “There is no question of your transferring power ... You cannot give up what you don’t have.”
To me, a German, these words sounded identical to the terms the Allies imposed on my country in 1945 when I was still a child: unconditional surrender. The irony was that while at the end of World War II a manifestly evil government was forced to surrender this way, the opposite was true 30 years later in Saigon: a totalitarian regime with deeply inhumane features bullied a much more humane – though faulty – opponent into capitulating unconditionally, and the world cheered.
- See more at: http://www.legion.org/magazine/217890/wrong-side-won#sthash.gZjhX1Om.dpuf
Và cuối cùng, bản dịch chương kết luận của cuốn sách: https://www.facebook.com/permalink.php?story_fbid=10153363426262625&id=579817624&fref=nf
 
Trích:
Khi tôi viết đoạn kết này, một ký giả đồng nghiệp và một loại học giả sinh năm 1975 khi Sài Gòn bị thất thủ, đã tự tạo cho bản thân một thứ tên tuổi bằng cách bêu xấu tội ác chiến tranh của Mỹ tại Việt Nam. Vâng, họ thật đáng bị bêu xấu. Đúng, đó là sự thật. Mỹ Lai có thật. Tôi biết, tôi đã có mặt trong phiên tòa mặt trận khi Trung úy William Calley bị kết án là có tội. Tôi biết cái tiêu chuẩn đếm xác chết được tôn sùng bởi đầu óc méo mó của các cấp chỉ huy quân sự cũng như dân sự thời đại Mc Namara tại Washington và bản doanh Hoa Kỳ tại Sài Gòn đã làm tổn hại hàng ngàn mạng sống của người dân vô tội.

Nhưng không có hành vi tàn ác nào của các đơn vị rối loạn Hoa Kỳ và VNCH có thể sánh bằng cuộc tàn sát do lệnh nhà nước giáng xuống đầu người miền Nam nhân danh Hồ Chí Minh. Những tội ác mà cho đến ngày nay những kẻ kế thừa thậm chí vẫn không thừa nhận vì không ai có cái dũng cảm hỏi họ: Tại sao các anh thảm sát tất cả những người vô tội mà các anh rêu rao là đi chiến đấu để giải phóng họ? 

Với tư cách một người Đức, tôi xin được thêm một đoạn chú thích như sau: tại sao các anh giết người bạn của tôi là Hasso Rüdt von Collenberg, tại sao lại giết các bác sĩ người Đức ở Huế, và anh Otto Söllner tội nghiệp mà "tội ác" duy nhất là dạy trẻ em Việt Nam cách điều khiển một ban nhạc hòa tấu? Tại sao các anh bắt cóc những thanh niên thiện nguyện Knights of Malta, làm cho một số bị chết trong rừng rậm và số khác thì bị giam cầm tại Hà Nội? Tại sao các anh không bao giờ tự xét lương tâm về những hành động đó, theo cách những người Mỹ chính trực trong khi họ đã được xác định một cách đúng đắn là họ thuộc về phía lẽ phải trong cuộc Đại Chiến Thứ Hai, vẫn bị dằn vặt bởi cái di sản khủng khiếp để lại vì đánh bom rải thảm những khu dân cư trong nước Đức và tấn công bằng bom nguyên tử xuống Hiroshima và Nagasaki?

Hồi tưởng lại cuộc thử thách trên con đường mòn Hồ Chí Minh trong tạp chí Der Spiegel, cô y tá Tây Đức Monika Schwinn nhớ lại cuộc gặp gỡ với các đơn vị chiến đấu Bắc Việt trên đường xuống phía Nam như là một trong những kinh nghiệm khủng khiếp nhất. Cô diễn tả cái cường độ của mối hận thù trên khuôn mặt của những tên lính đó và cô viết chính những tên Việt Cộng canh chừng phải khó khăn lắm mới ngăn chận họ không giết những người Đức ngay tại chỗ. Không có ai sinh ra là biết hận thù cả. Sự thù hận chỉ có thể có được do dậy dỗ. Nuôi dưỡng tính giết người trong lòng thanh niên là một khuôn phép huấn luyện chỉ có trường phái chủ nghĩa toàn trị là giỏi nhất. 
 -------------
Các bạn có thể vào những đường dẫn ở trên để đọc thêm trọn vẹn. Còn đây là những lời tóm tắt cảm xúc của tôi khi đọc tất cả những gì tôi đang giới thiệu ở trên:

BUỒN LẮM, NGƯỜI VIỆT ƠI!  

ĐẾN BAO GIỜ?

Thứ Sáu, 24 tháng 4, 2015

30/04: Để 1 triệu người không còn buồn! (đăng lại từ trang web Nguyễn Tấn Dũng)


(Chính trị) - “Ngày 30-4, ngày nếu có một triệu người vui, cũng là ngày có một triệu người buồn”, câu nói trong quá khứ của ông Võ Văn Kiệt, nguyên Thủ tướng chủ trương chính sách Đổi Mới, được lập đi nhắc lại. 


Ngày nay, nền kinh tế chưa thật sự hiệu quả, hàng xuất là lao động giá bèo, cái đinh vít cũng không làm được mà nhập hàng ngoại tuốt tuột, nợ chồng chất. Rồi tham nhũng tràn lan, đạo đức xã hội xuống cấp, bạo hành diễn ra khắp nơi, và nhất là hiểm họa mất biển mất đất vào tay những ‘đồng chí đàn anh’ phương Bắc ngày một trầm trọng.

Thế nhưng hàng loạt lễ hội vẫn được chuẩn bị, xây dựng tượng đài khắp nơi, những từ ngữ như chiến thắng, giải phóng…tiếp tục lại phô trương đến bị bào mòn để lẩn vào vô thức một dân tộc mà sự phân hóa có khả năng trở thành nguyên nhân gây chia rẽ dài hạn.
30/04: Để 1 triệu người không còn buồn!
30/04: Để 1 triệu người không còn buồn!

Trong trường hợp này, người Việt chúng ta không tập hợp được nội lực dân tộc lẽ ra phải có, đất nước tụt hậu dài dài, chủ quyền bị gậm nhấm và chẳng thể nào tránh được nguy cơ xâm lược của ngoại bang.

Ngày 30-04-1975 là ngày kết thúc một cuộc chiến tranh, có người gọi là chiến tranh giải phóng, người cho là chiến tranh ủy nhiệm của hai khối Tư Bản và Cộng Sản đối đầu trong thời Chiến Tranh lạnh…

Dù gì, khí giới là khí giới Nga, Tàu, Mỹ…nhưng xác người lại là dân tộc Việt Nam, mà con số tử trận và thương vong lên đến cả chục triệu. Năm nay, năm 2015.

Sau 40 năm hò reo chiến thắng và vinh quang, dẫu muộn nhưng đã đến lúc chúng ta hóa giải hận thù trong lòng người Việt Nam trong nước cũng như ở hải ngoại.

Ngược dòng lịch sử nước ta, ngay sau khi chiến thắng quân Nguyên xâm lăng hơn 600 năm trước, Vua Trần Nhân Tông, một minh quân kiệt xuất, đã đốt hết thư tịch làm bằng chứng tố cáo đám người theo giặc, tránh trả thù, không truy bức để yên lòng dân.

Trong cuộc nội chiến Nam-Bắc ở Mỹ, điều kiện đầu hàng mà tướng Grant phía Bắc- quân (Union) viết cho tướng Lee phía Nam-quân (Confederate) ghi rõ chỉ tịch thu khí giới, cho phép binh lính Nam-quân về làm ăn sinh sống bình thường trong đời sống dân sự.

Năm 1975, chúng ta đã sai lầm khi dùng chữ ngụy quân, ngụy quyền để chỉ những người thua trận, và đưa ra chính sách học tập cải tạo mà mục đích là cầm tù những người-Việt-Nam thua trận, khiến họ sợ hãi.

Chính sợ hãi là yếu tố khiến hàng trăm ngàn thuyền nhân liều mạng phiêu lưu trên biển cả, đánh cược mạng sống của mình và gia đình, hậu quả là số bỏ mạng lên tới trên dưới 500 ngàn người. Chúng ta đã sai lầm khi vô tình đẩy đồng bào đi đến lựa chọn rời bỏ Tổ quốc ra đi.

Hóa giải hận thù, điều kiện cần
Trong hầu hết mọi tôn giáo – ở nước ta chủ yếu là Phật Giáo và Thiên Chúa Giáo – hận thù là cái phải cởi, không nên buộc. Hoá giải hận thù là điều kiện cần khiến hòa giải mới có khả năng thành hiện thực.

Hòa giải giữa nạn nhân và những kẻ tác nghiệp chỉ khả thi khi những bên đối tác cùng có tâm thế nhân ái bao dung, đồng thời tôn trọng sự thật, công lý và cố gắng xua đi những bồng bột cảm tính.
Nếu hai bên có tinh thần đối thoại, lắng nghe và tìm hiểu lý lẽ chứ không khăng khăng xác quyết chân lý của riêng mình, sự tháo gỡ hoặc giảm thiểu tính đối đầu ăn thua có khả năng hiện thực và từ đó một lộ trình hòa giải mới có thể thành hình.

Nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt: "Ngày 30-4, ngày nếu có một triệu người vui, cũng là ngày có một triệu người buồn"
Nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt: “Ngày 30-4, ngày nếu có một triệu người vui, cũng là ngày có một triệu người buồn”

Sau ngày một phía gọi là ngày mất nước, phía bên kia gọi là ngày Giải phóng, chính sách Học tập Cải tạo đã sai lầm khi cả trăm nghìn người vào cảnh tù tội khổ sai. Nạn nhân là người trong guồng máy chính quyền Việt Nam Cộng hòa, các quân nhân, trí thức văn nghệ sĩ…

Kèm vào tác động khủng bố tâm lý của chính sách Học tập Cải tạo, chiến tranh với Campuchia và sau là chiến tranh biên giới với Trung Quốc, kẻ ‘dạy Việt Nam một bài học’, sự hoảng sợ lan rộng trong nhiều tầng lớp nhân dân, nhất là ở thành thị ngày một ngột ngạt vì không còn được sinh hoạt tự do như trước đây.

Đồng thời, phong trào đánh tư sản và hai lần đổi tiền khiến nhiều người mất hết cơ nghiệp. Dẫu biết đầy bất trắc hiểm nguy đến tính mạng, họ đánh liều vượt biển nhân dịp người gốc Hoa ‘được’ ra đi chính thức hoặc bán chính thức.

Thảm kịch thuyền nhân, với những con thuyền đuôi tôm hai blốc đầy ắp người lênh đênh tìm đường sang Phi, Mã Lai, Thái Lan, Nam Dương…chết chìm trong lòng Thái Bình Dương là một nỗi đau xót không bao giờ nguôi của cả dân tộc.

Nhìn nhận và mong mỏi khắc phục những sai lầm trong quá khứ, chính phủ Việt Nam kiên quyết nhất quán tư tưởng “Việt kiều là khúc ruột ngàn dặm”, và mới đây là ra Nghị quyết 36 nhằm củng cố vững chắc khối đại đoàn kết dân tộc, cả dân tộc cùng nhìn về một hướng và góp phần xây dựng quê hương đất nước giàu mạnh.

Tuy nhiên, những nỗ lực này là chưa đủ, chúng ta cần phải có những hành độnh cụ thể hơn để đồng bào Việt Nam ở nước ngoài yên tâm hồi hương, hướng về Tổ quốc. Một trong số đó là xem ngày 30-4 là Ngày Hóa giải Hận thù.

Và trong tương lai, Việt Nam nên cho xây dựng ở những địa phương từ Bắc đến Nam:

1- Tượng đài thương tiếc những người lính hy sinh trong chiến tranh, không phân biệt Bắc – Nam, Quốc- Cộng.

2- Tượng đài Ghi ơn mẹ Việt Nam, không cần thêm chữ ‘anh hùng’, chỉ cần hiểu là những người mẹ có con đã hy sinh trong cuộc chiến.

3- Ghi nhớ và lập bia cho những nạn nhân bỏ mạng trên biển cũng như đất liền ở mọi nơi.

Hội đồng Hòa giải Dân tộc
Trên thế giới, sau những cuộc đổi đời trong những quốc gia từng có bất công, bạo hành và những vi phạm quyền con người…thì nhiều nước đã thành lập những Hội đồng hòa giải dân tộc (Commission for National Reconciliation, hoặc Commission for Truth and Reconciliation).

Có thể kể Nam Phi khi Mandela lên nắm chính quyền, Pakistan dưới thời Musharraf, rồi Palestine, Liberia, Algeria…và ở Á châu có Đông Timor sau khi ly khai khỏi Indonesia.

Mỗi quốc gia, vấn đề một khác. Nơi thì chủ yếu khác biệt sắc tộc, nơi khác biệt tôn giáo… đã là nguồn gốc của hận thù và sự phân liệt cần được hóa giải.

Con đường không ngắn, nhưng cũng không buộc là dài. Và trong bất cứ trường hợp dài ngắn thế nào đi chăng nữa, chúng ta rồi thì cũng sẽ đối mặt với nhiệm vụ này như một nhiệm vụ lịch sử.

Thùy Linh (TH)

Thứ Tư, 22 tháng 4, 2015

Tư liệu: Việt Nam Veterans Memorial: Công trình tượng đài gây tranh luận nhất nước Mỹ

Việt Nam Veterans Memorial: Công trình tượng đài gây tranh luận nhất nước Mỹ

Nguyễn Hữu Thái 
Xưa và Nay
12:34' PM - Thứ hai, 20/04/2015
Đài tưởng niệm cựu chiến binh Việt Nam (Vietnam Veterans Memorial) có lịch sử hình thành và xây dựng khá độc đáo. Sau chiến tranh Việt Nam, cựu binh Mỹ cảm thấy tủi nhục và bất bình khi nhìn thấy bạn bè đã hy sinh ở Việt Nam bị lãng quên. Họ mong muốn làm cái gì đó để nhắc nước Mỹ nhớ đến những người lính này. Dần dần, ý tưởng xây một tượng đài để tưởng niệm tất cả những người lính Mỹ đã bỏ mạng hoặc mất tích ở Việt Nam hình thành. Họ thành lập một tổ chức nhằm mục đích quyên góp tiền bạc và thành công thu được hàng triệu đô la.

Năm 1980, họ công bố cuộc thi toàn quốc nhằm chọn bản thiết kế đẹp nhất, có ý nghĩa nhất cho tượng đài. Tám nhà kiến trúc, điêu khắc và một nhà phê bình mỹ thuật nổi tiếng được mời làm ban giám khảo. Và trong số trên 1.400 phương án dự tranh, ban giám khảo đã chọn mẫu thiết kế của một cô sinh viên Mỹ gốc Hoa 21 tuổi, lúc ấy đang học kiến trúc ở Đại Học Tổng hợp Yale, tiểu bang Connecticut.

30 năm đã trôi qua, vậy mà như vẫn còn âm vang nơi đây sóng gió dư luận Mỹ một thời nổi lên chung quanh giải thưởng cuộc thi thiết kế tượng đài. Vào đầu những năm 1980, ở đỉnh cao của Chiến tranh Lạnh dưới thời Tổng thống bảo thủ Reagan, khi vết thương chiến tranh Việt Nam còn chưa lành và trong sự chia rẽ sâu sắc nước Mỹ còn chưa dứt thì ý tưởng thiết kế tượng đài độc đáo và táo bạo của Maya Lin như đổ thêm dầu vào lửa, gây ra cuộc tranh luận gay gắt kéo dài suốt cả chục năm.

Ý kiến về sự lựa chọn này rất khác nhau:
- Một bên, hội đồng giám khảo và những người ủng hộ khẳng định phương án của Maya Lin đã “nói lên hết ý nghĩa cuộc chiến tranh Việt Nam, không vinh quang và đã từng gây chia rẽ nước Mỹ, một nơi để nhân dân Mỹ suy ngẫm và tưởng niệm chứ không phải là một sự vinh danh chiến thắng”. Bên kia, những người phản đối lại cho rằng tượng đài với hai cánh đá đen đi vào lòng đất, không có điêu khắc hình tượng và cột cờ… trông giống như một “mộ bia khổng lồ”, “một vết cắt màu đen nhục nhã” chỉ làm tổn thương danh dự nước Mỹ!

Trước sức ép của dư luận cả nước, chính quyền Mỹ đã phải cử ra một uỷ ban nghệ thuật để thẩm định lại phương án. Tuy vậy, phương án vẫn được thông qua vì nhiều người cho rằng nó có ý nghĩa, giản dị, rất đẹp và hài hoà với cảnh quan xung quanh. Nhưng không ít người khác lại nghĩ rằng nó chưa có sức thuyết phục và quá trừu tượng. cuối cùng, để dung hoà, người ta xây dựng thêm một nhóm tượng ba người lính và một nhóm tượng nữ y tác khác bên cạnh.

Tượng đài được khánh thành vào năm 1982 là một bức tường đá cắm sâu vào lòng đất, tạo thành một chữ V góc tù, hàm ý chữ cái đầu của hai từ Việt Nam. Một cánh của chữ V ấy chỉ về phía nhà tưởng niệm tổng thống đầu tiên, cha đẻ của nền cộng hoà Mỹ George Washington, cánh kia- nhà tưởng niệm tổng thống giải phóng nô lệ da đen Abraham Lincohn. Tổng chiều dài bức tường đá này là 76m, được xây bằng đá cẩm thạch đen lấy từ Ấn Độ. Càng đi xuống, bức tường đá càng lớn dần, tạo cảm giác như đang mọc lên trước mắt bạn. Khắc trên tường đá này là tên của 58.196 người lính Mỹ bỏ mạng hoặc mất tích trong cuộc chiến tranh ở Việt Nam. Các tên được khắc theo thứ tự ngày hy sinh. Hai đầu bức tường là hai chiếc bàn nhỏ có mái che với hai cuốn sách dày ghi rõ tên, đơn vị, ngày mất và vị trí từng người trên tường để người thân, bạn bè dễ tìm kiếm.

Tượng đài nhìn từ trên cao

Công trình được đánh giá là đã đạt “đỉnh cao nghệ thuật tượng đài của Mỹ trong thế kỷ XX” cũng như trở thành một “biểu tượng cho cả sự đoàn kết và cứu rỗi ”. Một nhà phê bình nghệ thuật còn nhận xét sâu sắc hơn: “Chưa bao giờ có một bức tường- một kết cấu để chia cắt- lại làm được nhiều cho sự đoàn kết đến như vậy!”.

Đến nay, Đài tưởng niệm cựu chiến binh Việt Nam đã trở thành một trong những nơi được thăm viếng nhiều nhất ở thủ đô Washington. Hàng năm, có hơn 4 triệu lượt người tham quan khu tượng đài, một con số kỷ lục cho một khu tưởng niệm.

Tượng đài như một minh chứng về nỗi đau và sai lầm của nước Mỹ. Hầu như bất kỳ lúc nào trong ngày bạn cũng thấy nhiều người đứng cạnh bức tường đá khổng lồ này. Họ trầm tư nhìn dòng chữ ghi tên người thân hoặc bạn bè mình. Một số lẩm bẩm đọc thành tiếng, hoặc lấy tờ giấy mỏng áp lên tường đá rồi dùng bút chì cà lên, cho đến lúc dòng chữ hiện trên mặt giấy. Nhiều người khi về để lại bên chân bức tường một bông hoa nhỏ, bài thơ, bức thư hay tấm ảnh. Cũng có người để lại huân chương, chiếc ủng nhà binh, chai rượu uống dở với hai chiếc cốc, hoặc một mẩu bánh sinh nhật…Sau mỗi ngày, nhân viên cơ quan trông coi công viên và tượng đài thu thập những vật kỷ niệm này vào chỗ riêng và giữ gìn cẩn thận. Người ta cho biết đến nay đã có hơn 30.000 vật như thế, và rằng cách đây không lâu một cuốn sách dày đã được xuất bản nói về chúng, gọi là “Vật tế lễ bên Bức tường” (Offerings at the Wall).

Trong số hàng ngàn bài thơ văn về tượng đài, có một bài bằng tiếng Anh mang tên Việt ở bức tường Việt Nam của Dương Tường, một nhà thơ cựu chiến binh Việt:
Bởi lẽ mình với cậu
Chưa hề biết nhau
Nên mình đến
Bởi lẽ cậu bỏ lại mẹ cha
Cùng người, vị hôn thê
Và mình cũng từng giã biệt
Vợ con
Nên mình đến
Bởi lẽ tình yêu mạnh hơn
Thù hận
Và có thể bắc cầu qua mọi
Đại dương
Nên mình đến
Bởi lẽ cậu không về
Còn mình đã có ngày trở lại
Nên mình đến.

(Bản dịch của chính tác giả).

Thứ Hai, 20 tháng 4, 2015

Đọc lại bài thơ của Chúa


Có một bài thơ tôi đã đọc khi còn là sinh viên năm thứ nhất khoa Ngữ văn nước ngoài của trường Đại học Tổng hợp TP Hồ Chí Minh, cách đây đã gần 40 năm. Nó có cái tựa chỉ một từ ngắn ngủn là Trees, mà khi dịch sang tiếng Việt chắc chắn người ta phải thêm vào một từ khác để nghe khỏi cộc lốc, ví dụ: Cây xanh.



Bài thơ ấy đã được viết cách đây hơn 100 năm rồi, chính xác là vào năm 1913. Tác giả của bài thơ là Joyce Kilmer, một nhà thơ người Mỹ, một chiến sĩ đã từng chiến đấu trong thế chiến thứ nhất và hy sinh trước khi cuộc chiến kết thúc không lâu. Ông viết không nhiều, và thơ của ông không được đánh giá quá cao về giá trị nghệ thuật. Ngay cả Trees, bài thơ được biết đến nhiều nhất của ông, cũng bị các nhà phê bình chê là ngô nghê, đơn điệu, và mang quan niệm "văn dĩ tải đạo" quá lộ liễu. Thậm chí, tên nhà thơ còn được đặt cho một cuộc thi thơ ... dở hàng năm tại trường đại hoc Columbia nơi ông đã theo học lúc sinh thời. Cuộc thi có tên là Joyce Kilmer Memorial Bad Poetry Contest (Cuộc thi thơ dở để tưởng niệm Joyce Kilmer), tồn tại đã gần 30 năm, từ năm 1986 đến nay. Và để tưởng niệm nhà thơ đã sáng tạo ra bài thơ ... dở nhất, người ta luôn kết thúc cuộc thi bằng việc đọc bài thơ Trees mà hầu như bất cứ người Mỹ nào cũng biết.



Bài thơ ấy dở như thế nào? Hãy xem những giòng nhận định về bài thơ Trees viết từ năm 1935 của Heywood Broun, nhà báo người Mỹ cùng thời với tác giả bài thơ. Broun viết:



Bài thơ Trees làm cho tôi phát cáu, bởi nó có những câu thơ sáo rỗng nhất đã từng được con người viết ra. Khi Kilmer viết câu "thơ được tạo ra bởi những kẻ ngu dốt như tôi", hẳn nhà thơ chẳng tin chút nào vào điều mình nói. [http://www.nytimes.com/1987/12/05/nyregion/about-new-york-no-not-a-curse-but-a-jersey-prize-for-worst-verse.html]

Câu thơ mà Broun nhắc đến trong nhận định trên thuộc hai câu thơ cuối của bài thơ Trees. Hai câu thơ ấy trong tiếng Anh là "Poems are made by fools like me/But only God can make a tree" ("thơ được tạo ra bởi những kẻ ngu dốt như tôi, nhưng chỉ có Chúa mới tạo ra được một cái cây). Hai câu thơ ấy vọng lại ý tưởng của hai câu đầu, cũng bị chê là không kém phần sáo rỗng, như thế này: "I think I shall never see/A poem as lovely as a tree" (tôi nghĩ mình sẽ chẳng bao giờ được thấy /một bài thơ đẹp như một cái cây). Hai câu thơ này không những sáo, mà còn ngô nghê nữa, vì sự so sánh quá khập khiễng: Làm gì có sự tương đồng nào giữa thơ và cây cối mà tác giả lại so sánh như vậy? 

Nếu chỉ có 4 câu thơ ấy thôi thì có lẽ tác giả của bài thơ cũng không đến nỗi bị chọn để đặt tên cho giải thưởng thơ ... dở. Bài thơ còn có những lỗi về nghệ thuật khác, đặc biệt là về cách dùng phép so sánh, ẩn dụ và nhân hóa. Trong bài thơ, những cái cây được tả bằng những hình ảnh đứa trẻ há miệng ngoạm lấy bầu vú căng tròn của bà mẹ đất để hút sữa, tàn cây cả ngày nhìn lên trời với những cành lá như những cánh tay vươn lên trời cao như trong giây phút nguyện cầu. Những hình ảnh ấy đã bị các nhà phê bình chỉ ra một cách chế diễu rằng cái cây của Kilmer hẳn phải là một tạo vật kỳ quái khi cùng một lúc vừa có thể cúi mặt xuống ngậm bầu vú của mẹ đất lại vừa có thể ngước nhìn trời giơ tay cầu nguyện. 

Quả là khi phân tích như trên thì bài thơ vô lý thật. Vậy mà khi vừa ra đời bài thơ Trees ngắn và đơn giản ấy đã được đón nhận rất nồng nhiệt. Bài thơ ngắn, chỉ gồm 6 khổ, mỗi khổ là 2 câu vần với nhau theo kiểu liên vận (hai câu liên tiếp có vần với nhau), tổng cộng chỉ có 12 câu. Nhiều nhà phân tích cho rằng bài thơ thành công phần lớn là vì nó gợi lên tình cảm tôn giáo vốn rất phổ biến tại nước Mỹ vào thời đầu thế kỷ 20. Chính những hình ảnh ước lệ, thiếu sáng tạo, thậm chí có thể bị xem là vô lý (đứa bé ngậm bầu sữa mẹ, người tín đồ ngửa mặt lên trời giơ tay cầu nguyện) bị các nhà phê bình chê bai ấy lại làm cho những người bình dân thấy dễ hiểu và dễ rung động. Bài thơ thường xuyên được đưa vào sách giáo khoa cho trẻ em học vì sự đơn giản, dễ hiểu, dễ nhớ của nó, và đã làm rung động con tim của biết bao thế hệ người Mỹ vì, theo lời của Holliday, nó "ngỏ lời bằng những giai điệu chân tình đến những tấm lòng đơn sơ nhất". Và, nói gì thì nói, Trees vẫn cứ là một trong những bài thơ nổi tiếng nhất ở nước Mỹ và đem lại tên tuổi cho tác giả của nó.

Bài thơ Trees nổi tiếng ấy hầu như chưa bao giờ được nhắc đến tại Việt Nam, kể cả trong chương trình văn học Anh - Mỹ của các sinh viên chuyên ngữ tại các trường đại học. Tôi biết đến bài thơ này cũng chỉ do tình cờ đọc một tuyển tập thơ dành cho trẻ em Mỹ trong những ngày còn rảnh rang khi học năm thứ nhất đại học. Đọc bài thơ thấy thích ngay, nhưng khi đọc những bài phân tích phê bình rất có lý về bài thơ, tôi cũng cảm thấy giá trị (ít ra là giá trị nghệ thuật) của bài thơ có giảm đi đôi chút. Nhưng dù sao thì tôi cũng rất thích hai câu cuối, mà tôi đã từng dịch ra thành "Gã khờ cũng biết làm thơ/Cây xanh lá thắm phải chờ Chúa thôi". Dịch xong, cảm thấy sung sướng và hãnh diện lắm, vì vừa giữ được ý nghĩa của câu thơ, lại chuyển sang được thành câu thơ lục bát thuần Việt. Thậm chí còn tự nhủ, khi có dịp sẽ cố gắng dịch cả bài thơ ra để chia sẻ cho mọi người thưởng thức.

Tự nhủ như vậy, rồi quên đi. Đời sống bộn bề, bận rộn quay cuồng khiến tôi chẳng còn thời gian để ngắm nhìn bầu trời xanh hay tha thẩn  dưới những tán cây tìm những bông hoa dại xinh xinh như thời còn bé. Tuy vậy, mỗi lần đi đến đâu mà nhìn thấy một cây cổ thụ cao lớn, thân đen nhám xù xì, lá xanh um vươn cao lên  đến tận trời thì tôi lại nhớ đến hai câu thơ kia và thấy trong lòng dâng lên một niềm yêu mến và cả sự kính sợ nữa. Mặc dù tôi chẳng rõ tình cảm ấy là do đâu.

Nhưng hôm nay thì tôi đã hiểu rõ rồi. Hiểu tình cảm của tôi, và hiểu vì sao bài thơ lại được yêu thích, mến chuộng đến thế, mặc cho những lỗi nghệ thuật của bài thơ mà các nhà phê bình uyên bác đã chỉ ra. Tôi hiểu ra khi thấy sự phẫn nộ của dân chúng cả nước trước việc chính quyền Hà Nội quyệt định chặt bỏ nhiều ngàn cây cổ thụ trên gần 200 tuyến đường ở Hà Nội. Tôi cảm nhận sự đau đớn của mọi người - và cả chính tôi - khi nhìn thấy những hàng cây xanh xum thẳng đứng vươn cao giờ bị chặt ngang trơ gốc, thân tóe máu và tóc xanh rơi rụng khắp nơi. Đau như chính người thân của tôi bị chém.  


Tôi  hiểu ra tình yêu thiên nhiên  đã được cài sẵn trong mỗi chúng ta như một bản năng, cũng như mỗi người sinh ra đều yêu mến mẹ cha và những người ruột thịt của mình Tôi hiểu ra rằng cũng như tôi, tác giả bài thơ Trees thực sự nhìn những cây xanh như những người anh em ruột thịt, và chẳng hề giả dối khi viết hai câu thơ "Gã khờ cũng biết làm thơ/Cây xanh lá thắm phải chờ Chúa thôi". Chẳng phải cây cối, cũng như con người, đều do Thiên Chúa tạo dựng đó sao? Nếu bảo vệ người thân là trách nhiệm đương nhiên của từng người, thì sao ta có thể thản nhiên khi thiên nhiên bị phá hủy?



"Một Ki-tô hữu mà không bảo vệ thiên nhiên, không để cho thiên nhiên phát triển, là một Ki-tô hữu không quan tâm đến sự sáng tạo của Thiên Chúa - sự sáng tạo sinh ra từ tình yêu của Thiên Chúa dành cho nhân loại" - Đức Thánh cha Phan-xi-cô đã dạy như vậy trong một bài giảng vào tháng Hai vừa qua. [http://www.religionnews.com/2015/02/09/pope-francis-christian-not-protect-creation-not-care-work-god/]



Có một điều lâu nay tôi vẫn ngờ ngợ về tác giả của bài thơ, và cần đi tìm lời khẳng định. Giờ thì tôi đã có thể khẳng định được rồi, vì tôi vừa đọc tiểu sử của tác giả: Joyce Kilmer là một người Công giáo.



Tôi cũng vừa tìm ra mối liên hệ trong phép so sánh của hai câu thơ "I think I shall never see/A poem as lovely as a tree" (tôi nghĩ mình sẽ chẳng bao giờ được thấy /một bài thơ đẹp như một cái cây) mà tôi mới vừa dịch thoát ra:như thế này: "Kẻ khờ chỉ biết làm thơ/Câu thơ ngơ ngẩn bao giờ [đẹp] như cây". Câu thơ ấy bị các nhà phê bình chê là so sánh khập khiễng vì giữa hai vật được so sánh chẳng có chút liên hệ nào.  

Rất rõ ràng, mối liên hệ ấy đây: 

Mỗi cái cây là một bài thơ của Chúa.

Chủ Nhật, 19 tháng 4, 2015

Loạt bài về SG sau 1975: Thiếu đói khắp nơi! (Tuổi Trẻ 5.4.2015)

Quốc Việt – Đặng Phong – Tuổi Trẻ – 5 April 2015

TT - “Một hôm tôi xuống thăm người dân xã Hòa Nghĩa, huyện An Thụy, Hải Phòng thì thấy nhà nào cũng đói. Có gia đình ba cháu đói lả trên giường mà chẳng thấy người lớn…

Tôi hỏi cha mẹ các cháu đâu, bọn trẻ trả lời bố mẹ cháu ra bãi biển mò tôm cá về bán đong gạo”. Nhắc nhớ những ngày khó khăn này, ông Đoàn Duy Thành, nguyên phó chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, vẫn ngậm ngùi suy tư. Ông tâm sự hồi đương chức chủ tịch rồi bí thư Tỉnh ủy Hải Phòng phải chứng kiến nhiều cảnh như vậy. Người dân phải tìm mọi cách để xoay xở miếng ăn.

bo bo 2 phếu lương thực
“Ám ảnh việc kiếm cái ăn!”
“Không biết lúc nào cha mẹ các cháu mới về đến nhà, mà có kiếm được gì để ăn không, tôi bảo tài xế về gấp nhà tôi lấy gạo nấu ngay cho các cháu ăn lại sức” – vừa tâm sự, ông Đoàn Duy Thành vừa giở lại những tài liệu ố màu thời gian.

Hồi còn kháng chiến, ông nghĩ dân mình chỉ cần có đất là không lo, thế mà hòa bình người dân có đất vẫn cứ đói triền miên. Ruộng quê ông xưa cày cấy bình thường cũng được 100kg lúa mỗi sào đất, bây giờ cũng ruộng ấy chỉ được 40kg lúa. Ở các thửa ruộng khác lão nông tri điền cũng chẳng làm khá hơn.

Cày cho mình thật sự mọi người hăng hái đổ mồ hôi, cày cho hợp tác xã cuối vụ tính điểm còn không đủ thóc nuôi con, chẳng ai hăng hái nổi. Ông Thành đi tham quan các tỉnh lúa khác tình hình cũng chẳng khá hơn. Nông dân vẫn phải ăn bo bo, khoai độn, cháo nấu với thân chuối mỗi ngày.
Ở Hải Phòng, ông Thành kể: “Kinh tế hợp tác xã chỉ bảo đảm được 20% cuộc sống xã viên, mọi người phải bổ ra ngoài kiếm sống. Ngay trên ruộng hợp tác xã rộng lớn dân cũng chỉ làm qua loa cho xong để còn về làm ruộng 5% thuộc về mình. Quanh đi quẩn lại mọi người triền miên ám ảnh việc kiếm ăn”.

Cũng như nhiều địa phương khác, chỉ qua 10 ngày đầu tháng cửa hàng gạo Hải Phòng chẳng còn gì bán cho cán bộ công nhân viên, kể cả bo bo. Thành phần có lương, có tem phiếu đã vất vả, người dân lao động càng khó sống hơn.

Hồi tưởng năm tháng vật vã kiếm ăn hầu như ai cũng có kỷ niệm khó quên. Tiến sĩ Nguyễn Văn Huy, giám đốc Bảo tàng Dân tộc học – con trai cố bộ trưởng giáo dục Nguyễn Văn Huyên, tâm sự: “Hồi ấy đồng lương eo hẹp quá. Ở Hà Nội cả nhà tôi người là giáo sư, viện phó, người là tiến sĩ này nọ đều phải xoay xở kiếm thêm.

Khoảnh sân nhà tôi trở thành vườn – chuồng đúng nghĩa, chỉ còn thiếu mỗi ao, mà nếu có thể đào được thì chắc chúng tôi cũng đào rồi. Từ mẹ tôi, vợ một bộ trưởng đến con cái, dâu rể đều lăn ra nuôi heo, gà vịt, trồng nấm, sắn dây. Tối tối mọi người còn cặm cụi phân từng hạt đậu phộng bỏ vào bọc nilông đem bán kiếm thêm mấy hào”.

Tiến sĩ Huy bùi ngùi nhớ mẹ mình hồi ấy đã lớn tuổi mà đêm đêm vẫn thức khuya nối len, đan mũ, khăn quàng để vun vén thêm nồi cơm cho cả nhà ba thế hệ.
“Đến giờ tôi vẫn có thói quen ăn cơm nguội bữa sáng, mà hồi ấy có chén cơm là quý lắm. Chỉ mẹ già và con còn nhỏ mới được ưu tiên, chúng tôi vẫn phải ăn độn bo bo” – tiến sĩ Huy tâm sự mình vẫn nhớ “hương” phân gián trong chén bo bo.

Cứu đói!
Nhiều nơi ở miền Nam mấy trăm năm chưa từng có chuyện thiếu miếng ăn, thế mà người dân thời kỳ này cũng phải bươn chải xoay gạo từng bữa. Cả xã hội vật vã kiếm ăn. Cả sinh viên cũng không thể toàn tâm ngồi ghế giảng đường.

Thầy giáo Nguyễn Xuân Thiệu, Trường tiểu học Nguyễn Văn Nguyên, huyện Đức Huệ, Long An, kể năm 1986 mình rời quê đi học sư phạm ở thị xã Tân An. Tiếng là ngành sư phạm được bao cấp hơn ngành khác, nhưng suốt thời gian dài người thầy này chỉ ăn hai bữa mỗi ngày, thậm chí một bữa. “Lương” sinh viên sư phạm 13kg gạo, sau được quy tiền. Cầm số tiền đó mà ra ngoài ăn dè sẻn nhất cũng chỉ năm ngày đã thiếu, nên 25 ngày còn lại là nồi cơm sinh viên tự nấu và độn đủ thứ từ bo bo đến bắp, khoai mì… Tất cả trông vào gạo nhà quê tiếp tế, nhiều đợt không có phải nấu cháo húp với muối ớt chứ không được nước mắm ớt.

Hồi tưởng thời kỳ thiếu đói, ông Lê Văn Triết – nguyên bộ trưởng Bộ Thương mại – ray rứt kể có những cuộc họp Chính phủ, Quốc hội thật nặng nề chuyện miếng cơm người dân.

Một lãnh đạo tỉnh Thanh Hóa họp Quốc hội bị chất vấn: tại sao tỉnh lúa Bắc Trung bộ lại để dân đói trầm trọng? Vị cán bộ này khóc ròng giữa Quốc hội và thừa nhận địa phương bất lực…

Ông Đoàn Duy Thành, nguyên phó chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, cũng có kỷ niệm ngậm ngùi Tết Nguyên đán năm 1988 với hơn 100 người chết đói ở Thanh Hóa vì tình hình kinh tế khó khăn, lạm phát chung lại thêm mất mùa nặng ở địa phương.

Tuy nhiên, theo ông Thành, con số này vẫn chưa đầy đủ vì nhiều nơi báo cáo thiếu. Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Phạm Hùng mới nhận chức định vào Nam ăn tết, phải ở lại Hà Nội lo chuyện cứu đói. Hai ông gặp nhau ngày tết mà nặng trĩu nỗi lo.

Là nhân chứng trong đoàn cán bộ cứu đói Thanh Hóa, ông Nguyễn Thành Thơ – tức Mười Thơ, nguyên phó bí thư Thành ủy TP.HCM – kể vừa xuống ga xe lửa đã sốc với cảnh dân lén lút bán gạo với giá đắt gấp nhiều lần bình thường.

Lúc đong gạo, vài hạt bị vương vãi dân tranh nhau lượm. Ông Mười Thơ hỏi cán bộ tỉnh: “Địa phương có gạo dự trữ không?”. Người này thở dài: “Còn một ít dự trữ, nhưng chỉ đủ cho cán bộ, nhân viên ăn thôi”.

Đi vào vùng thiếu đói Thanh Hóa, ông Mười Thơ tiếp tục sốc với những góc bếp không một hạt gạo nào, có nhà chỉ còn một vài củ khoai mì, bắp, thậm chí chỉ có những rổ lá cây dại mà dân vào rừng kháng chiến như ông cũng không biết có ăn được không.

Bà Cao Thị Hảo – nguyên cục phó Cục Cung cấp lương thực Bộ Lương thực – đi kiểm tra tình hình phân phối lương thực ở Thanh Hóa ám ảnh mãi cảnh: “Một bà cụ chống gậy từ trong nhà ra đón chúng tôi. Bà đi được vài bước thì ngã quỵ xuống không đứng lên nổi. Tôi hỏi người con thì nghe câu trả lời nhiều ngày nhà không còn gì ăn, bà cụ lả vì đói”.

Bà Hảo kể những thời điểm thiếu đói nghiêm trọng đến mức xe chở gạo miền Nam ra Hà Nội nhưng cứ phải đỗ dọc đường vì không thể qua được các nơi thiếu đói gay gắt như Thanh Hóa, Nghệ An. Chính bà Hảo phải điện khẩn cấp về Bộ Lương thực xin ứng ít gạo, bo bo để tạm cứu đói cho dân.
Nền kinh tế tập thể nông dân chỉ tồn tại trên giấy   và trên hình thức do cấp ủy địa phương sợ trung ương nên phải làm. Nông dân lại   sợ cấp ủy nên phải vào tập đoàn sản xuất hay hợp tác xã.  Năm 1976 sản lượng lúa bình quân trên một người   dân là 211kg thì đến năm 1980 chỉ còn 157kg. Kế hoạch năm năm 1976-1980 nâng   tổng sản lượng lúa lên gần gấp đôi vào khoảng 21 triệu tấn, nhưng đến năm   1980 chỉ đạt được khoảng một nửa, chưa bằng mức 11,827 triệu tấn của năm   1976.

…Do không thu mua được lương thực, người dân các   thành phố phải ăn độn. Thủ đô Hà Nội khẩu phần định lượng được mua giá cung cấp   0,40 đồng/kg vốn đã ít ỏi (13 kg/người/tháng), đến tháng 3-1978 thực tế chỉ   còn được 4kg gạo, còn lại là khoai lang, sắn khô… Chưa bao giờ tình trạng   thiếu hụt lương thực lại trầm trọng như vậy, kể cả thời chiến. Thường trực   Ban bí thư Nguyễn Duy Trinh phải điện khẩn các tỉnh nông nghiệp Hải Hưng,   Hà
Bắc, Thái Bình, Hà Nam Ninh bằng mọi cách “làm nhiệm   vụ chính trị” cung cấp gạo cho Hà Nội. Từ tháng 4 năm đó, số gạo đủ để bán   cho mỗi nhân khẩu cũng chỉ bằng 40% tiêu chuẩn định lượng.
Nhà nghiên cứu ĐẶNG PHONG
Đêm Dài Đói Khát
Quốc Việt – Tuổi Trẻ – 4 April 2015
Xếp hàng mua gạo
Xếp hàng mua gạo
Thời khan hiếm miếng ăn, người ta hay nghĩ ai có chân trong công ty lương thực là mèo sa hũ mỡ, nhưng thực tế không hẳn ai cũng vậy. Bà Nguyễn Thị Kim Anh, cán bộ văn phòng Công ty Lương thực TP.HCM từ thời còn là tổ thu mua, vẫn nhớ chế độ được mua gạo của mình cũng thiếu hụt như mọi người.

Mãi khi gạo miền Tây về thành phố nhiều hơn, bà mới được nâng suất lên 25kg gạo mỗi tháng. Tuy nhiên, bọc gạo ấy chẳng thấm vào đâu với sáu miệng ăn trong nhà, bữa cơm cũng lẫn lộn hạt bo bo.
“Ba má tôi hồi ấy lớn tuổi rồi, không nhai bo bo được mà có cố nuốt chửng vào cũng không tiêu nổi. Chị em tôi phải nhường cơm cho ba má. Lo sáu cái bao tử trong nhà đã vã mồ hôi, tụi tôi còn phải chia sẻ thêm cho dòng họ lúc ấy còn đói hơn mình”- bà Kim Anh nhớ những ngày ghé thăm nhà người chú đang nuôi bốn con ăn học ở Thanh Đa.

Trước năm 1975, người chú này bán phụ tùng xe máy, sau giải phóng tình hình kinh doanh bết bát phải về Bình Quới làm vườn. Nồi chỉ bo bo độn khoai mì mà cũng thường hụt miệng ăn. Chị chia phần gạo ít ỏi của nhà mình qua cho nhà chú vẫn không đủ, phải sẻ thêm cả bo bo.

Hũ gạo cán bộ nhà nước có chế độ hẳn hoi mà còn thiếu hụt, tình hình ngoài dân rất căng thẳng. Ông Trần Văn Đức, dân kinh tế mới, chạy lên ở khu Mã Lạng, quận 1, đợt miền Tây lụt nặng năm 1978.
Nhiều đợt cả tháng liền vợ chồng ông Đức chỉ ăn bo bo để dành gạo nấu cơm, cháo cho con. Có tối bà vợ loay hoay lo ba đứa nhỏ, quên ngâm bo bo để sáng kịp nấu sớm cho chồng đi đạp xích lô.
Ông thức dậy, đói quá, đổ đại vốc bo bo khô vô nồi nấu suốt gần hai giờ, hạt bo bo chưa được ngâm vẫn cứng.

“Nhai đâu có nổi, tôi phải cố nuốt trộng xuống bụng, bị nghẹn suýt tắc thở. Tôi ngã lăn ra. Bà vợ tưởng chồng bị tai biến vừa khóc vừa la làng. Hàng xóm chạy sang thấy tôi ho ói được mớ bo bo nguyên hột ra ngoài”. Cái bao tử không thể nghiền được hạt bo bo!

Không chỉ dân kinh tế mới quá khó khăn, nhiều người có nhà cửa, sinh kế bình thường ở TP.HCM lúc ấy vẫn nhai đều khoai mì, khoai lang, bo bo độn cơm.

Bà Trần Thanh Thủy, ở đường Phạm Văn Hai, quận Tân Bình, nhớ mãi: “Con gái tôi lúc ấy vừa 7 tuổi, mới thay răng. Một hôm cháu đang ăn tự nhiên máu chảy đầy miệng. Tôi bắt cháu phun ra thì thấy trong mớ bo bo có cả cái răng non bị gãy. Hóa ra nhà hết vôi, tôi chỉ ngâm bo bo vài giờ trong nước nên nấu lẫn cơm bo bo không mềm ra được”.

Nguyên cục phó Cục Cung cấp lương thực Bộ Lương thực, bà Cao Thị Hảo chính là nhân chứng thời cả nước phải chạy vạy từng hạt gạo, hạt bo bo, khoai sắn.

Bà tâm sự: “Nhiều đợt các kho lương thực Hà Nội cạn sạch. Gạo cung cấp cho dân dù chỉ là chế độ tem phiếu 9kg, 13kg nhỏ giọt cũng không còn. Tin đồn hết gạo lan nhanh như đám cháy nhà.
Dân đổ xô đi lùng sục, vét nhẵn tất cả những gì còn lại. Gạo bán lén lút ngoài vỉa hè theo tin đồn giá nhảy lên vùn vụt”.

Chính bà Hảo nhiều ngày ra cảng Hải Phòng chờ chực lương thực về. Tình hình căng đến mức bà phải xin xoay trước cho Hà Nội năm xe gạo nhỏ để “chữa cháy” tin đồn mặc dù thực chất nó chưa đủ cho một tổ dân phố ăn vài ngày.

Năm xe mở bạt cứ chạy vòng phố xá Hà Nội để dân thấy “đầy gạo” mà yên tâm. Đến cửa hàng lương thực, tài xế còn vờ dừng lại cố tình cho dân nhìn cảnh gạo về kho. Rồi xe lại qua cửa hàng khác. Hình ảnh “gạo về kho” tiếp diễn …

Nhà bà Hảo có năm miệng ăn gồm hai vợ chồng, ba đứa con với hai suất gạo 13 kg và 4-5kg cho mỗi con tùy độ tuổi. Nguồn gạo tem phiếu thiếu hụt mỗi tháng thành nỗi ám ảnh, còn thêm nỗi lo con cháu ở quê lên nương tựa ăn học.

Bà nhớ mãi: “Nhường bọn nhỏ đang tuổi ăn tuổi lớn, tôi không ăn sáng, đạp xe đi làm. Nhiều hôm đạp từ Bộ Lương thực ở phố Ngô Quyền về đến Ngã Tư Sở người cứ lả đi. Khi mở nắp nồi thì lưng chén cơm nguội cũng không còn. Con cháu đang tuổi ăn kiềm chế không nổi”.

Làm ở Bộ Lương thực mà vẫn phải ăn cơm độn ê cả răng, nhưng bà Hảo thừa nhận dù sao mình vẫn đỡ. Có lần bà đi kiểm tra cửa hàng lương thực thấy thầy hiệu trưởng Trường đại học Ngoại thương một thời của mình đang lom khom vác bao bo bo từ xe tải vào cửa hàng.

Bà Hảo thảng thốt: “Ôi! Thầy ơi, sao thầy vất vả thế này?”. Người thầy ngại nhìn học trò cũ, mắt mờ đục: “Nhà hết nhẵn cái ăn rồi. Con lại đang bệnh. Cửa hàng trưởng nói ai chịu khó vác bo bo vào sẽ ưu tiên cho mua trước, mà xếp hàng muộn cũng chẳng còn để mua nữa”.

Sau năm 1975, với tiêu chuẩn phân phối trung bình 9kg gạo mỗi người thì 4 triệu dân phải cần 530.000 tấn gạo. Nhưng số lượng này không được đảm bảo khi Nhà nước chỉ có thể huy động nổi hơn 1 triệu tấn mỗi năm trên toàn quốc.

Còn sản lượng của cả vựa lúa miền Nam từ mức 1,9 triệu tấn năm 1976 cứ tụt dần xuống còn 0,99 triệu tấn năm 1977 và 0,64 triệu tấn năm 1979.

TP.HCM mặc dù rất cố gắng, nhưng những năm 1970-1980 chỉ phân phối được trung bình 6kg gạo cho mỗi người dân.

Theo nhà nghiên cứu Đặng Phong, đô thị lớn nhất miền Nam từ thừa mứa gạo trong suốt 300 năm qua, lần đầu phải ăn độn khoai mì, khoai lang, kể cả bo bo, thứ hạt cứng ngắc mà Liên Xô viện trợ.

Bo Bo Từ Đâu Ra?

Quốc Việt – Tuổi Trẻ – 08 April 2015
bo bo 1
TT - Sau khi thị sát tình hình Nam bộ, phó thủ tướng Phạm Hùng phát biểu ngày 10-9-1979 ở TP.HCM: “Nhiều tỉnh đã tiến hành tập thể hóa theo kiểu mệnh lệnh, gò ép.

Chẳng những thế còn có tình hình ức hiếp, còng kẹp, tập trung học tập để gò ép vào tập đoàn. Các tập đoàn không có nội dung nhưng vì sợ phê bình làm chậm nên thành lập vội vã. Có nơi tình hình này rất nghiêm trọng: đánh trói nông dân, bắt tập trung học tập cải tạo cho thông rồi mới cho về…”.

Hậu quả là sản lượng lương thực Nhà nước huy động trong năm 1979 chỉ còn được 1,45 triệu tấn, sút giảm nghiêm trọng so với 2,04 triệu tấn năm 1976. Sản lượng lúa đầu người, tức nồi cơm người dân, cũng giảm từ 211 kg/người năm 1976 xuống còn 157 kg/người năm 1980.

Bo bo cứu đói
Trong hồi ký của mình, nguyên phó thủ tướng Trần Phương kể: “Nhiệm vụ nặng nhất của Chính phủ và của phó thủ tướng phụ trách lưu thông hồi ấy là chạy gạo. Nhu cầu gạo ăn và thóc giống mỗi năm phải đảm bảo tối thiểu 300kg thóc/đầu người.

Dưới mức ấy phải “vác rá” đi xin viện trợ của các nước anh em hoặc vay nợ để mua lương thực”. Chính vì tình hình nghiêm trọng như vậy nên cơ cấu bữa ăn được độn cả rau, khoai vào, mà đặc biệt là bo bo đã thành nỗi ám ảnh của người dân.

Giáo sư Nguyễn Văn Luật, nguyên viện trưởng Viện Lúa đồng bằng sông Cửu Long, kể khi còn đi học đã thấy Liên Xô và nhiều nước khác trồng bo bo, nhưng họ ít sử dụng trực tiếp làm thực phẩm cho con người.

Tinh bột chủ yếu trong bữa ăn của họ là khoai tây, bột mì đã qua chế biến và một ít cơm gạo. Loại bo bo mà dân Việt một thời phải trệu trạo nhai để sinh tồn còn gọi lúa miến (sorghum), là loại cây chịu hạn rất tốt.

Vẻ ngoài của nó rất giống cây bắp, nhưng trổ ra chùm nhiều hạt nhỏ như hạt đậu ở phần ngọn. Bo bo có vỏ rất cứng không thể nấu ăn trực tiếp như kiểu người Việt từng phải ăn. Liên Xô, Ấn Độ cùng một số nước khác từng viện trợ và bán nợ bo bo cho VN làm lương thực. Ngoài ra cũng có một số thực hiện theo nghị định thư hàng đổi hàng.

Ngoài bo bo, người dân VN còn ăn độn lúa mì và lúa mạch nguyên hạt chưa xay, được quen gọi chung là bo bo. Theo giáo sư Mai Văn Quyền – chuyên gia cây lương thực, từ thời chiến miền Bắc VN đã nhập lúa mì (wheat) nguyên hạt từ Liên Xô về làm lương thực tạm.

Để làm thực phẩm cho con người phải qua xay xát thải cám, lên men thành bột mì nhưng nhiều đợt VN không có điều kiện làm kịp nên đưa thẳng đến người dân. Ngoài cách ngâm nước, nấu lâu để ăn trực tiếp như cơm, người dân còn tự giã làm bột, nhưng vẫn dai cứng do không lên men được.

Đặc biệt, lúa mì được nhập thời kỳ ấy có phẩm cấp thấp từ đầu nguồn, lại tiếp tục bị suy giảm ở khâu vận chuyển nên thành “miếng khổ nhớ đời”. Miền Bắc từng trồng thử lúa mì vào vụ đông xuân với năng suất 2-3 tấn mỗi mẫu trong thời gian 80-90 ngày nhưng không phát triển đại trà được vì sâu bệnh…

Riêng lúa mạch (barley) chủ yếu dùng trong công nghiệp chế biến rượu bia, thức ăn gia súc và nhiên liệu sinh học. Một số ít được làm bánh kẹo truyền thống nhưng phải qua xay xát kỹ và trộn thêm với các loại bột khác như bột mì, bắp và sữa.

Nó không được làm thức ăn trực tiếp như gạo nấu cơm ăn ngay cho con người. Tuy nhiên, người VN cũng từng trệu trao nhai nó trong thời đói kém

Từng được trồng, nhưng dân chê
Giáo sư Võ Tòng Xuân nhớ: “Năm 1972, miền Nam đưa hạt giống bo bo, tức lúa miến, về trồng trong chương trình đa canh hóa. Đầu tiên bo bo được trồng thí nghiệm ở Cần Thơ và Bình Đức, An Giang. Sau mùa thu hoạch lúa nổi tháng 12, hạt bo bo được gieo.

Hồi ấy vùng đất này rất màu mỡ nhờ phù sa lũ và rơm rạ sau vụ lúa. Sản lượng bo bo trồng khoảng 3-4 tấn/ha qua ba tháng”. Sau năm 1975, bo bo tiếp tục được trồng ở vùng này trong chương trình mở rộng nguồn lương thực vì hoàn cảnh khó khăn. Tuy nhiên nó không được phát triển đại trà vì bị dân chê khó ăn.

Giáo sư Luật chưa quên miền Bắc sau năm 1975 cũng trồng thử cây này nhưng không thể mở rộng vì năng suất kém. Vợ ông Luật từng nhận ít hạt bo bo về trồng ở vườn mà chưa lần nào được ăn.
Mới đầu hàng xóm tưởng giống bắp mới, nhưng nó không cho trái lớn mà đậu thành từng chùm hạt tròn và bị sâu bệnh phá hoại dữ dội. Hiện nay hầu như chỉ một số vùng núi Tây Bắc và Bắc Trung bộ còn lẻ tẻ trồng bo bo phù hợp với đất khô nóng.

Hồi khó khăn, gia đình ông Luật ở Thanh Trì, Hà Nội, được phân phối bo bo. Với tem phiếu giáo viên, bà Trần Thị Minh Thu, vợ ông, được mua 13kg lương thực. Có đợt bà nhận một nửa bo bo, nửa gạo, có đợt toàn bo bo.

“Hồi ấy đói khủng khiếp. Những nhà không có tem phiếu càng đói gay gắt. Bây giờ nghĩ lại không hiểu sao mình ăn bo bo nổi. Thế mà hồi ấy nó vẫn bị người ta ăn cắp vì quá đói”- bà Thu kể mình đi dạy cất bọc bo bo ở góc phòng bị lấy mất.

Bà phải vay tiền ra mua tạm ngoài chợ đen với giá đắt hơn gấp mấy lần. Con bà lúc ấy mới 5 tuổi cũng phải nhai bo bo cứng ngắc, nên nhà lúc nào cũng lộp cộp tiếng giã bo bo trong cối giã cua…

Đến giờ ông Nguyễn Nhật Tân, lúc đó là thứ trưởng Bộ Ngoại thương, vẫn nhớ chính vì bữa ăn người dân khổ sở như vậy nên Chính phủ phải căng thẳng xoay xở. Tàu vận chuyển vừa về Hải Phòng hay TP.HCM là phải nhanh chóng bốc dỡ đưa về hệ thống phân phối quốc doanh cho dân ăn.

Có giai đoạn việc dỡ hàng bị chậm trễ trong lúc dân thiếu đói gay gắt, chính các ông Đỗ Mười, Đinh Đức Thiện và Đồng Sỹ Nguyên đều phải lần lượt xuống giải tỏa bằng kỷ luật quân đội.

Lãnh đạo các tỉnh trông vào nguồn lương thực từ cảng Hải Phòng cũng dồn về. Nhiều đêm đến 2g sáng họ còn đứng ở cảng. Nhưng họ vừa về Hà Nội tình hình lại như cũ, kể cả nạn ăn cắp bùng nổ. Công nhân quá khổ không trộm được nguyên bao thì dùng ống sắt, ống trúc chọc thủng bao bo bo, gạo cho chảy vào túi mình.

Thứ Bảy, 18 tháng 4, 2015

Tướng về hưu (Nguyễn Huy Thiệp)



Tướng Về Hưu
Tác giả: Nguyễn Huy Thiệp

I

Khi viết những dòng này, tôi đã thức tỉnh trong vài người quen những cảm xúc mà thời gian đã xóa nhòa, và tôi đã xâm phạm đến cõi yên tĩnh nấm mồ của chính cha tôi. Tôi buộc lòng làm vậy, và xin người đọc nể nang những tình cảm đã thúc đẩy tôi viết mà lượng thứ cho ngòi bút kém cỏi của tôi. Tình cảm này, tôi xin nói trước, là sự bênh vực của tôi đối với cha mình.


Cha tôi tên là Thuấn, con trưởng họ Nguyễn. Trong làng, họ Nguyễn là họ lớn, số lượng trai đinh có lẽ chỉ thua họ Vũ. Ông nội tôi trước kia học Nho, sau về dạy học. Ông nội tôi có hai vợ. Bà cả sinh được cha tôi ít ngày thì mất, vì vậy ông tôi phải tục huyền. Bà hai làm nghề nhuộm vải, tôi không tường mặt, chỉ nghe nói là một người đàn bà cay nghiệt vô cùng. Sống với dì ghẻ, cha tôi trong tuổi niên thiếu đã phải chịu đựng nhiều điều cay đắng. Năm mười hai tuổi, cha tôi trốn nhà ra đi. Ông vào bộ đội, ít khi về nhà.

Khoảng năm... cha tôi về làng lấy vợ. Chắc chắn cuộc hôn nhân này không do tình yêu. Mười ngày nghỉ phép bề bộn công việc. Tình yêu đòi hỏi điều kiện, trong đó thời gian cũng cần.
Khi lớn lên, tôi chăng biết gì về cha mình cả. Tôi chắc mẹ tôi hiểu về cha tôi cũng ít. Cả đời cha tôi gắn với súng đạn, chiến tranh.

Tôi đi làm, lấy vợ, sinh con. Mẹ tôi già đi. Cha tôi vẫn đi biền biệt. Thỉnh thoảng cha tôi cũng ghé về nhà, nhưng những lần về đều ngắn. Cả những bức thư cha tôi gửi về cũng ngắn, dầu rằng dưới những dòng chữ, tôi biết ở đấy ẩn chứa nhiều tình thương cùng với âu lo.

Tôi là con một, tôi đã chịu ơn cha tôi về đủ mọi mặt. Tôi được học hành, được du ngoại. Cả những cơ sở vật chất gia đình cũng do cha tôi lo liệu. Ngôi nhà tôi ở ven nội, xây dựng trước khi cha tôi về hưu tám năm. Đấy là một biệt thự đẹp nhưng khá bất tiện, tôi đã xây cất dựa theo thiết kế của một chuyên gia kiến trúc trứ danh, bạn của cha tôi, ông này đại tá, chỉ thạo việc xây doanh trại.

Năm bẩy mươi tuổi, cha tôi về hưu với hàm thiếu tướng.

Mặc dầu biết trước, tôi vẫn ngỡ ngàng khi cha tôi về. Mẹ tôi đã lẫn (bà hơn cha tôi sáu tuổi), vì vậy thực ra ở nhà chỉ có mình tôi có những tình cảm đặc biệt với sự kiện này. Mấy đứa con tôi còn bé. Vợ tôi biết ít về ông, vì hai chúng tôi lấy nhau khi mà cha tôi đang bặt tin tức. Bấy giờ đang có chiến tranh. Tuy thế, ở trong gia đình, cha tôi bao giờ cũng là hình ảnh của niềm vinh dự, tự hào. Cả ở trong họ, trong làng, tên tuổi cha tôi cũng được mọi người ngưỡng vọng.

Cha tôi về nhà, đồ đạc đơn sơ. Cha tôi khỏe. Ông bảo: "Việc lớn trong đời cha làm xong rồi!” Tôi bảo: "Vâng". Cha tôi cười. Tâm trạng xúc động lây sang cả nhà, mọi người chuếnh choáng đến nửa tháng trời, sinh hoạt tùy tiện, có hôm mười hai giờ đêm mới ăn cơm chiều. Khách khứa đến chơi nườm nượp. Vợ tôi bảo: "Không để thế được". Tôi cho mổ lợn, đi mời họ hàng làng nước đến để chia vui. Làng tôi tuy gần thành phố nhưng mà tập tục nông thôn còn giữ. Đúng một tháng sau, tôi mới có dịp ngồi với cha tôi bàn chuyện gia đình.


II

Trước khi kể tiếp, xin nói về gia đình tôi. Tôi ba mươi bẫy tuổi, là kỹ sư, làm việc ở Viện Vật lý. Thủy, vợ tôi, là bác sĩ, làm việc ở bệnh viện sản. Chúng tôi có hai con gái, đứa mười bốn, đứa mười hai. Mẹ tôi lẫn lộn, suốt ngày chỉ ngồi một chỗ.

Ngoài những người trên, gia đình tôi còn có ông Cơ và cô con gái gàn dở của ông. Ông Cơ sáu mươi tuổi, quê Thanh Hóa. Vợ tôi gặp cha con ông khi nhà của họ bị cháy, cơ nghiệp mất sạch. Thấy cha con ông tốt bụng, đáng thương, vợ tôi sắp xếp cho họ ở với chúng tôi. Cha con ông ở dưới nhà ngang, sinh hoạt riêng rẽ nhưng mọi chế độ thì do vợ tôi chu cấp. Không có hộ khẩu, họ không có những tiêu chuẩn lương thực, thực phẩm như những người dân khác trong thành phố. Ông Cơ hiền lành, chịu khó. Thường ông đảm nhiệm việc chăm vườn tược, lợn gà và đàn chó giống. Nhà tôi nuôi chó béc-giê. Tôi cũng không ngờ việc kinh doanh chó lại thu lợi lớn. Khoản thu này trội nhất trong nhà.

Cô Lài mặc dầu gàn dở nhưng lại xốc vác và nội trợ giỏi. Vợ tôi dạy cô cách thức nấu bóng, nấu nấm, nấu gà hầm. Cô bảo: " Cháu chẳng ăn thế bao giờ". Cô không ăn thật. Cả hai vợ chồng và hai con tôi không phải lo toan công việc gia đình. Từ ăn uống, giặt giũ, tất cả giao cho hai người giúp việc. Vợ tôi cầm chịch các khoản chi tiêu. Tôi bận nhiều việc, hiện đang vùi đầu vào công trình ứng dụng điện phân. Cũng cần nói thêm: quan hệ tình cảm của vợ chồng tôi êm thấm. Thủy có học thức, sống theo lối mới. Chúng tôi suy nghĩ độc lập, nhìn nhận vấn đề xã hội tương đối giản dị. Thủy am tường các việc lo liệu kinh tế cũng như dạy dỗ con cái. Còn tôi, hình như tôi khá cổ hủ, đầy bất trắc và thô vụng.


III


Tôi quay lại đoạn kể cha con tôi bàn việc gia đình. Cha tôi bảo: "Nghỉ rồi, cha làm gì?" Tôi bảo: "Viết hồi ký". Cha tôi bảo: Không!. Vợ tôi bảo: Cha nuôi vẹt xem". Trên phố dạo này nhiều người nuôi chim hoạ mi, chim vẹt. Cha tôi bảo: "Kiếm tiền à?" Vợ tôi không trả lời. Cha tôi bảo: "Để xem đã!" Cha tôi cho mỗi người trong nhà bốn mét vải lính. Ông Cơ và cả cô Lài cũng thế. Tôi cười: "Cha bình quân! " Cha tôi bảo: "Đấy là lẽ sống". Vợ tôi bảo: "Cả nhà đồng phục thì thành doanh trại". Mọi người cười ồ.

Cha tôi muốn ở một phòng dưới dãy nhà ngang giống như mẹ tôi. Vợ tôi không chịu. Cha tôi buồn. Việc để mẹ tôi ăn riêng, ở riêng làm ông bứt rứt. Vợ tôi bảo: Tại mẹ lẫn". Cha tôi đăm chiêu. Tôi cũng không hiểu sao hai đứa con gái của tôi ít gần ông nội. Tôi cho chúng học ngoại ngữ, học nhạc. Chúng lúc nào cũng bận. Cha tôi bảo: "Các cháu có sách gì mang cho ông đọc". Cái Mi cười. Còn cái Vi bảo: "Ông thích đọc gì?" Cha tôi bảo: " Cái gì dễ đọc". Hai đứa bảo: "Thế thì không có". Tôi đặt báo hàng ngày cho ông. Cha tôi không thích văn học. Văn chương nghệ thuật bây giờ đọc rất khó vào.

Một hôm tôi đi làm về, cha tôi đứng ở dãy nhà vợ tôi nuôi chó và gà công nghiệp. Trông ông không vui. Tôi hỏi: " Có chuyện gì thế?” Ông bảo: "ông Cơ và cô Lài vất vả quá. Họ làm không hết việc, cha muốn giúp họ được không?" Tôi bảo: "Để con hỏi Thủy". Vợ tôi bảo: "Cha là tướng, về hưu cha vẫn là tướng. Cha là chỉ huy. Cha mà làm lính thì dễ loạn cờ". Cha tôi không nói năng gì. Cha tôi nghỉ hưu nhưng khách khứa nhiều. Điều đó làm tôi ngạc nhiên, thậm chí thích thú. Vợ tôi bảo: "Đừng mừng... họ chỉ nhờ vả. Cha ạ, cha đừng làm gì quá sức". Cha tôi cười: "Chẳng có gì đâu... cha chỉ viết thư. Thí dụ: Thân gửi N. tư lệnh quân khu... Tôi viết thư này cho cậu... Hơn năm mươi năm, đây là lần đầu tôi ăn tết mồng ba tháng ba dưới mái nhà mình. Hồi ở chiến trường, hai đứa chúng mình đã từng mơ ước v. v... Cậu nhớ cái xóm ven đường, cô Huệ đã làm bánh trôi bằng bột mì mốc. Bột mì bê bết trên lưng v.v... Nhân đây M. là người tôi quen, muốn được công tác dưới quyền của cậ u v.v... ". Cha viết như thế được không?" Tôi bảo: "Được". Vợ tôi bảo: Không được! " Cha tôi gãi cằm: Người ta nhờ mình".

Cha tôi thường bỏ thư viết vào phong bì đựng công văn bằng giấy cứng, cỡ 20x30, trên có in chữ Bộ quôé phòng, rồi đưa cho người nhờ vả mang đi. Sau ba tháng, hết sạch loại phong bì ấy. Ông làm phong bì bằng giấy bìa học sinh cũng to bằng cỡ 20x30. Một năm sau, ông cho thư vào thứ phong bì bình thường vẫn bán ở quầy bưu điện, giá năm đồng một chục cái.

Tháng bảy năm ấy, tức là ba tháng sau ngày cha tôi về nghỉ, chú họ tôi, ông Bổng, cưới vợ cho con.


IV


Ông Bổng với cha tôi là anh em cùng cha khác mẹ. Thằng Tuân con trai ông làm nghề đánh xe bò. Hai cha con đều ghê gớm, to như hộ pháp, ăn nói văng mạng. Thằng Tuân lấy vợ lần này là lần thứ hai. Vợ trước bị đánh đau quá, bỏ đi. Ra tòa, nó khai là vợ theo trai, tòa phải chịu. Cô vợ lần này tên là Kim Chi, làm nghề nuôi dạy trẻ, con nhà có học hẳn hoi, xí xớn thế nào nghe nói có thai với nó. Kim Chi là cô gái đẹp, làm vợ thằng Tuân đúng là "hoa nhài cắm bãi cứt trâ u ". Thâm tâm chúng tôi không ưa cha con ông Bổng, khốn nỗi "một giọt máu đào hơn ao nước lã", giỗ tết vẫn phải đi lại, nhưng mà ngày thường cũng nhạt. Ông Bổng hay nói: "Quân trí thức khốn nạn! Rẻ dân lao động! Nể bố nó, không tôi cạch cửa!" Nói thế thôi, ông Bổng vẫn sang vay tiền. Vợ tôi khe khắt, bao giờ cũng bắt ông phải ký cược. Ông Bổng rất ức, ông nói: "Mình là chú nó, trót vay nợ nó mà nó cư xử hệt như địa chủ". Nhiều món nợ ông cứ lờ đi không trả. Cưới vợ cho con, ông Bổng nói với cha tôi: "Anh phải đứng ra chủ hôn, bố cháu Kim Chi vụ phó, anh là tướng, thế là "môn đăng hộ đôí ". Sau này các cháu nhờ phúc của ông, như tôi là thằng phu xe, báu gì. " Cha tôi bằng lòng.

Đám cưới ngoại ô lố lăng và khá dung tục. Ba ô tô. Thuốc lá đầu lọc nhưng gần cuối tiệc hết sạch, phải thay bằng thuốc lá cuốn. Năm mươi mâm cỗ nhưng ế mười hai. Chàng rể mặc comlê đen, cravat đỏ. Tôi phải cho mượn cái cravat đẹp nhất trong tủ áo. Nói là mượn, chắc gì đòi được. Phù rể là sáu thanh niên ăn mặc hệt nhau, đều quần bò, râu ria rất hãi. Đầu tiệc là dàn nhạc sống chơi bài Ave Maria. Một anh cùng hợp tác xã xe bò thằng Tuân nhảy lên đơn ca một bài khủng khiếp:

ừ ê cái con gà quay
Ta đi lang thang khắp miền giang hồ
Tìm nơi nào có tiền
Tiền ơi, mau vào túi ta
ừ.. e... cái con gà rù...

Sau đó đến lượt cha tôi. Ông luống cuống, khổ sở. Bài văn chuẩn bị công phu hóa thừa. Kèn clarinét đệm rất bậy bạ sau dấu chấm câu. Pháo ầm ĩ. Trẻ con bình luận nhảm nhí. Cha tôi nhảy cóc từng đoạn. Ông cầm tờ giấy mà run bắn người. Một sự ô hợp láo nháo thản nhiên rất đời, thô thiển, thậm chí còn ô trọc nữa làm ông kinh hãi, đau đớn. Ông vụ phó thông gia cũng đâm hoảng hốt, luống cuống, làm đổ cả rượu xuống váy cô dâu. Chẳng nghe thấy gì. Dàn nhạc sống át đi bằng nhừng ca khúc vui vẻ quen thuộc của các ban nhạc Beatles và Abba. Sau đó, rắc rối đầu tiên đến với cha tôi là việc Kim Chi sinh cháu chỉ sau hôm cưới chục ngày. Gia đình ông Bổng bê bối. Ông say rượu, tống cổ cô con dâu ra cửa. Thằng Tuân cầm dao chém bố, may trượt.

Vô phương, cha tôi phải đón cháu dâu về nhà. Gia đình tôi thêm hai khẩu. Vợ tôi không nói năng gì Cô Lài thêm một trách nhiệm. Được cái cô Lài vô tâm, tính lại yêu trẻ.


V


Một tối, tôi đang đọc Sputnhich, cha tôi lặng lẽ đi vào. Ông bảo: “Cha muốn nói chuyện với con". Tôi pha cà phê, cha tôi không uống. Ông hỏi: “Con có để ý công việc của Thủy không con? Cha cứ rờn rợn".

Vợ tôi làm việc ở bệnh viện sản, công việc là nạo phá thai. Hàng ngày các rau thai nhi bỏ đi, Thủy cho vào phích đá đem về. Ông Cơ nấu lên cho chó, cho lợn. Thực ra điều này tôi biết nhưng cũng bỏ qua, chẳng quan trọng gì. Cha tôi dắt tôi xuống bếp, chỉ vào nồi cám, trong đó có các mẩu thai nhi bé xíu. Tôi lặng đi. Cha tôi khóc. Ông cầm phích đá ném vào đàn chó béc giê: "Khốn nạn! Tao không cần sự giàu có này”. Đàn chó sủa vang. Ông bỏ lên nhà. Vợ tôi di vào nói với ông Cơ: "Sao không cho vào máy xát? Sao để ông biết?! ông Cơ bảo: “Cháu quên, cháu xin lỗi mợ".

Tháng mười hai, vợ tôi gọi người bán sạch đàn chó béc giê. Vợ tôi bảo: "Anh thôi hút thuốc Galăng đi. Năm nay nhà mình hụt thu hai mươi bảy nghìn, chi lạm mười tám nghìn, cộng là bốn mươi lăm nghìn". Kim Chi hết thời gian nghỉ, đi làm. Nó bảo: “Cám ơn anh chị, em đưa con về nhà đây". Tôi hỏi: "Về đâu?" Thằng Tuân đã bị bắt giam vì tội côn đồ. Kim Chi đưa con về nhà của bố mẹ đẻ. Cha tôi đưa về tận nơi bằng xe tắcxi thuê riêng. Cha tôi ở chơi với ông vụ phó bố của Kim Chi một ngày. Ông này vừa đi công tác ở ấn Độ về, ông biếu cha tôi một mảnh lụa hoa và nửa lạng cao tổng hợp. Cha tôi cho cô Lài mảnh lụa hoa, cho ông Cơ nửa lạng cao.

Trước tết Nguyên đán, ông Cơ nói với hai vợ chồng tôi: "Cháu xin cậu mợ một việc". Vợ tôi hỏi: "Việc gì?" ông Cơ nói vòng vèo, chẳng đâu vào đâu. Đại để ông muốn về thăm quê. ở với chúng tôi sáu năm, cũng có dành dụm, ông Cơ muốn về bốc mộ bà vợ. Để lâu ngày chắc ván đã sụt. “Nghĩa tử là nghĩa tận". ở thành phố, cũng muốn về thăm họ hàng làng xóm cho nó mát mặt. Bây giờ đã vậy, sau này "cáo chết ba năm quay đầu về núi". Vợ tôi cắt lời: "Thế bao giờ đi?" ông Cơ gãi đầu: "Đi mười ngày, về Hà Nội trước hăm ba tết". Vợ tôi tính: "Được. Anh Thuần này (Thuần là tên tôi), anh có nghỉ phép được không?” Tôi bảo: "Được". Ông Cơ bảo: "Chúng cháu muốn mời ông về quê chơi. Như đi du lịch". Vợ tôi bảo: "Tôi không thích. Thế ông bảo sao?" ông Cơ bảo: "Ông đồng ý rồi. Không có ông, cháu cũng chẳng nhớ đến việc cải mộ nhà cháu”. Vợ tôi hỏi: "Thế hai cha con có bao nhiêu tiền?" ông Cơ bảo: "C háu có ba nghìn, ông cho hai nghìn là năm". Vợ tôi bảo: "Được, đừng lấy hai nghìn của ông, tôi bù cho hai nghìn ấy, lại cho thêm năm nghìn. Thế là hai cha con có chục nghìn. Đi được".

Trước hôm đi, vợ tôi làm cơm. Cả nhà ngồi ăn, có cả ông Cơ, cô Lài. Cô Lài vui lắm, mặc bộ quần áo mới may bằng vải cha tôi cho hôm về. Cái Mi và Cái Vi trêu: "Chị Lài xinh nhất". Cô Lài cười thỏn thẻn: "Chả phải. Mợ mới xinh nhất". Vợ tôi bảo: "Em đi chú ý đỡ ông những khi tàu xe". Cha tôi bảo: "Hay thôi không đi?" ông Cơ giãy nảy: "Chết, cháu đã điện rồi: Mang tiếng chết". Cha tôi thở dài: "Tôi có tiếng gì mà mang”."


VII


Cha tôi đi Thanh Hóa cùng ông Cơ và cô Lài vào sáng chủ nhật. Tối thứ hai, tôi đang xem tivi thì nghe tiếng "huỵch”, vội chạy ra ngoài thấy mẹ tôi ngã gục góc vườn. Mẹ tôi lẫn bốn năm nay, cho ăn biết ăn, cho uống biết uống, phải giục đi ngoài. Mọi hôm có cô Lài săn sóc không sao. Hôm nay, tôi sơ ý, cho ăn mà không giục đi ngoài. Tôi đỡ mẹ tôi vào, bà cụ cứ gục mặt xuống. Không thấy có vết đau. Nửa đêm tôi dậy, thấy mẹ tôi lạnh toát, mắt dại đi. Tôi sợ, gọi vợ tôi. Thủy bảo: "Mẹ già rồi". Hôm sau mẹ tôi không ăn, hôm sau nữa, cũng không ăn, không chủ động đi ngoài. Tôi giặt giũ, thay chiếu. Có ngày mười hai lần. Tôi biết Thủy và hai con tôi ưa sạch sẽ nên tôi thay giặt luôn, không giũ ở nhà mà mang ra tận kênh đào. Thuốc đổ vào cứ trớ ra.

Hôm thứ bẩy, mẹ tôi bỗng ngồi dậy được. Đi lững thững một mình ra vườn. ăn được cơm. Tôi bảo: " Mừng rồi". Vợ tôi không nói năng gì, chiều hôm ấy thấy mang về chục mét vải trắng, lại gọi cả thợ mộc. Tôi hỏi: "Chuẩn bị à?" Vợ tôi bảo: "Không". Hai hôm sau, mẹ tôi nằm liệt, lại bỏ ăn, lại đi ngoài như cũ. Người dốc nhanh, thải ra thứ nước nâu sền sệt rất khắm. Tôi đổ sâm. Vợ tôi bảo: “Đừng đổ sâm, khổ cho mẹ". Tôi òa khóc. Rất lâu tôi mới òa khóc như thế. Vợ tôi nín lặng, rồi lại bảo: "Tùy anh”. Ông Bổng sang thăm. Ông nói: “Bà ấy cứ xoay ngang, xoay dọc trên giường như thế này là gay go lắm đấy!” Lại hỏi: “Chị ơi, chị có nhận ra em không?”. Mẹ tôi bảo: " Có". Lại hỏi: "Thế em là ai?" Mẹ tôi bảo: "Là người". Ông Bổng khóc òa lên: "Thế là chị thương em nhất. Cả làng cả họ gọi em là đồ chó. Vợ em gọi em là đồ đểu. Thằng Tuân gọi em là đồ khốn nạn. Chỉ có chị gọi em là người". Lần đầu tiên, cái ông chú đánh xe bò, lỗ mãng, táo tợn, làm đủ mọi điều phi nhân bất nghĩa hóa thành đứa trẻ ngay trước mắt tôi.


VIII


Cha tôi về đến nhà thì sáu tiếng sau mẹ tôi mất. Ông Cơ và cô Lài nói: "Tại chúng cháu. Chúng cháu ở nhà thì bà không mất". Vợ tôi bảo: "Nói nhảm". Cô Lài khóc: "Bà ơi, bà đánh lừa con bà đi! Sao bà không cho con đi hầu bà?" ông Bổng cười: "Mày muốn đi hầu bà thì đi, tao cho đóng ván”. Khi liệm mẹ tôi, cha tôi khóc. Ông hỏi ông Bổng: "Sao người bà ấy rút nhanh thế? Người già ai cũng chết khổ như thế này à?" ông Bổng bảo: “Anh lẩm cẩm. Hôm nào nước mình cũng có hàng nghìn người chết khổ nhục vật vã đau đớn. Mỗi lính tráng các anh, "đòm" phát là sướng".

Tôi cho bắc rạp, bảo thợ mộc đóng quan tài. Ông Cơ cứ loay hoay bên đống ván vợ tôi cho xẻ hôm trước. Ông thợ mộc quát: "Sợ chúng ông ăn cắp gỗ à?" ông Bổng hỏi: "Ván mấy phân?" Tôi bảo: "Bốn phân". Ông Bổng bảo: "Mất mẹ bộ xa lông Ai lại đi đóng quan tài bằng gỗ dổi bao giờ? Bao giờ bốc mộ, cho chú bộ ván". Cha tôi ngồi âm thầm, trông rất đau đớn. Ông Bổng bảo: "Chị Thủy luộc cho tôi con gà, nấu hộ nồi xôi". Vợ tôi hỏi: "Mấy cân gạo hả chú?" Ông Bổng bảo: "Mẹ mày, sao hôm nay cứ ngọt xớt thế? Ba cân"! Vợ tôi bảo tôi: "Họ hàng nhà anh kinh bỏ mẹ".

Ông Bổng hỏi tôi: "Nhà này ai chủ trì kinh tê?" Tôi bảo: "Vợ cháu". Ông Bổng bảo: "Đấy là ngày thường. Tao hỏi đám ma này thì ai chủ trì kinh tế"" Tôi bảo: "Vợ cháu". Ông Bổng bảo: "Không được con ơi, khác máu tanh lòng. Tao bảo bố mày nhé". Tôi bảo: “Ông dể con". Ông Bổng bảo: "Đưa tao bốn nghìn, mày định làm bao nhiêu mâm?" Tôi bảo: "Mười mâm". Ông Bổng bảo: "Không đủ cho đô tùy rửa ruột. Mày bàn với vợ mày đi. Bốn mươi mâm". Tôi đưa cho ông bốn nghìn rồi vào nhà. Vợ tôi bảo: “Em nghe hết rồi, em tính ba chục mâm, tám trăm đồng một mâm, ba tám hai tư. Hai tư nghìn, phụ phí sáu nghìn. Việc mua bán em lo. Cỗ giao cho cô Lài. Đừng nghe ông Bổng, lão ấy đểu lắm". Tôi bảo: "ông Bổng cầm bốn nghìn rồi". Vợ tôi bảo: "Buồn anh lắm". Tôi bảo: "Anh đòi lại nhé". Vợ tôi bảo: "Thôi, coi như trả công. Lão ấy tốt nhưng nghèo”.

Phường bát âm đến bốn người. Cha tôi ra tiếp. Nhập quan lúc bốn giờ chiều. Ông Bổng cạy miệng mẹ tôi cho vào chín đồng vừa tiền chinh Khải Định, vừa tiền một hào nhôm. Ông bảo: “Để đi đò". Lại cho vào cỗ bài tổ tôm, có lẫn cả mấy quân tam cúc. Ông bảo: "Không sao, ngày xưa bà ấy vẫn chơi tam cúc".

Đêm ấy, tôi thức canh quan tài mẹ tôi, ngẫm nghĩ lan man đủ điều. Cái chết sẽ đến với mỗi chúng ta, chẳng trừ ai cả. Ngoài sân, ông Bổng với mấy bác đô tùy ngồi đánh tam cúc àn tiền. Khi nào kết tốt đen, ông Bổng lại chạy vào vái quan tài mẹ tôi: “Lạy chị, chị phù hộ cho em để em vét thật nhẵn túi chúng nó". Cái Mi, cái Vi cũng thức với tôi. Cái Mi hỏi: "Sao chết đi qua đò cũng phẫi trả tiền? Sao lại cho tiền vào miệng bà?" Cái Vi bảo: "Đấy có phải ngậm miệng ăn tiền không bố"" Tôi khóc: "Các con không hiểu đâu. Bố cũng không hiểu, đấy là mê tín". Cái Vi bảo: "Con hiểu đấy. Đời người cần không biết bao nhiêu là tiền. Chết cũng cần". Tôi thấy cô đơn quá. Các con tôi cũng cô đơn. Cả đám đánh bạc, cả cha tôi nữa.


IX


Từ nhà tôi ra nghĩa dịa đi tắt chỉ năm trăm mét nhưng đi đường chính qua cổng làng phải hai cây số. Đường bé, không đẩy xe đòn được mà phải khiêng vai. Đô tùy thay nhau đến ba chục người, có nhiều người vợ chồng tôi không biết tên gì. Họ khênh quan tài hồn nhiên như việc bình thường vẫn làm, như khênh cột nhà. Vừa đi vừa nhai trầu, hút thuốc, tán chuyện. Khi nghỉ, đứng ngồi ngổn ngang ngay bên quan tài. Có người nằm lăn ra nói: "Mát thật, không bận cứ ngủ ở đây đến tối". Ông Bổng bảo: "Các bố ơi, đi đi còn về nhắm". Thế là đi. Tôi chống gậy giật lùi trước quan tài theo tục lệ , “cha đưa mẹ đón”. Ông Bổng bảo: "Bao giờ tôi chết, đô tùy của tôi toàn dân cờ bạc, cỗ không thịt lợn mà thịt chó". Cha tôi bảo: "Chú ơi, lúc này mà chú đùa à?" Ông Bổng nín bặt, lại khóc: "Chị ơi, chị đánh lừa em chị đi... Chị bỏ em chị đi... ". Tôi nghĩ: "Sao lại đánh lừa? Chẳng lẽ người chết đều đã đánh lửa người sống cả sao? Bãi tha ma này toàn quân lừa lọc?"


Chôn cất xong, mọi người về nhà. Bày ra một lúc hai mươi tám mâm. Nhìn mâm cỗ, tôi thật kính trọng cô Lài. Mâm nào cũng gọi: "Lài đâu?" Cô Lài miệng dạ tíu tít, chạy ra bê rượu, bê thịt. Đến tối, cô Lài tắm giặt, mặc quần áo mới ra hương án khóc: "Bà ơi, cháu xin lỗi bà, cháu không đưa bà ra đồng... Hôm trước bà thèm canh cua, cháu ngại làm, bà chẳng được ăn... Bây giờ đi chợ, cháu biết mua quà cho ai?... " Tôi thấy đắng ngắt. Tôi nhớ đã chục năm nay tôi chưa lần nào mua được cho mẹ chiếc bánh hay là gói kẹo. Cô Lài lại khóc: "Cháu ở nhà thì bà có chết không bà?" Vợ tôi bảo: "Đừng khóc”. Tôi cáu: "Cứ để cho cô ấy khóc, đám ma không có tiếng khóc buồn lắm. Nhà mình có ai biết khóc bà cụ thế đâu?” Vợ tôi bảo: "Ba mươi hai mâm. Anh phục em tính sát không?" Tôi bảo: " Sát”. Ông Bổng bảo: "Tôi đi xem giờ. Bà cụ được một cái nhập mộ, hai cái trùng tang, một cái thiên di. Có yểm bùa không?" Cha tôi bảo: "Bùa con khỉ. Trong đời mình, tôi chôn ba nghìn người chẳng có người nào thế này". Ông Bổng bảo: "Thế là sướng, "đòm" phát là xong". Ông giơ một ngón tay trỏ làm hiệu bóp cò.


X


Tết năm đó, nhà tôi không mua hoa đào, không gói bánh chưng. Chiều mồng hai, đơn vị cũ của cha tôi cho người về viếng mẹ tôi. Biếu năm trăm đồng. Ông Chưởng, phó của cha tôi bây giờ lên tướng, ra mộ thắp hương. Anh Thanh đại úy cần vụ đi theo rút súng bắn ba phát lên trời. Sau này, trẻ con trong làng kháo bộ đội bắn hai mốt phát đại bác viếng bà Thuấn. Ông Chưởng hỏi cha tôi: "Anh muốn về thăm đơn vị dối già không? Tháng năm tập trận. Đơn vị cho xe về đón". Cha tôi bảo: “Được". Ông Chưởng đi thăm cơ ngơi nhà tôi, có ông Cơ hướng dẫn. Ông Chưởng bảo cha tôi: "Cơ ngơi của anh ác thật. Vườn cây, ao cá, chuồng lợn, chuồng gà, biệt thự. Thế là vững tâm". Cha tôi bảo: "Con tôi làm đấy". Tôi bảo: "Đấy là vợ cháu". Vợ tôi bảo: "Cô Lài chứ! " Cô Lài cười thỏn thẻn, dạo này dầu cứ gật gật liên hồi như bị động kinh: "Chả phải". Cha tôi đùa: "Thế thì do mô hình V.A.C ". Sáng mồng ba, Kim Chi đi xích lô bế con về thăm. Vợ tôi mừng tuổi một nghìn. Cha tôi hỏi: “Thằng Tuân có thư từ gì không?" Kim Chi bảo: "Không". Cha tôi bảo: "Lỗi ở bác đấy. Tao không biết mày có chửa". Vợ tôi bảo: "Chuyện ấy là thường. Bây giờ làm gì còn có trinh nữ. Con làm ở bệnh viện sản, con biết". Kim Chi ngượng. Tôi bảo: "Đừng nói thế, nhưng mà làm trinh nữ thì mệt thật". Kim Chi khóc: "Anh ơi, đàn bà chúng em nhục lắm. Đẻ con gái ra em cứ nát ruột nát gan". Vợ tôi bảo: "Tôi còn hai con gái cơ". Tôi bảo: "Thế các người tưởng làm đàn ông thì không nhục à?" Cha tôi bảo: "Đàn ông thằng nào có tâm thì nhục.. Tâm càng lớn, càng nhục". Vợ tôi bảo: “Nhà mình nói năng như điên khùng cả. Thôi đi ăn. Hôm nay có cô Kim Chi, tôi đãi mỗi người một con gà hầm tâm sen. Tâm đấy. Ăn là trên hết".


XI


Gần nhà tôi ở có cậu Khổng, trẻ con gọi là Khổng Tử. Khổng làm ở xí nghiệp nước mắm nhưng lại thích thơ, làm thơ gửi báo Văn nghệ. Khổng hay sang chơi. Khổng bảo: "Thơ siêu nhất”. Cậu đọc cho tôi nghe Loócca, Uýtxman v. v... Tôi không thích Khổng, ngờ ngợ cậu ta sang chơi vì một cái gì phiêu lưu còn hơn cả thơ ca nữa. Một bận, thấy trong giường của vợ tôi có một tập thơ chép tay. Vợ tôi bảo: "Thơ của cậu Khổng, anh có đọc không?" Tôi lắc đầu. Vợ tôi bảo: “Anh già rồi". Bất giác tôi thoáng rùng mình. Một hôm bận trực cơ quan nên tôi về muộn. Cha tôi đón cổng, ông bảo: “Thằng Khổng sang chơi từ chập tối. Nó với vợ mày cứ rúc rích với nhau, bây giờ chưa về, chướng quá". Tôi bảo: "Cha đi ngủ đi, để ý làm gì?" Cha tôi lắc đầu, bỏ đi lên gác. Tôi dắt xe máy ra đường, phóng lang thang khắp phố cho kỳ hết xăng. Tôi dắt xe đến ngồi ở một góc vườn hoa như một tên du thủ du thực. Có một cô mặt đánh phấn đi ngang qua hỏi: "Ông anh ơi, có đi chơi không?" Tôi lắc đầu. Khổng có ý tránh mặt tôi. Ông Cơ ghét lắm, một hôm bảo tôi: "Cháu đánh nó nhé?" Suýt tôi gật đầu. Lại nghĩ: "Thôi". Tôi vào thư viện mượn thử ít sách. Đọc Loócca, Uýtxman... tôi cứ mơ hồ thấy những nghệ sĩ trác tuyệt là những con người cô đơn khủng khiếp. Bỗng thấy thằng Khổng có lý. Chỉ tức nó đểu. Sao nó không đưa thơ nó cho người khác xem mà lại đưa cho vợ tôi? Cha tôi bảo: "Anh nhu nhược. Duyên do là anh đếch sống được một mình”. Tôi bảo: "Không phải, cuộc đời nhiều trò dùa lắm". Cha tôi bảo: "Anh cho là trò đùa à?" Tôi bảo: "Không phải trò đùa, nhưng cũng không phải nghiêm trọng". Cha tôi bảo: "Sao tôi cứ như lạc loài?” Cơ quan định cử tôi đi công tác phía Nam. Tôi bảo vợ tôi: "Anh đi nhé?" Vợ tôi bảo: "Đừng đi. Mai anh sửa cửa nhà tắm, cái cửa hỏng rồi. Hôm nọ cái Mi đang tắm, thằng Khổng đi qua định giở trò đểu làm nó hết hồn. Thằng khốn nạn ấy em cấm cửa rồi". Vợ tôi òa khóc: "Em thật có lỗi với anh, với con". Tôi khó chịu quay đi. Nếu có cái Vi bây giờ thì nó sẽ hỏi tôi rằng: "Bố ơi, đấy có phải nước mắt cá sấu không?"


XII

Tháng Năm, đơn vị cũ cho xe về đón cha tôi. Anh Thanh đại úy cầm thư của ông Chưởng về. Cha tôi cầm thư run run. Thư viết: "... Chúng tôi cần anh, mong anh... nhưng anh đi được thì đi, không ép". Tôi nghĩ cha tôi không nên đi nữa nhưng nói ra bất tiện. Cha tôi già sụp hẳn đi từ khi về hưu. Hôm nay cầm thư, thấy ông nhanh nhẹn và trẻ trung hẳn. Tôi cũng vui lây. Vợ tôi chuẩn bị đồ đạc cho vào cái sắc du lịch. Cha tôi không nghe, ông bảo: "Cho vào ba lô". Cha tôi đi chào làng nước một lượt, ra cả ngoài mộ mẹ tôi, lại bảo anh Thanh bắn ba phát súng lên trời. Buổi tối cha tôi gọi ông Cơ đến cho hai nghìn, bảo khắc một cái bia dá gửi về Thanh Hóa đánh dấu mộ vợ. Cha tôi lại gọi cô Lài dến bảo: "Cháu lấy chồng đi". Cô Lài òa khóc: "Cháu xấu xí lắm, chẳng ai lấy. Lại cả tin nữa". Cha tôi nghẹn ngào: “Con ơi, con không hiểu rằng cả tin chính là sức mạnh để sống hả con?" Tôi cũng không ngờ những điều như thế lại là diềm báo chuyến này cha tôi ra đi không về. Trước khi lên xe, cha tôi lấy trong ba lô ra quyển vở học sinh. Ông đưa cho tôi. Ông bảo: "Trong này cha có ghi chép ít điều, con đọc thử xem". Cái Mi, cái Vi chào ông. Cái Mi hỏi: "ông đi ra trận hả ông?" Cha tôi bảo: "ừ”. Cái Vi hỏi:
 

Đường ra trận mùa này đẹp lắm có phải không ông?" Cha tôi chửi: "Mẹ mày! Láo!”

XIII

Cha tôi đi được vài ngày thì ở nhà xảy ra chuyện cười nôn ruột. Số là ông Cơ cùng với ông Bổng vớt bùn dưới ao (vợ tôi trả ông Bổng hai trăm đồng một ngày công, cơm nuôi), bỗng thấy một cái đít chum nổi lên. Hai ông hì hục đào, lại thấy một đít chum nữa, ông Bổng đoán chắc các cụ ngày xưa chôn của. Hai ông báo với vợ tôi. Thủy đến xem, cũng lội xuống đào. Rồi cả cô Lài, cả cái Mi, cái Vi. Cả nhà bê bết bùn đất. Vợ tôi bắt phải ngăn ao, lại đi thuê máy bơm Côle về tát nước. Không khí thật nghiêm trang. Ông Bổng thích lắm: "Công tao thấy trước, cứ phải chia cho tao rnột chum". Hì hục một ngày đào được hai cái chum sứt trong chẳng có gì. Ông Bổng bảo: " Chắc còn nữa". Lại đào. Được thêm một cái chum nữa, cũng vỡ. Cả nhà mệt lả, bụng đói cồn cào. Vợ tôi sai mua bánh mì về ăn lấy sức đào tiếp. Đào gần chục mét thì vớ được cái lọ sành. Cả nhà mừng rỡ, ai cũng đoán vàng. Mở ra trong thấy toàn một chuỗi "Bảo Đại thông báo" bằng đồng đã han rỉ cả. Lại thấy một cái mề đay mủn nát. Ông Bổng bảo: "Thôi chết, tao nhớ ra rồi.”


Ngày xưa tạo với trùm Nhân ăn trộm ở nhà Hàn Tín, bị đuổi, trùm Nhân vứt cái lọ này xuống ao". Cả nhà được một mẻ cười nôn ruột. Trùm Nhân là tên ăn trộm khét tiếng ở vùng ngoại ô. Hàn Tín trước kia là lính thuộc địa cho Tây, tham gia phong trào "Rồng Nam phun bạc, đánh đuổi Đức tặc". Cả hai đã chết mục xác từ thuở nảo thuở nào. Ông Bổng bảo: "Không sao, bây giờ cả làng này chết tao cũng đủ tiền đi đò nhét vào miệng họ”. Sáng hôm sau, ngủ dậy thì tôi nghe thấy có tiếng gọi cổng. Tôi ra thấy Khổng đứng ngoài. Tôi nghĩ: ”Mẹ khỉ, cái thằng đểu này là điềm gở nhất của số phận mình”. Khổng bảo: "Anh Thuần ơi, anh có điện. Ông cụ mất rồi!"


XIV


Điện của ông Chưởng: "Thiếu tướng Nguyễn Thuấn, hy sinh khi làm nhiệm vụ hồi... giờ... ngày mai táng tại nghĩa trang liệt sĩ hồi... giờ... ngày" Tôi lặng người. Vợ tôi xếp đặt mọi việc rất nhanh. Tôi ra thuê xe, về nhà đã thấy gọn đâu vào đấy Vợ tôi bảo: "Khóa cửa nhà trên. Ông Cơ ở lại". Xe đi Cao Bằng theo đường số Một. Đến nơi thì lễ an táng cha tôi cử hành đã được hai tiếng đồng hồ. Ông Chưởng bảo: “Chúng tôi có lỗi đối với gia đình". Tôi bảo: “Không phải thế. Đời người có mệnh". Ông Chưởng bảo: "Cha anh là người đáng trọng". Tôi hỏi: "Theo nghi lễ quân đội hả chú". Ông Chưởng bảo: “Cụ ra trận địa, đòi lên chốt". Tôi bảo: " Cháu hiểu rồi, chú đừng kể nữa". Tôi khóc, chưa bao giờ tôi khóc như thế. Bây giờ tôi mới hiểu khóc như cha chết là khóc thế nào. Hình như đấy là cái khóc lớn nhất đời một con người.

Mộ của cha tôi đặt trong nghĩa trang liệt sĩ. Vợ tôi mang theo máy ảnh bảo chụp mấy kiểu. Hôm sau tôi xin về luôn, ông Chưởng giữ lại nhưng tôi không nghe. Đường về vợ tôi bảo xe đi chậm. Ông Bổng lần đầu mới được đi xa, thích lắm. Ông bảo: “Nước mình thật đẹp như tranh. Bây giờ tôi mới hiểu vì sao phải yêu đất nước. Chứ ở quê ta, dù ngay Hà Nội có văn minh thật, tôi chẳng thấy yêu gì cả". Vợ tôi bảo: "Tại chú quen đấy. ở nơi khác cũng thế, họ lại thấy yêu Hà Nội". Ông Bổng bảo: “Thế là nơi này yêu nơi kia, người này yêu người kia. Tất cả đều đất nước mình, nhân dân mình cả. Vậy thì đất nước muôn năm, nhân dân muôn năm. Hoan hô đèn cù! "

XV

Có lẽ câu chuyện của tôi kết thúc ở đây. Sau đó nếp sống của gia đình tôi trở lại như là trước ngày cha tôi nghỉ hưu. Vợ tôi tiếp tục công việc bình thường. Tôi đã hoàn thành công trình nghiên cứu điện phân. Ông Cơ trở nên ít nói, một phần vì bệnh cô Lài nặng hơn. Lúc rỗi, tôi giở đọc những điều cha tôi ghi chép. Tôi hiểu cha tôi hơn. Trên đây là những sự việc lộn xộn của hơn một năm cha tôi nghỉ hưu mà tôi chép lại. Tôi coi đấy như nén hương thắp nhớ người. Nếu có ai đã có lòng để mắt đọc điều tôi viết, xin lượng thứ cho tôi.

Tôi xin cảm tạ.