Thứ Năm, 10 tháng 7, 2014

GS Trần Quốc Vượng viết về vua Gia Long

GS TRẦN QUỐC VƯỢNG – MẤY VẤN ĐỀ VỀ VUA GIA LONG


Kính gởi Ban Biên tập Khoahocnet,


Đây là một tham luận của Cố GS Trần Quóc Vượng viết cho một hội thảo về vua Gia Long tổ chức tại Thành phố Hồ Chí Minh năm 1996. Do liên quan đến quan điểm chính trị nên hội thảo này không tổ chức được, và bài viết này cho đến nay được đăng lần nào.

Nhiều nhà nghiên cứu ở Việt Nam rất thích bài viết này, nhưng rất tiếc chuyên luận này chưa hề được công bố.


Bản thân tôi đã sưu tập được bài viết này từ hơn 15 năm và ấp ủ nó được đăng chính thức để lưu trữ, nay xin gởi Khoahocnet. Nếu Khoahocnet đăng tải thì chắc chắn đây là lần đầu tiên được công bố.


Xin cảm ơn Ban Biên tập.


Nguyễn Anh Huy
* * *
 GS TRẦN QUỐC VƯỢNG – MẤY VẤN ĐỀ VỀ VUA GIA LONG

* PHẦN MỘT
0.1. Tôi không phải là một chuyên gia về lịch sử, đặc biệt là về nhà Nguyễn, nhưng thỉnh thoảng tôi cũng có những nghĩ suy và thực ra là từ những năm giữa thập kỷ 70 cho đến gần đây, đầu xuân Bính Tý 1996. Tôi vẫn thường qua lại xứ Huế và viết dăm bẩy bài về vị thế địa – văn hóa của xứ Huế và vai trò của các chúa Nguyễn, bắt đầu từ Chúa Tiên Nguyễn Hoàng (1558-1613) đến các vua đầu nhà Nguyễn, mở đầu là vua Gia Long (1802-1820) và kết thúc là vua Bảo Đại (1925-1945).
 
Tôi đã nói và viết tản mạn nhiều vấn đề về xứ Đàng Trong, về thời Nguyễn và nhà Nguyễn.

0.2. Ông Nguyễn Khoa Điềm – thuộc dòng họ Nguyễn Khoa nổi danh từ các chúa Nguyễn mà bà nội ông (Đạm Phương Nữ Sĩ) là cháu nội vua Minh Mạng, sinh ra thân phụ ông là nhà Mác-xít và là một trong những người cộng sản đầu tiên, tức Hải Triều Nguyễn Khoa Văn – đã từng phát biểu ở trường Đại học viết văn Nguyễn Du trong dịp lễ khai giảng khóa 5 (1995-1998), rằng khi ông là tổng biên tập đầu tiên của Tạp chí Sông Hương ở một thời chưa đổi mới lắm, ông đã cho đăng bài của tôi về “Xứ Huế và vị thế lịch sử của Huế” và đã cùng ban biên tập tạp chí ấy tặng tôi giải thưởng đặc biệt cho bài viết này, mà khi ấy người ta cho là một sự “xét lại” về mặt sử học. Bởi trước đó, theo giới Sử – Văn – Triết – Mỹ chính thống của Việt Nam, thì gần như là một sự “phủ định sạch trơn” (table rase) về thời Nguyễn và nhà Nguyễn, trong khi đó ở bài viết ấy và những bài tiếp theo, tôi cùng với các nhà nghiên cứu Dân tộc – Xã hội – Mỹ học như Nguyễn Đức Từ Chi, Trần Lâm Biền đã đề nghị một cách nhìn hơi khác, tóm tắt lại là:

- Cần phân biệt thời Nguyễn, đời Nguyễn và nhà Nguyễn.
- Cần phân biệt thời các chúa Nguyễn và các vua Nguyễn.
- Và trong các vua Nguyễn, cũng cần phân biệt các vua đầu Nguyễn như Gia Long, Minh Mạng (1820-1840) và các vua cuối Nguyễn như Tự Đức (1848-1883); và ngay cả các vua Nguyễn sau Tự Đức, cũng cần phân biệt những ông Đồng Khánh, Khải Định với những ông vua yêu nước như Hàm Nghi, Thành Thái, Duy Tân. Lại càng nên phân biệt chính trị triều Nguyễn và học thuật, trước tác và mỹ thuật của nền Quốc học Nguyễn. Có “cộng đồng” triều đình và có các “cá thể” vua – quan nữa chứ !

1.0. Nay theo yêu cầu của Ban tổ chức Hội nghị về vua Gia Long (1802-1820), tôi chỉ xin nói tóm tắt đôi điều mà tôi cảm nhận được về Nguyễn Ánh – Gia Long.

1.1. Về Nguyễn Ánh: Nếu tôi nhớ không nhầm thì cuộc khởi nghĩa Tây Sơn (mà những người theo lý thuyết Mác-xít thường gọi là “Khởi nghĩa nông dân”) bắt đầu xảy ra vào năm 1771, khi Nguyễn Huệ sau này trở thành vua Quang Trung vĩ đại bấy giờ mới 18 tuổi, thì lúc đó Nguyễn Ánh còn kém Nguyễn Huệ ít ra là 7 tuổi, nghĩa là mới chỉ một cậu bé con trên 10 tuổi, cháu của chúa Nguyễn Phước Thuần. Thế mà chính “cậu bé” Nguyễn Ánh đó – sau khi chúa Nguyễn và gần như hết thảy những nhân vật của dòng chúa đã bị họ Nguyễn Tây Sơn thủ tiêu sạch trơn – đâu chỉ khoảng 14 tuổi, từ xứ Huế, xứ Quảng chạy vô châu thổ sông Cửu Long và gần như là đại diện duy nhất còn lại của dòng chúa Nguyễn, đã trở thành vị Nguyên Soái chống lại phong trào Tây Sơn đang dâng lên và lan tỏa trong toàn quốc từ Nam chí Bắc như triều dâng thác đổ.

1.2. Tôi không bao giờ phủ định rằng phong trào Tây Sơn đã có những công tích vĩ đại, ít nhất ở ba mặt sau đây:

- Ở Đàng Trong thì lật đổ “trào đình” của các chúa Nguyễn rồi tiến ra Đàng Ngoài lật đổ “trào đình” của các chúa Trịnh cùng với triều Lê – mà những ông vua Lê từ quãng đầu thế kỷ XVII trên diễn trình lịch sử đã trở thành những ông vua “bù nhìn”, hay là các “con rối” (puppet) trong tay các chúa Trịnh.

- Chiến thắng vĩ đại chống quân xâm lược Xiêm mà đỉnh cao là trận Rạch Gầm – Xoài Mút ở Mỹ Tho (Tiền Giang) vào cuối năm 1784 đầu 1785. Quân xâm lược Xiêm 5 vạn đã “sợ Tây Sơn như sợ cọp” và chính là do lợi dụng việc Nguyễn Ánh cậy nhờ mà định sang chiếm đoạt miền Nam. Nguyễn Ánh mãi mãi mang tiếng xấu “cõng rắn cắn gà nhà”, cầu ngoại viện để giải quyết vấn đề quốc sự.
- Đại chiến thắng chống vài chục vạn quân xâm lược Thanh đầu xuân Kỷ Dậu 1789 – mà ông vua cuối cùng của nhà Lê là Chiêu Thống đã cầu cứu. Và cũng như Nguyễn Ánh, ông vua Lê ấy cũng mang một bộ mặt nhọ nhem trong lịch sử.

1.3. Nguyễn Ánh cùng Chiêu Thống càng lem luốc bao nhiêu trước lịch sử thì hình ảnh Nguyễn Huệ – Bắc Bình Vương – Quang Trung càng được xem là bộ mặt tỏa rạng và có một vai trò lịch sử lớn lao bấy nhiêu trong lịch sử Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII.

Nhưng bảo rằng Huế – Phú Xuân là do vua Quang Trung xây dựng thành một đô thị thủ đô thì theo tôi lại là một lối viết quá đà ! Huế, với thành Lồi ở Long Thọ bờ phải sông Hương và thành Lý Châu – sau đổi là Hóa Châu ở lưu vực sông Bồ đã trở nên một thị thành, một cảng thị (City-Port, Nagara) – từ thời Chiêm Thành và sau đó thời Đại Việt Huyền Trân nhà Trần (sau 1306) và sau đó nữa là Quãng Phước, Kim Long thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên và Phú Xuân thời chúa Thượng Nguyễn Phước Lan (1636-1648) và sau chót là Gia Long – Minh Mạng (trước Gia Long, Phú Xuân vẫn chỉ là Làng Xã).

1.4. Tuy không phải là một nhà sử học chính tông, nhưng tôi không bao giờ dám thể tất cho Nguyễn Ánh khi ông vì thế cùng lực kiệt, đã qua giám mục Bá Đa Lộc (Evêque D’Adran) và cậu bé tí hon hoàng tử Cảnh (lúc bấy giờ khoảng 6 tuổi) đi cầu viện các thế lực phương Tây (nhất là Pháp), đã dám cho vị giám mục người Pháp đó toàn quyền đại diện cho nước Việt phương Nam ký với Pháp cái gọi Hiệp ước Versailles, nhượng cho Pháp nào đảo Côn Lôn, nào cảng cửa Hàn… để mong nước Pháp quân chủ cuối mùa (1787) cứu một nền quân chủ cũng cuối mùa nốt của Đại Việt. Cho dù cái nước Pháp quân chủ cuối mùa ấy đã không giúp đỡ gì được cho Nguyễn Ánh và đã được / bị cuộc cách mạng 1789-1790 xóa sổ khỏi lịch sử phương Tây, nhưng sao chăng nữa, việc đó cũng tạo “tiền lệ” cho giới thực dân phương Tây mà trước hết là Pháp cùng với vài thế lực Thiên chúa giáo thân (Pro) thực dân can thiệp ngày càng sâu vào nội trị Việt Nam, và dẫn tới việc mất nước của ta vào nửa cuối thế kỷ XIX. Ký hiệp ước, hòa ước để nhượng địa rồi “mãi quốc cầu vinh” là những thủ đoạn hèn hạ của thực dân đầu mùa và quân chủ cuối mùa.

1.5. Tuy sự thật lịch sử cho tôi – và cho chúng ta – biết rõ rằng những điều khoản của Hiệp ước Versailles ấy đã không thực hiện và sau này, khi đại diện của chính phủ Pháp đòi vua Gia Long thực hiện hiệp ước Versailles thì vua Gia Long đã kiên quyết từ chối với lý do rất chính đáng là: nước Pháp có thực hiện điều khoản nào của hiệp ước Versailles đâu !

Trên đường từ Pháp về Pondichery (Ấn Độ), giám mục Bá Đa Lộc chỉ tuyển được một số sĩ quan, kỹ sư, kẻ “phiêu lưu” người Pháp và với một số rất ít kinh phí mua được vài cái tàu bọc đồng – mà vua Quang Trung coi là những sự hù dọa vớ vẩn – để mang về giúp Nguyễn Ánh. Cho nên theo tôi, cố giáo sư Trần Đức Thảo và một số người khác đã viết hơi quá đà, rằng sự viện trợ của Pháp là một trong những nhân tố quan trọng nhất để tập đoàn Nguyễn Ánh đã đánh bại phong trào triều đại Tây Sơn, từ Nguyễn Nhạc đến Cảnh Thịnh – Bảo Hưng (1792-1802).

1.6. Như vậy, với những điều viết trên, là tôi đã có một hàm ngôn rằng, sự thắng lợi của Nguyễn Ánh đối với triều đại Tây Sơn chủ yếu là do những nguyên nhân nội sinh, và đứng về mặt cá nhân tôi hay là của chúng ta nhỉ, cũng đáng nên “khâm phục” dù “chút chút” – Nguyễn Ánh – một người có cá tính mạnh, từ một cậu bé con của một ông chúa bị giết hại trong tù, gần như đã nhiều lúc không còn một mảnh giáp, không còn một tấc đất, đã lấy lại được quyền bính trong cả nước Việt Nam từ Lạng Sơn đến Cà Mau. Theo PGS Trần Lâm Biền, nền mỹ thuật Việt Nam chỉ có những thi pháp kiến trúc chung từ xứ Lạng đến Gia Định thành là từ Nguyễn Gia Long.

1.7. Cho nên, cũng không phải quá đáng lắm khi linh mục Nguyễn Phương và một số nhà sử học nước ngoài khác – từ phe XHCN (cũ) đến phe tư bản chủ nghĩa – cho rằng Nguyễn Ánh là người trên thực tế đã thống nhất đất nước chứ không phải là ông vua anh hùng Nguyễn Huệ – Quang Trung, mặc dù ông vua anh hùng 3 lần vĩ đại này đã gạt bỏ những thế lực quân chủ thối nát ở Đàng Trong, Đàng Ngoài và những lực lượng ngoại xâm đứng đàng sau những quyền lực khốn nạn ấy. Và như vậy, xét về mặt lịch sử khách quan là đã góp phần rất lớn vào công cuộc thống nhất đất nước(1).
1.8. Không nói gì đến ông Nguyễn Lữ – là “thầy tu” hay là “thầy võ” – không đủ nội lực để đối địch với Nguyễn Ánh ở miền Nam, chỉ nói đến ông anh Nguyễn Nhạc xuất thân “nậu nguồn” và ông em Hồ Thơm (Nguyễn Huệ) thì, do sự chia rẽ ngay trong nội bộ gia đình, mà theo tôi “ghê tởm” nhất là ông anh cả Nguyễn Nhạc đã vì sự thỏa mãn nhỏ nhen được làm Trung ương Hoàng đế ở thành Trà Bàn, rồi vì ghen tị và “chãnh chọe” với em sau vụ Bắc Bình Vương “xóa hận sông Gianh” tiến ra Thăng Long, đã vội vã ra Bắc kéo em về, rồi lại hãm hiếp cô em dâu – vợ Nguyễn Huệ – tạo mối thù hận khôn nguôi và chiến tranh giữa hai anh em, khiến dưới triều Tây Sơn có một ông hoàng đế ở Quy Nhơn và một ông hoàng đế ở Phú Xuân. Vậy làm sao có thể nói được là nước ta đã được thống nhất ngay dưới thời Tây Sơn ? Đó là một “lập trường giai cấp” máy móc đang chuyện nọ (chống ngoại xâm) “xọ chuyện kia” (chống quân chủ Nguyễn – Trịnh).

1.9. Ở đây có một vấn đề thuộc phương pháp luận sử học cần được làm sáng tỏ là: Lịch sử bao giờ cũng có một sự gián cách giữa lịch sử – thực tại (Histoire – Réalité) và lịch sử nhận thức (Histoire – Conscience). Mà cái lịch sử nhận thức thì luôn gắn liền với chủ quan nhà sử học – nhưng trách nhiệm và bổn phận của nhà sử học chân chính là luôn luôn cần cố gắng có cái nhìn khách quan đến mức cao nhất. Mức cao nhất đó là như các nhà lãnh đạo Cộng sản Việt Nam cuối thế kỷ XX nói: Hơn ai hết là nhà sử học cần “nhìn thẳng vào sự thật !”, nói đúng sự thật, và giải thích một cách khoa học cái sự thật khách quan ấy. Vẫn theo tôi, “tâm thức tiểu nông” Việt Nam là nền tảng tinh thần của nền “dân chủ làng xã”, của sự đồng dạng văn hóa (Cultural Identity) ở cấp văn hóa xóm làng Đại Việt – Việt Nam một thời. Thống nhất rồi chia rẽ, đó là “trách nhiệm lịch sử” của cấu trúc quân chủ Phật giáo (Lý – Trần), rồi quân chủ Nho giáo (Lê – Nguyễn). Lịch sử chính trị và lịch sử văn hóa, có cái CHUNG và cũng có cái RIÊNG. Quy mọi thứ vào chính trị hay vào kinh tế là cái nhìn (Point of view) đã “lỗi thời” (Over time) lâu rồi, quá lâu rồi !

* PHẦN HAI
01. Luôn “trung thành” với tư duy tự ý thức rằng “Tôi không phải là một nhà sử học chính tông”, sau đây tôi chỉ nói – và viết – đôi điều “lặt vặt” tôi nhớ lại và cảm nhận được về vị vua khai sáng triều Nguyễn – Gia Long.

01.1. Nguyễn Ánh đã từng bôn ba từ đất liền ra các hải đảo, Côn Lôn, Phú Quốc…
Do nghiệm sinh cá nhân, tôi rất thích những người “bôn ba”, “từng trải”… dù với ý định chủ quan gì hay là do sự dủi dun của Trời Đất – Tự nhiên. Vị Tam Nguyên Vị Xuyên xứ Nam Hạ – Nam Hà quê tôi Trần Bích San đã có hai câu thơ mà tôi coi là tuyệt bút, nhất là câu sau:
Văn vô sơn thủy phi kỳ khí,
Nhân bất phong sương vị lão tài !
Nghĩa là:
Văn không sông núi, không cao diệu,
Người chẳng phong sương, khó rạng tài !
01.2. Rất gần đây, tôi được đọc bản thảo bài viết của một học giả Mỹ, trong đó có đoạn đại ý rằng:
Phụ thân Hồ Chí Minh – Cụ phó bảng Nguyễn Sinh Huy (Sắc) là một người phiêu lãng (Wanderer), nhưng cụ mới chỉ “lãng du” ở trong nước Việt từ xứ Nghệ xứ Huế đến xứ Thanh, xứ Bình Định rồi vô miền Nam, Sài Gòn, Sông Bé, Long An, Sa Đéc…

Có thể Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh cũng được “di truyền” bởi cái “gen” văn hóa phiêu lãng (wandering) đó, nhưng “CON hơn cha là nhà có PHÚC”, Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đã phiêu lãng gần như toàn thế giới, từ Á, Âu đến Phi, Mỹ… và ông đã có dịp “sống nghiệm” với nhiều nền văn hóa khác nhau; do đó ông đã trải nghiệm đối sánh nhiều LỐI SỐNG (Way (s)) trên tảng nền LỐI SỐNG VIỆT NAM. Ông giỏi ngoại ngữ mà ngôn ngữ là một sản phẩm đồng thời là một thành tố của Văn hóa, cho nên ông trở thành người của toàn Nhân loại và ông trở nên DUNG DỊ (Generous), rất Việt Nam và cũng rất “Thể tất”, rất “Cận NHÂN TÌNH” (Hunman Sense). Do vậy, Wandering phiêu lãng ở ông là một GIÁ TRỊ VĂN HÓA.

Thế mà đã có kẻ dám dịch “wandering” là “lang bang, lang thang” và bảo rằng học giả Mỹ đó có dụng ý nói xấu Cụ Hồ ! Đáng xấu hổ thay người “DỐT HAY NÓI CHỮ” hay là “HAY CHỮ LỎNG” !
01.3. Nguyễn Ánh (Gia Long từ 1802) đã bôn ba từ đất liền đến hải đảo, từ Việt đến Xiêm, đánh Tây Sơn bại rồi thắng to cũng có, mà đánh thắng cả Miến Điện theo yêu cầu – có lúc là “quái ác” – của vua Xiêm cũng có. Nguyễn Ánh bẩm sinh và sinh nghiệm là một vị tướng tài ba “thắng không kiêu, bại không nản”. Bị Xiêm rồi bị Pháp và sau cả Thanh Mãn Trung Hoa khống chế, gây “áp lực” song Nguyễn Ánh vẫn tìm mọi cách để “thoát ra” được sự khống chế đó và – cho dù chỉ theo ý kiến cá nhân tôi – ông vẫn là NGƯỜI VIỆT NAM và đứng đầu một CHÍNH QUYỀN ĐỘC LẬP VIỆT NAM, cho dù ông chịu nhiều áp lực ngoại bang và cũng có lúc phải sử dụng nhiều cố vấn trong nước và nước ngoài. Ông nghe nhiều nhưng ông nghĩlàm phần nhiều theo ý ông. Từ 1815 hay về cuối đời, dù nể trọng Tả quân Lê Văn Duyệt, ông vẫn quyết định chọn hoàng tử Đảm (vua Minh Mạng ngày sau) chứ đâu có chọn cháu đích tông – con hoàng tử Cảnh – làm người kế vị ông. Mà Minh Mạng, thì nên trọng nể và học tập ông về việc quản lý hành chánh đất nước và xã hội nhiều hơn nữa, chứ trách cứ ông thì cũng dễ thôi.

01.4. Cho dù ông tin cậy và nhờ cậy vào giám mục Bá Đa Lộc và tỏ ra “khoan hòa” với Thiên chúa giáo của phương Tây, cho dù hoàng tử Cảnh – trưởng nam của ông – đã trở thành giáo dân Thiên chúa giáo, khi ở Gia Định (Nam Bộ) cũng như khi trở thành hoàng đế toàn Việt Nam, ông vẫn tôn Nho, trọng dụng “Gia Định tam gia” người Việt gốc Hoa (Trịnh Hoài Đức, Lê Quang Định, Ngô Nhơn Tịnh), vẫn trọng Phật, Lão và tín ngưỡng dân gian, dù là Việt Nam, là Khơ Me, hay là Chăm, là Thượng… Đội cận vệ của Gia Long, theo sử chép, chủ yếu là người “Thượng” (Sơn nhân). Ở thập kỷ 80, tôi đi điền dã ở xứ Quảng, ở Tây Nguyên, các tộc “thiểu số” vẫn nhắc đến Gia Long với một niềm kính nể. Có một thứ cây nửa trồng nửa hoang dại mang tên “Hoàng oanh quất” (quýt vàng) quả ăn ngon, người dân tộc vẫn bảo tôi rằng đó là thứ quả cây của vùng sơn cước đã nuôi sống Nguyễn Ánh thời khăn khó, sau này trở thành Quýt Ngự. Ấy là tôi chưa kể “Quế Trà My”…

01.5. Ông không chống Tây, Thiên chúa, cũng không sùng bái quá đáng Thanh – Nho như người ta tưởng, và ông loay hoay – tìm mà chẳng được – một HỆ Ý THỨC VIỆT NAM. Ông làm theo kiểu Việt Nam mà chưa điều chế nổi một lối suy nghĩ (Way of thinking) Việt Nam. Chỉ sau này Nguyễn Ái Quốc mới xây dựng được một Tư tưởng Hồ Chí Minh tương đối thuần Việt Nam. Nhưng đó lại là một đề tài chuyên luận Triết – Sử khác, ít dính dáng đến chủ đề ta đang bàn về Gia Long.

02. Sau 10 năm chinh chiến mà dân gian miền Nam Trung Bộ gọi là “TRẬN GIẶC MÙA” (1791-1801) – mùa gió nồm nam, Nguyễn Ánh mới dùng đội thủy chiến THUYỀN BUỒM ra đánh Tây Sơn – cuối cùng ông đã thắng.

02.1. Tôi là con cháu nhà Nho nên cũng có biết câu “Bất tương thành bại luận anh hùng”, nghĩa là “luận anh hùng, chớ kể hơn thua !”.

Song, nếu tôi là nhà sử học như các quý vị Phan Huy Lê, Nguyễn Phan Quang… khả kính, tôi cũng phải tìm cách “giải thích” lịch sử chiến thắng của Nguyễn Ánh với Tây Sơn chứ nhỉ ?

Chả nhẽ lại chỉ dùng một thứ “chủ nghĩa Mác thô sơ” là cuối cùng NÔNG DÂN – nếu không có một Đảng của giai cấp công nhân đô thị hiện đại lãnh đạo thì bao giờ cũng THUA giai cấp địa chủ – phong kiến , mà dù có thắng – như Tây Sơn đã từng thắng trước đó – thì rồi cũng bị ĐỊA CHỦ HÓA, PHONG KIẾN HÓA mà thôi !

02.2. Như tôi đã nghiệm sinh trên điền dã khắp Bắc Trung và chút chút ở miền Nam, tôi đã thấy cả Nguyễn Nhạc và cả Bắc Bình Vương – Quang Trung (tất nhiên cả Nguyễn Lữ nữa) đã thất nhân tâm khi các ông – như học giả Tạ Chí Đại Trường đã dẫn ra nhiều chứng cứ (Xem Nội chiến ở Việt Nam 1771-1801…) – ở miền Trung, chỉ để 01 chùa ở cấp huyện, ở miền Bắc chỉ để 01 chùa ở cấp tổng. “ĐẤT VUA – chùa LÀNG – Phong cảnh BỤT” – sáng – chiều nghe tiếng chuông chùa “chiêu mộ” để tấm lòng thư giãn, để biết thời gian trôi chảy vô thường đã từ lâu in hằn vào tâm thức người Việt. Phá chùa, đập tượng, nung chuông (làm tiền, làm khí giới) là làm phản lại tâm thức Việt Nam. Có lẽ nào dân gian xứ Bắc – Đàng Ngoài vốn kính VUA (Lê) nể CHÚA (Trịnh) và sùng Phật – Đạo, dù rất trọng Quang Trung đã vì dân mà chiến đấu và chiến thắng giặc Mãn Thanh, thế mà bên câu ca dao “cổ” (XV):
Lạy trời cho cả gió lên,
Cho cờ vua Bình Định(2) phất (phới) trên kinh thành(3).
                   Lại có câu ca dao “cận đại”:
Lạy trời cho cả gió Nồm,
Cho thuyền chúa (vua) Nguyễn thắng buồm thẳng ra !

                   Ra… là ra Bắc. Vô là vô (vào) Trung – Nam. Đấy là một câu ca dao thuần Bắc cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX. Đừng nên chỉ suy diễn lòng dân (XVIII-XIX) theo chủ quan “bác học” (XX), mà nhà làm sử rất nên tham khảo Folklore, nhất là Folklore cổ – cận – dân gian.

02.3. Quân Tây Sơn vào Nam – Nam Bộ – thì phá Cù Lao Phố (Biên Hòa hiện nay), giết hại thương nhân Hoa kiều, vứt phá hàng ngoại bỏ ra đầy đường, sau ở Sài Gòn thì cũng vậy; ra Trung thì tàn phá Hội An (Faifoo), 10 năm sau còn chưa phục hồi lại được; ra Bắc thì phá Vị Hoàng, phố Hiến và có đâu chừa lắm cả Thăng Long. Khi nho sĩ Bắc Hà – mượn lời nông dân xóm Văn Chương – để thưa kiện với chúa Tây Sơn về việc tòa Văn Miếu – bia Tiến Sĩ bị phá thì Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ đã thành thật phê vào đơn:
Thôi ! Thôi ! Thôi ! Việc đã rồi !
Trăm điều hãy cứ trách bồi vào ta !
Nay mai dựng lại nước nhà,
Bia Nghè lại dựng trên tòa muôn gian.
Thôi cũng đừng đổ oan cho thằng Trịnh Khải (1785-1786) !

02.4. Gia Long dù bắt đổi Thăng Long (昇 龍) từ thành phố Rồng bay thủ đô cả nước ra Thăng Long (昇 隆) – ngày thêm thịnh vượng – thủ phủ Bắc thành và dời thủ đô cùng cả Quốc Tử Giám – Văn Miếu vào Huế thì ở Văn Miếu Thăng Long, Gia Long vẫn cho xây một tòa Khuê Văn Các, nhỏ thôi mà cực đẹp; và ở thành cũ hoài cổ của Bà Huyện Thanh Quan, ông cũng cho xây một tòa Cột Cờ cao đẹp nhất kinh thành ngày ấy và cho đến nay còn tồn tại !

Thế thì kể ra cũng khó mà chê Gia Long và nghệ thuật kiến trúc Nguyễn ! Mà chê bai làm gì nhỉ, khi chúng – với thời gian – đã trở thành cái ĐẸP, cái Di sản Văn hóa Dân tộc – Dân gian.

Huế trở thành một Di sản Văn hóa Nhân loại – theo Quyết định của UNESCO 1993, mà hiện nay ta rất tự hào và đang biến thành Trung tâm Du lịch Văn hóa Việt Nam là NHỜ AI, nếu không phải là nhờ VUA – QUAN – DÂN thời Gia Long – Minh Mạng – Tự Đức và Nguyễn nói chung ?

Kính xin quý vị Sử gia – tạm / gượng gọi là “đồng nghiệp” của tôi bơn bớt việc “chửi bới” nhà Nguyễn – đời Nguyễn – bắt đầu từ Gia Long – đi cho tôi và dân chúng nhờ… Và thái độ tốt nhất là xếp cả xứ Huế và Việt Nam khi ấy vào Bảo tàng Lịch sử và coi khi đó, không gian đó như một TẤT YẾU TẤT NHIÊN của LỊCH SỬ VIỆT NAM !

03. Có một huyền tích lưu hành rất dai dẳng – và còn được ghi bằng giấy mực nữa kia – là khi Nguyễn Ánh – Gia Long (năm 1801) chiếm lại được Phú Xuân – Huế từ tay triều đại Tây Sơn, đã “cướp” công chúa Lê Ngọc Hân – Bắc cung Hoàng hậu của Quang Trung làm vợ. Huyền tích ấy nay đã được giải ảo hiện thực (désenchanter le réel). Sự thực lịch sử là thế này:

03.1. Sau khi vua Quang Trung mất (1792), Ngọc Hân đã dời cung điện ra ở chùa Tiên gần lăng mộ Quang Trung (xem sách “Đi tìm lăng mộ Quang Trung” của Nguyễn Đắc Xuân và nhất là xem thơ Phan Huy Ích). Theo tôi, đó là vì vua Cảnh Thịnh kế nghiệp Quang Trung mới 12 tuổi (không phải là con đẻ của Ngọc Hân) cùng thái sư Bùi Đắc Tuyên (cậu của Cảnh Thịnh) rất lộng quyền, chẳng ưa gì bà Ngọc Hân xứ Bắc, nên bà đã có ứng xử “chẳng tu thì cũng như tu mới là”; cũng có thể là bà “nặng tình nặng nghĩa” với Quang Trung. Bà có với Quang Trung hai (02) người con, bà mất sớm (1799) và cả hai con bà cũng vậy (1801).

03.2. Cho nên không làm gì có chuyện vua Gia Long giết hai con bà và lại lấy bà làm vợ. Khi Ngọc Hân làm vợ Quang Trung, đã môi giới để người em cùng nhũ mẫu là Ngọc Bình làm vợ của Cảnh Thịnh.

Khi Cảnh Thịnh chạy ra Bắc, không hiểu vì lý do gì, bà Ngọc Bình bị kẹt ở Phú Xuân. Gia Long chiếm Phú Xuân, bắt được Ngọc Bình và quyết định ngay lấy làm vợ (phi). Cả đám triều thần của Gia Long xúm lại can ngăn, họ nói: - Bệ hạ nay có cả thiên hạ, thiếu gì gái đẹp – trinh nguyên, việc gì phải lấy vợ của giặc làm vợ mình ! Vua Gia Long cười ha hả mà nói: - Đến đất nước của giặc “tau” còn lấy, huống chi là vợ giặc,“tau” lấy vợ giặc làm vợ “tau” thì có chi mô !

Về việc này Biên Niên sử của triều Nguyễn còn chép hẳn hoi, xem – chẳng hạn – Đại Nam Thực lục Chính biên.

Tôi kể chuyện này với ông bạn thân – nay đã quá cố “người xứ Huế” (mẹ là dòng Hoàng phái Nguyễn) là PGS Nguyễn Đức Từ Chi, ông cười lâu lắm và bảo tôi rằng: - Ở đại học, tôi học cổ sử Việt Nam với các thầy khác nên không biết chuyện này. Nay nghe anh kể mới biết. Thật là tuyệt ! Đây là một “ca” (cas = trường hợp) mà nếu lý giải bằng phân tâm học (psyanalyse) thì sẽ rất lý thú. Nhưng câu nói ấy của Gia Long trả lời các quan đại thần là rất “cynique” (tôi chưa biết dịch là gì cho đúng, đại khái là rất “tởm”, “lỗ mãng”, “bất cần sĩ diện”, “trắng trợn”… nhưng mà rất THỰC) đấy chứ, phải không anh ?

Tôi mủm mỉm gật đầu đồng ý.

03.3. Tôi được đọc GIA PHẢ nhà họ Nguyễn ở làng Nành (nay thuộc xã Ninh Hiệp, huyện Gia Lâm, Hà Nội) quê bà Nguyễn Thị Huyền, mẹ bà Ngọc Bình, nhũ mẫu của bà Ngọc Hân. Gia phả có đoạn chép:

Bà cụ Nguyễn Thị Huyền – qua con gái là bà Ngọc Bình – có làm đơn xin cải táng mộ bà Ngọc Hân (và hai con bà) về Bắc, về quê bà. Vua Gia Long đồng ý. Tiểu sành đựng xương cốt bà Ngọc Hân được chở bằng thuyền về làng Nành và được xây mộ hẳn hoi. Mãi đến thời Thiệu Trị (1840-1847), có một tên cường hào ở làng Nành vì có sự chảnh chọe ngôi thứ gì đó với dòng họ Nguyễn nên làm đơn vu cáo họ Nguyễn đã “lợi dụng” gì đó về ngôi “mả ngụy” Ngọc Hân, cấp trên nó quan liêu hay ăn đút lót gì đó – không biết – phê vào đơn cho phép đào mả Ngọc Hân quẳng xuống sông Nhị Hồng…

Hiện nay ở Gia Lâm có đền Ghềnh, tương truyền là “rất thiêng”, đấy chính là nơi hài cốt Ngọc Hân dạt vào, được dân vớt lên mai táng lại. Nhiều nhà “Hà Nội học” – không đọc gia phả họ Nguyễn làng Nành – đã nói và viết rất “lu bu” về chuyện này và “đổ vạ” cho Gia Long và nhà Nguyễn đào mả vợ Quang Trung để trả thù ! “Trả thù”, vâng, có thể có ở mọi thời, song việc đào mả Ngọc Hân quẳng xuống sông không phải là việc và trách nhiệm – tội lỗi của Gia Long.

03.4. Gia Long “tội vạ” gì mà gây thù chuốc oán thêm với sĩ phu và dân chúng Bắc Hà mà ông chê bai là “bạc” – theo thành ngữ dân gian – hay được / bị “dân gian hóa” thành câu: “Bạc như dân, bất nhân như lính”.

Theo chỗ tôi được biết (tôi biết rất ít thôi), thì sau khi vua Gia Long ra Bắc (1802) diệt nốt “dư đảng Tây Sơn” và cử Nguyễn Văn Thành (“Tiền Quân Thành”) làm Bắc thành trấn thủ, vua Gia Long đã – qua ông Thành – làm vài việc sau đây:

03.5. Tổ chức một lễ tế “Trận vong tướng sĩ” ở bên bờ sông Nhị phía Đông thành Thăng Long. Bài văn tế này vẫn còn và khi xưa – tôi học trung học – vẫn được học ở sách Việt Nam văn học sử yếu của cố GS Dương Quảng Hàm. Sách này đề tên tác giả bài văn tế là “Vô danh”, sau này giới Văn học và Hà Nội học đã tìm ra tác giả chính là Nguyễn Huy Lượng, sĩ phu Bắc Hà – người đã cộng tác với triều đình Tây Sơn đến cùng (1801) và viết bài Phú nôm nổi tiếng “Tụng Tây hồ phú” (và do vậy Phạm Thái, sĩ phu Bắc Hà chống Tây Sơn đã viết bài phản bác cũng khá hay với nhan đề “Chiến tụng Tây hồ phú”). Lễ tế vong này và bài văn tế giành cho mọi sĩ tử binh không phân biệt ai là “chân” ai là “ngụy”. Tế xong, Nguyễn Huy Lượng không bị phạt tù tội gì về việc cộng tác với nhà Tây Sơn và Nguyễn Gia Long “bổ” cho ông cử nhân hay chữ này một chức tri huyện ở phủ Nghĩa Hưng (Nam Định), sau ông bị – theo gia phả và sử địa phương chí chép – giặc cướp giết.

03.6. Cũng dưới thời vua Gia Long, bà phi “tòng vong” với Lê Chiêu Thống xin triều Nguyễn cho đưa hài cốt ông vua Lê cuối cùng này cùng vài quan tòng vong (đã chết bên nước Thanh) đem về nước. Vua Gia Long – qua lời tâu của Trấn thủ Bắc thành – đã đồng ý. Bà phi họ Nguyễn này mang hài cốt chồng và vài quan khác về Việt Nam chôn cất xong thì tự tử chết. Bà cũng được mai táng tử tế (tôi được học chuyện này từ thời trung học Pháp thuộc).

Vua Gia Long đã sai lập “đền Cố Lê” ở Hà Nội (mạn phố Thụy Khuê) để thờ vua Lê cũ và sai dỡ nhà Thái miếu ở Thăng Long về Bố Vệ xứ Thanh quê nhà Lê lập đền thờ. “Đền vua Lê” (còn gọi là “Thái miếu”) hiện vẫn còn và đã được Bộ Văn hóa Thông tin nhà nước CHXHCN Việt Nam xếp hạng (“Di tích Văn hóa được xếp hạng”).

03.7. Quê tổ nhà Nguyễn là Gia Miêu ngoại trang ở Hà Trung – Thanh Hóa, đối diện với dãi núi Triệu Tường. Ở Đàng Trong, Nguyễn Hoàng đã trở thành “ông Hai” (ông cả Nguyễn Uông đã bị anh rể  – chồng bà Ngọc Bảo – giết để cướp chính quyền Thái Sư (như thủ tướng ngày sau), thay thế ông bố vợ Nguyễn Kim (phụ thân Nguyễn Uông, Nguyễn Hoàng) đã bị đầu độc chết. Từ thế kỷ XVII-XVIII trên đường hình thành đạo Mẫu Việt Nam mà mẫu Liễu Hạnh ở Phủ Giầy (Vụ Bản, Nam Định, Nam Hà) trở thành “Thánh Mẫu” theo thần tích, ít ra là từ đời Cảnh Hưng (1740-1786). Nguyễn Hoàng đã được thờ ở khắp xứ Đàng Ngoài dưới tên gọi “Quan Lớn Triệu Tường”. Vua Gia Long đã về thăm quê gốc Gia Miêu.

Trên đường công tác điền dã, năm 1994, tôi đã về thăm Gia Miêu, thăm ngoại / nội trang, thăm núi Triệu Tường, và đang đứng trầm ngâm chiêm ngắm ngôi đình được trùng tu lại thời Gia Long, rất đẹp mắt nhưng đang gần như bị “bỏ quên” (chưa được xếp hạng và đang xuống cấp, chưa được trùng tu tôn tạo) thì được một cán bộ xã mời về trụ sở Đảng ủy và UBND xã.

Tôi những tưởng mình sẽ bị khiển trách và “thăm hỏi” vì đã dám ghé thăm ngôi đình làng mang niên hiệu Gia Long trùng tu mà không trình báo lãnh đạo xã. Nhưng không !, tôi được chiêu đãi một bữa bia “đã đời”, vì đã được cán bộ xã đứng tựa cột đình “nghe lỏm” – tôi đang giảng giải cho các cán bộ cùng đi – về nét đẹp ngôi đình làng này và tỏ ý tiếc vì bị nhà nước bỏ quên ! Nghe các nhà lãnh đạo xã quê hương Gia Long nói thêm về tình hình xã, tôi rất mừng vì các đảng viên cộng sản Gia Miêu quê hương nhà Nguyễn đã tỏ ra có “tư duy đổi mới” khi nhận nhìn vai trò lịch sử của vua Gia Long và nhà Nguyễn với thái độ “thể tất nhân tình”, rất đậm đà bản sắc Việt Nam. Vua Gia Long sai sửa đình làng quê gốc của mình nhưng không hề sai sửa lại tên quê. Mãi đến thời Tự Đức (1848-1883), ông vua này mới sai đổi tên Gia Miêu cũ xưa thành tên mới Quý Hương !

03.8. Tuy Trịnh Kiểm đã giết Nguyễn Uông, nhưng chính sử nhà Nguyễn, kể cả Đại Nam nhất thống chí, quyển về Thanh Hóa tỉnh, mục nhân vật vẫn chép về Trịnh Kiểm mà không hề có một lời nói xấu nào về ông tổ họ Trịnh này.

Thật là lạ ! Càng lạ hơn, khi tôi (1992) về thăm lại quê hương Trạng Bùng – Phùng Khắc Khoan ở Thạch Thất xứ Đoài (nay thuộc tỉnh Hà Tây) – người được coi là “Trương Tử Phòng” (quân sư Trương Lương của Hán Cao Tổ) của Trịnh Kiểm. Gia Long rồi Minh Mạng đã ban cho ngôi nhà thờ Trạng Bùng một bức đại tự chạm trổ rất đẹp với 4 chữ “TRUNG HƯNG CÔNG THẦN”, miễn sưu dịch cho con cháu Trạng Bùng, lại cho 2 “đinh phụ” được coi sóc nhà thờ và mồ mả của ông Trạng đã hết lòng “phù Lê phù Trịnh” này.

03.9. Tôi có một số bạn bè họ Trịnh đã / đang làm cán bộ cao cấp của nhà nước CHXHCN Việt Nam. Tôi đưa cho họ xem bản Trịnh gia thế phả do Trịnh Cơ vâng lệnh Gia Long, khai báo lại năm 1802.
Lời mở đầu cuốn gia phả họ Trịnh này viết rằng khi vua Gia Long ra Bắc (1802), ông đã cho gọi tộc trưởng họ Trịnh – Trịnh Cơ – từ xứ Thanh ra Thăng Long và phán bảo rằng: - Họ nhà ngươi và họ ta là hai họ có thâm thù vì tổ họ ngươi đã giết tổ họ ta !

Trịnh Cơ run rẩy nghĩ rằng mình và họ mình sẽ bị Gia Long “làm cỏ sạch gốc rễ” để trả thù. Nhưng mà không !, vua Gia Long nói tiếp: - Nhưng họ nhà ngươi và họ ta đã từng là thông gia – thân gia. Ta sẽ lấy tình thân gia mà đối đãi với họ ngươi. Song họ ta ở Nam đã quá lâu, ta chẳng biết rõ gì về họ ngươi cả. Vậy ngươi hãy cung khai về gốc gác họ Trịnh trình cho ta biết !

Trịnh Cơ mang gia phả cũ ra tham khảo và cứ theo sự thực viết ra (cố GS Hoàng Xuân Hãn rất khen ngợi bản gia phả nhà Trịnh này là trung thực, đã viết rõ gốc gác nghèo hèn và hành xử “xấu xa” của Trịnh Kiểm như ăn cắp gà, giết trộm trâu, ăn cắp ngựa…). Đọc xong Gia phả họ Trịnh, Gia Long đã phê ban cho họ Trịnh 200 mẫu ruộng công để dựng nên Trịnh điện làm nơi thờ tự các chúa Trịnh (nay làng Trịnh Điện bên bờ sông Mã có diện tích đúng 200 mẫu, 1 mẫu Trung bộ = 5000m2).
  
* LỜI TẠM ĐÓNG
Khi còn ở Gia Định và mới chỉ có Gia Định (châu thổ sông Mê Kông) trước 1801-1802, Nguyễn Ánh – Gia Long đã vận dụng “cơ chế thị trường” và đã biến Sài Gòn miền Nam thành nơi sản xuất xuất khẩu lúa gạo ra toàn Đông Nam Á để đổi lấy các sản phẩm công nghiệp phương Tây, cố nhiên hàng nhập khẩu được ưu tiên hàng đầu là vũ khí để chống lại Tây Sơn. Tôi không muốn / không cần bình luận về ý đồ chủ quan của Nguyễn Ánh, nhưng Nam Bộ cho đến nay vẫn quen với “cơ chế thị trường” hơn miền Bắc. Có nhiều nguyên nhân lắm, song phải chăng cũng có vai trò của NGUYỄN ÁNH ?

Tôi đã nhắc đi nhắc lại – làm rườm tai bạn đọc, nếu bài này được đọc và được in – rằng tôi, kẻ ngu hèn này, không phải là một nhà Sử học chính tông.

Vậy, theo ý F. Engels vĩ đại, ai không am hiểu lắm về một lĩnh vực khoa học nào đó mà cứ cố tình “nói chõ” vào thì có thể được lượng thứ về một số sai lầm không đến nỗi lớn lắm.

Tôi, từ lâu đã rất mê F. Engels, mượn và có thể là “lợi dụng” mấy lời nói của ông để tạm đóng bài viết có nhiều phần “dở hơi” này.
                                                        Hà Nội – Sài Gòn (Thành phố Hồ Chí Minh)
                                                                           Mùa thu tháng Tám, 1996
Kính nộp,
GS Trần Quốc Vượng
(Đại học Quốc gia Hà Nội)
(1) Có nhà Việt Nam học ở Liên Xô (cũ) còn xem vai trò Gia Long như vai trò của Pi-e đại đế nước Nga xưa nữa kia. Thật là “quá đáng”, nhưng theo tôi, Quang Trung cũng không hề là nhà cải cách vĩ đại của Việt Nam.
(2) Bình Định Vương Lê Lợi.
(3) Thăng Long – Đông Đô – Hà Nội

Thứ Hai, 7 tháng 7, 2014

Phải chăng Marx chống lại tự do báo chí?

Câu hỏi trong tựa của entry này không phải của tôi, mà là một phần tựa gốc của bài báo ngắn bằng tiếng Anh cách đây gần 2 năm của tác giả Brendan O'Neill đăng trên tờ The Telegraph của Anh. Có thể đọc toàn bài ở đây: http://blogs.telegraph.co.uk/news/brendanoneill2/100191832/marx-hated-press-freedom-er-i-dont-think-so-he-was-its-most-passionate-champion/.

Vì đang quan tâm đến tự do báo chí, đặc biệt là từ đầu tháng 5, ngày báo chí thế giới, tình cờ tìm được mấy bài viết của chính Karl Marx viết về tự do báo chí (mà tôi đã giới thiệu một chút trên blog này) nên dù đang bận nhưng tôi cũng phải bỏ chút thời gian ngồi đọc và viết tóm tắt để lưu lại cho mình và chia sẻ với các bạn. Vậy thì đây, tóm tắt những điểm đáng lưu ý về bài báo.

Theo tác giả, ai cho rằng Marx ghét tự do báo chí thì người ấy quả là dốt nát về lịch sử. Không những không ghét, Marx còn là người ủng hộ tự do báo chí một cách hết sức nhiệt thành. Ông đã từng thú nhận rằng tự do báo chí là điều kiện căn bản mà nếu không có nó thì con người không thể tồn tại một cách đầy đủ, hoàn thiện và thỏa mãn.Ông cũng tỏ ra kinh ngạc khi thấy có một số người có thể hưởng thụ cuộc sống cho dù điều kiện sống của họ hoàn toàn không có tự do báo chí. (Xem đoạn trích tiến Anh bên dưới.)

Marx confessed his love for press freedom: "I feel that its existence is essential, that it is something which I need, without which my nature can have no full, satisfied, complete existence." He marvelled at the ability of some people, particularly those in authority, to "enjoy a complete existence even in the absence of any freedom of the press".

Tất nhiên, tự do báo chí không phải là hoàn hảo. Cũng có những điều bất tiện và bất lợi, nhưng theo Marx thì "ta không thể đòi hưởng những ưu điểm của một nền báo chí tự do mà lại không chấp nhận những điều bất tiện của nó. Không ai có thể hái được hoa hồng mà không chạm phải gai!" (Trích dẫn phía dưới.)

Of course the press is not perfect, Marx said – but "you cannot enjoy the advantages of a free press without putting up with its inconveniences. You cannot pluck the rose without its thorns!" Those wise words should be borne in mind by all those who now want to "clean up" the press and get rid of the bad bits of it. 

Bài báo kết thúc bằng phần trích dẫn dài những gì Marx đã viết về tự do báo chí, đoạn mà tôi cũng đã từng trích trong bài giới thiệu của tôi trên blog này. Tác giả cho rằng đoạn trích ấy là lập luận hay nhất và mạnh mẽ nhất đã từng được viết ra để ủng hộ tự do báo chí.

Xin trích lại:

Báo chí tự do là con mắt có mặt ở khắp nơi để giám sát linh hồn của mỗi dân tộc, là hiện thân của niềm tin  vào chính mình của dân tộc ấy, là mối liên kết mạnh mẽ kết nối mỗi cá nhân với nhà nước và với thế giới, là hiện thân của một nền văn hóa có khả năng biến đổi cuộc đấu tranh vật chất thành cuộc đấu tranh trí tuệ và lý tưởng hóa hình thức vật chất của nó. Đó là lời thú tội thẳng thắn của một dân tộc với chính mình, và ai cũng biết sức mạnh cứu rỗi của việc thú tội là như thế nào rồi. Đó cũng là tấm gương tinh thần trong đó một dân tộc có thể nhìn thấy chính mình, và việc tự xem xét chính mình điều kiện đầu tiên của sự khôn ngoan. Đó là linh hồn của nhà nước, có thể được đưa vào dưới mỗi mái nhà, và rẻ hơn so với khí than. Nó toàn diện, có mặt ở mọi nơi, và toàn trí. Nó là thế giới lý tưởng luôn tuôn trào từ thế giới thực và chảy trở lại vào trong thế giới đó với những của cải thiêng liêng to lớn hơn nữa làm đổi mới tâm hồn của thế giới này.

Nếu vậy, thì tự bao giờ và tại sao, tất cả các nước cộng sản đều không có tự do báo chí? Ở các nước này, hoàn toàn không có báo chí tư nhân, nhà báo phải chịu kiểm soát chặt chẽ, việc cấp thẻ khá khó khăn, hạn chế, từng bài báo phải chịu kiểm duyệt - mà đa số đã được tự kiểm duyệt trước đó - và tổng biên tập của mọi tờ báo đều phải là đảng viên (nếu thông tin của tôi là đúng), chịu nhiều ràng buộc vì tư cách đảng viên của mình (phải tuyệt đối phục tùng cấp trên và trung thành với tổ chức).

Tại sao, tại sao? Xin dành câu trả lời cho những người có trách nhiệm. Và thêm một câu hỏi trong danh sách những câu hỏi lớn không lời đáp của chúng ta, "thuở đất nước của Hùng Vương có Đảng ...".

Biết đến bao giờ mới có câu trả lời đây?

Chút thoáng xuân hương ...

"Chút thoáng xuân hương" là tựa một truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp, nhưng tôi muốn dùng nó để đặt cho entry này, vì không hiểu sao lại thấy nó rất phù hợp. Ừ thì Đà Lạt có Hồ Xuân Hương, mà Xuân Hương lại là một nữ thi sĩ rất nổi tiếng của VN. Mà mỗi lần đến Đà Lạt thì cũng chỉ hiểu được chút thoáng vẻ đẹp của nó, dù chỉ là một chút một thoáng thì cũng đã đủ để ngẩn ngơ rồi. Vâng, tôi đã đến thăm Đà Lạt nhiều lần nên không còn sự háo hức của lần đầu, nhưng quả thật lần này đi xong thì lại thấy mình vẫn còn quá nhiều thứ để tìm hiểu về thành phố mộng mơ này, và sẽ còn trở lại với nó thêm nhiều lần nữa..

Nhưng thôi, một entry như thế này thì không cần viết dài dòng, mà hãy để cho những tấm hình tự nó nói lên câu chuyện về Đà Lạt. Chút thoáng xuân hương ...



.





Ở sân bay Liên Khương



Đường về Osaka Resort, gần Hồ Tuyền Lâm

Đây, Osaka Resort


Thông xanh ở khắp nơi

Bên Hồ Xuân Hương

Màu chủ đạo của cafe Thanh Thủy

Buổi chiều trên Hồ Xuân Hương

Ngắm mây vàng trên đầu dốc

Dalat Nights. quán cafe ở gần Osaka Review, được xem là nơi có view đẹp nhất thành phố

Đà Lạt buổi chiều tà
Hoàng hôn
Buổi tối ở khu nhà nghỉ
Ấm cúng ánh đèn vàng

Dưới kia là thành phố ...
Buổi sáng trên thành phố ngàn thông


Vườn hồng
Hoa bìm bìm






Thứ Bảy, 5 tháng 7, 2014

Biển Đông: Sự thật, hòa bình, và công lý



Biển Đông: Sự thật, hòa bình, và công lý
Vũ Thị Phương Anh
Đã hơn 50 ngày kể từ ngày Trung Quốc hạ đặt trái phép giàn khoan HYSY 981 trên vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam trên Biển Đông.Trong suốt thời gian này, tất cả mọi người Việt Nam đều một lòng thao thức với từng sự kiện lớn nhỏ diễn ra ngoài vùng biển ấy.

Dõi theo những gì đã và đang xảy ra, có thể thấy rõ những biến đổi trong các cung bậc cảm xúc của người dân Việttrong mấy tuần qua.Dù rất căm phẫn khi thấyvùng biển của tổ quốc bị xâm phạm, các tàuđánhcávà tàu kiểm ngư của Việt Nam bị xịt vòi rồng, bị đâm thủng;cảnh sát biển và ngư dân bị thương tích và cả người bị thiệtmạng, nhưng người dân đã phấn chấn và đầy hy vọng trước những phản ứng mạnh mẽcủa các nhà lãnh đạo Việt Nam, đặc biệt là lời tuyên bố của Thủ tướng rằng Việt Nam đang chuẩn bị hồ sơ kiện Trung Quốc ra tòa án quốc tế. 

Những cảm xúc tích cực ấy sau đó nhanh chóng biến mất mà thay vào bằng những cảm xúc tiêu cực trước những tình huống xấu.Tại Hội nghị Shangri-La, phát biểu của Bộ trưởng quốc phòng Việt Nam về quan hệ tốt giữa Việt Nam và Trung Quốc đã khiến nhiều người bất bình và nghi ngại, e rằng nhà nước Việt Nam sẽ tiếp tục chính sách ngoại giao đầy nhân nhượng lâu nay. Liền sau đó, Trung Quốc bất ngờ gửi  thư đến Liên hiệp quốc với nhiều “bằng chứng” về việc Việt Nam đã “công nhận” Hoàng Sa và Trường Sa là của Trung Quốc. Những bằng chứng này không chỉ có công hàm ngoại giao năm 1958, mà còn có cả bản đồ và sách giáo khoa ghi rõ hai quần đảo này là thuộc về Trung Quốc.Bàng hoàng, thất vọng và cả mất niềm tin vào chính nghĩa của Việt Nam, đó có lẽ là cảm xúc của người dân khi lần đầu tiên tiếp cận với những thông tin mà từ trước đến giờ vẫn thuộc loại tuyệt mật đó. 

Rồi gần đây nhất là sự kiện Trung Quốc rầm rộ kéo thêm 4 giàn khoan mới vào Biển Đông, ngay khi đang có cuộc gặp gỡ cấp cao lần đầu tiên giữa hai nước sau sự kiện giàn khoan HYSY981. Mục đích của cuộc gặp, mỉa mai thay, dường như chỉ là để Trung Quốc “răn đe”, “dạy bảo” Việt Nam, vì sau cuộc họp đó báo chí Trung Quốc đã đưa tin đầy xúc phạm rằng tại cuộc họp này ông Dương Khiết Trì đã kêu gọi “đứa con hoangđàng” là Việt Nam hãy quay đầu hối cải. Một hành động vừa khiêu khích, vừa giằn mặt vừa sỉ nhục của Trung Quốc đối với Việt Nam, chỉ có thể nói là như thế.

Những động thái của Trung Quốc trong thời gian qua cho thấy nước này không định dừng lại ở vài giàn khoan dầu, mà đang rắp tâm thực hiện âm mưu độc chiếm Biển Đông mà họ đã lập kế hoạch từ cách đây hơn nửa thế kỷ. Một sự ngang nhiên thách thức cuả kẻ thù đối với kẻ xâm lược, buộc mỗi người Công giáo phải tự hỏi mình, tôi phải làm gì đây để biểu lộ lòng yêu nước, để thực hiện lời kêu gọi của Hội đồng Giám mục Việt Nam trong bức thư ngày 9/5/2014?

Ngay từ những ngày đầu tiên khi tình hình Biển Đông có biến động, những cảm xúc sục sôi đã buộc tôi phải hành động, vì làm sao có thể ngồi yên? Dù có những e ngại, tôi đã tham gia cuộc biểu tình ngày 11/5 với cảm xúc mãnh liệt nhất, đã hô to đến khản tiếng những khẩu hiệu chống Trung Quốc xâm lược, và sẵn sàng tinh thần tham gia những lần kế tiếp nếu việc biểu tình không bị trấn áp sau những vụ bạo loạn của công nhân.Tôi theo dõi tin tức hàng ngày về diễn biến trên Biển Đông rồi viết thành một mẩu điểm tin ngắn, vừa để chính mình có thông tin vừa chia sẻ rộng rãi để mọi người có thể nắm tình hình một cách đầy đủ và nhanh chóng. Để lưu lại những thông tin đáng lưu ý, tôi lập hẳn một trang blog để sưu tập, dịch, tổng hợp và lưu lại các về Biển Đông, dù các lĩnh vực có liên quan đến vụ tranh chấp ở Biển Đông như quan hệ ngoại giao hoặc công pháp quốc tế không phải là lãnh địa chuyên môn của tôi, khiến đôi khi tôi mất khá nhiều thời gian để tra cứu.

Với những việc không ai ép buộc như vậy, những ngày qua là những ngày bận rộn nhất trong cuộc đời làm việc của tôi, vì vẫn phải đảm đương những công việc thường nhật vừa cố góp phần vào cuộc chiến trên mặt trận truyền thông của Việt Nam. Những nỗ lực của tôi không phải là không có kết quả. Số lượng người đọc thông tin trên trang Biển Đông tăng lên hàng ngày; bạn đọc không chỉ đến đọc cho biết rồi đi, mà còn góp ý, tranh luận, và thậm chí tự nguyện tham gia dịch thông tin đóng góp cho trang blog. Nhiều thông tin vềchủ quyền biển đảo Việt Nam, cả lịch sử, địa lý và cả pháp lý mà nhà trường phổ thông cho đến nay vẫn chưa chú trọng đầy đủ, đã được tập hợp lại sẵn sàng để bất cứ ai cần cũng có thể đọc, và chúng đang bắt đầu được đọc. Có lẽ đã hơi muộn, nhưng muộn còn hơn không.  

Với những kết quả nho nhỏ ấy, lẽ ra tôi phải thấy hài lòng vì tôi đã làm hết sức. Nhưng không hiểu sao dù cố gắng thật nhiều nhưng tôi vẫn không thể hài lòng, mà vẫn mang nặng cảm giác đau đớn và đôi khi  tuyệt vọng rằng những điều mình làm chỉ là “dã tràng se cát”. Rồi sẽ chẳng có gì thay đổi đâu, mọi việc rồi sẽ tiếp tục theo quỹ đạo đã vạch sẵn mà thôi. Có lẽ tôi chỉ đang cố làm cho mình bận rộn để không phải nghĩ thêm về những gì đang diễn ra, chứ chẳng phải là tôi có niềm tin vào ý nghĩa của những việc mình đang làm. Viễn cảnh của xung đột Biển Đông đối với tôi thật quá mờ mịt.

Mong tìm được chút ơn soi sáng, tôi bỏ một ngày cuối tuần để đọc lại và suy nghĩ về bức thư kêu gọi của Hội đồng Giám mục Việt Nam. Bức thư này tôi đã đọc kỹ khi nó vừa được đưa ra, và ngay khi ấy tôi đã có thoáng chút băn khoăn về lời khẳng định lập trường hòa bình, phản đối chiến tranh của Giáo hội Công giáo. Vâng, chúng ta cần hòa bình, nhất là khi nền hòa bình đó “không tách rời những đòi hỏi về công lý, được nuôi dưỡng bởi […] sự khoan dung và tình yêu”[1]. Nhưng liệu có đòi hỏi hoặc mong đợi những điều này được không ở nhà cầm quyền Trung Quốc, những kẻ mà sự gian trá, ngược ngạo, và bá quyền nước lớn dường như đã trở thành bản chất? Làm sao tôi và những người Việt Nam khác có thể khoan dung và yêu thương những kẻ xâm chiếm đất nước và giết hại đồng bào của chúng tôi? 

Nền hòa bình dựa trên công lý như Giáo hội đòi hỏi rõ ràng vô cùng khó, và có thể nói là không tưởng khi xét trong mối quan hệ cụ thể và phức tạp giữa Việt Nam và Trung Quốc gần một thế kỷ qua. Trong bối cảnh đất nước đang bị xâm lấn, một lời kêu gọi hòa bình nghe rất giống lời kêu sự nhân nhượng, chấp nhận bị đè ép và xâm lấn mà không phản kháng để “không ảnh hưởng đến đại cục” – như những gì đang diễn ra tại Việt Nam. Là một người Công giáo – dù tôi rất hổ thẹn thú nhận rằng mình không phải là một con chiên ngoan đạo – lẽ nào tôi có thể khoanh tay đứng nhìn và chờ xem,vì “đã có Đảng và Nhà nước lo”, như người ta hay nói ở Việt Nam? Lương tâm của một con người, một công dân và một giáo dân Việt Nam không cho phép tôi có thái độ đó. Nhiều ngày hoang mang, mất phương hướng trôi qua, nhưng tôi biết mình phải kiên trì tiếp tục tìm hướng đi cho mình, để có thể có vững tâm tiếp bước.

Dọ dẫm tìm đường, tôi đọc lại các sứ điệp hòa bình của các vị Giáo hoàng, và chú ý đến các Sứ điệp hòa bình năm 1972 [1], 1973[2], 1974[3] của Đức Phaolô VI vì tên gọi của chúng dường như có thấp thoáng hình bóng của một thông điệp cho chính tôi


Sứ điệp hòa bình năm 1972 khẳng định“nếu bạn muốn hòa bình, hãy hoạt động cho công lý”. Sứ điệp bình năm 1973 động viên chúng ta rằng “hòa bình là có thể”. Sứ điệp 1974 kêu gọi “hòa bình cũng tùy thuộc vào bạn nữa” Vâng, với niềm tin, tôi hy vọng mọi việc sẽ diễn ra như các sứ điệp hoà bình đã nêu. Trong xung đột ở Biển Đông, giải pháp hòa bình là đưa vụ việc ra tòa án quốc tế. Nếu nhà nước Việt Namkiên quyết kiện Trung Quốc như Thủ tướng đã từng tuyên bố, có thể chúng ta sẽ đòi được chủ quyền ở Biển Đông bằng con đường hòa bình. Nhưng tôi vẫn băn khoăn: Công lý đích thực ở đâu, và ai có thể đem lại cái gọi là “công lý”, nếu không phải là những kẻ mạnh, trong đó có Trung Quốc? Những phán đoán của nhiều học giả Việt Nam về khả năng thắng kiện của Việt Nam có chính xác không, nếu giả dụ nó đang dựa trên những thông tin chưa đầy đủ? Liệu Việt Nam có thực sự có khả năng thắng kiện không, khi phía Trung Quốc cũng có những bằng chứng cứ chống lại ta mà họ đang dần công bố? Và mỗi người chúng ta có thể làm gì để thúc đẩy nhà nước nhanh chóng xúc tiến vụ kiện, cùng góp tay vào quá trình thu thập thông tin và xây dựng hồ sơ kiện nhanh chóng, thuận lợi và đầy đủ nhất?

Và ánh sáng đã lóe lên. Chìa khóa để trả lời hầu hết những câu hỏi ở trên là: Sự thật. Chỉ có toàn bộ sự thật mới giúp cho các học giả Việt Nam biết được những chứng cứ mà phía Trung Quốc có thể đưa ra để chống lại Việt Nam và phán đoán đúng những khó khăn cần vượt qua; chỉ có sự thật mới giúp đoàn kết mọi người dân Việt vượt qua những khó khăn này; và chỉ có toàn bộ sự thật không cong queo, úp mở mới thuyết phục được cộng đồng quốc tế về tình trạng “không thể tranh cãi” của chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Còn tôi, với tư cách một người hoạt động trong ngành giáo dục, tôi cũng đã biết mình phải làm gì để “hoạt động cho công lý”, để góp phần vào giải pháp hòa bình cho Biển Đông. Tôi sẽ tiếp tục với con đường đi tìm và nói lên sự thật và chỉ sự thật, dù biết rằng sẽ có khi gặp trở ngại, sẽ có lúc phải đi đường vòng để có thể nói được sự thật cần phải nói. 

Bởi, “sự thật sẽ giải thoát anh em” (Ga 8, 32).

****************

Thứ Bảy, 28 tháng 6, 2014

Chủ nhật, đọc lại bài thơ Trăng nghẹn

Tình cờ, một người bạn của tôi ở miền Tây post lên trên trang fb của bạn ấy bài thơ đã từng làm ồn ào dư luận cách đây vài năm - bài thơ Trăng nghẹn.

Tôi đã đọc bài ấy từ lúc nó mới ra đời, và đã có cảm xúc rất mãnh liệt, nên bài thơ ấy đối với tôi không còn mới nữa. Vậy mà khi đọc lại, tôi vẫn thấy nghèn nghẹn. Chẳng phải vì tác giả là một người cầm bút quá tài năng, mà vì những cảm xúc và hình ảnh, sự kiện trong bài thơ quá chân thật. Và quá buồn.

Với một bài thơ như vậy, chúng ta không nên bình luận gì nhiều, vì sẽ làm hỏng bài thơ. Cảm xúc chân thật vốn luôn đi thẳng vào lòng người, không cần nhờ đến bất cứ một lời dẫn giải nào. Tôi chỉ tô đậm lên những đoạn, những câu tôi thích để đánh dấu cho chính mình mà thôi.

Bài thơ Nghẹn. Nghẹn vì những cảm xúc, những hình ảnh, và những sự kiện buồn. Và nghẹn hơn vì đọc xong thì nhận rõ cái buồn lớn nhất, dù không được nói ra: Không có một chút ánh sáng nào cuối đường hầm cả. Nghẹn.

Bài thơ ấy ở đây: http://www.vannghesongcuulong.org.vn/modules.php?name=News&op=viewst&sid=6405


TRĂNG NGHẸN - thơ HOÀI TƯỜNG PHONG

22.02.2010 08:11

(TÁC PHẨM ĐOẠT GIẢI 1 CUỘC THI THƠ ĐBSCL NĂM 2009)

Cô bạn xưa nách con ngang nhà mua chịu rượu,
Đôi mắt ướt một thời bẽn lẽn ngó bàn chân

(Trích)

Mẹ sinh tôi vào một đêm rằm mưa gió ngày xưa,  
Lúc chào đời đã lỡ hẹn cùng vầng trăng viên mãn.  
Vùng tản cư hồi nầy ruộng hoang nhà trống,  
Rước được bà mụ vườn, ngoại cực trần thân.

Tôi lớn trong quê mùa như cây tạp vườn hoang,  
Bảy tuổi biết leo lưng trâu, không từng ngồi xe đạp.  
Không biết lời bải buôi để mua lòng người khác,  
Nên thua thiệt cả đời vì không thể dối lừa ai.

Ngơ ngác buổi ra thành, trước cuộc sống đua chen,  
Mười năm sau chưa gội rửa cho mình thành dân chợ.  
Lớp phèn hết bám chân, nhưng chất chân quê vẫn còn đó,  
Tôi tranh thủ những tháng hè, thích về lại thăm quê.

Bè bạn theo đuôi trâu một thời, mơ ước nhìn tôi,  
Tưởng tôi thoát kiếp ngài, nhởn nhơ hóa bướm. 
Tôi nhìn vẻ hồn nhiên của đám bạn xưa thèm quá,  
Cộng một chút phù hoa đâu thêm lớn tâm hồn.

Mỗi lần về quê bè bạn cũ lại vắng hơn,
Gái mười bảy đã lấy chồng, trai hai mươi đòi vợ. 
Cô bạn xưa nách con ngang nhà mua chịu rượu,  
Đôi mắt ướt một thời bẽn lẽn ngó bàn chân.

Xóm bên sông nhiều cô gái rời quê, 
Về thăm nhà xênh xang lụa là hàng hiệu.  
Vài căn nhà xây, đổi đời nhờ những đồng tiền báo hiếu, 
Khởi sắc một vùng quê sao nghe có chút bùi ngùi.

Đồng bằng quê hương tôi nhiều cái nhất ngậm ngùi:  
Sản lượng lúa nhiều, vùng cá ba sa lớn nhất,  
Đầu tư văn hóa thấp và khó nghèo cũng nhất, 
Và cũng dẫn đầu, những cô gái lấy chồng xa.

Chập tối buồn ra nhìn bến nước cô đơn,  
Vầng trăng vừa lên đã bị mây mưa vần vũ.  
Tôi chợt nhớ lần lỗi hẹn đầu đời, trăng cũ,  
Vầng trăng nghẹn hoài, chưa tỏa sáng một vùng quê.


H.T.P (Cần Thơ)

Thứ Tư, 25 tháng 6, 2014

Marx đã viết gì về tự do báo chí?

Bài này được bắt đầu viết từ ngày 3/5, nhưng do sự kiện giàn khoan nên tôi đã tạm gác lại để theo dõi tình hình Biển Đông. Giờ tình hình Biển Đông đã chuyển sang giai đoạn "trường kỳ kháng chiến" nên mới quay lại viết nốt. Chỉ là thông tin khách quan và một câu hỏi, mong mọi người góp phần giải đáp.
------------
Ngày 3/5 hàng năm là Ngày tự do báo chí. Đó là một ngày được UNESCO thừa nhận và hầu hết thế giới công nhận. Thậm chí, còn có một giải thưởng quốc tế của UNESCO về tự do báo chí gắn liền với ngày này, có thể đọc ở đây: http://www.unesco.org/new/en/communication-and-information/freedom-of-expression/press-freedom/unesco-world-press-freedom-prize/.

Một ngày quan trọng như vậy, nhưng hầu như truyền thông của VN không hề nhắc đến dù chỉ một dòng. Sao thế? Phải chăng chủ nghĩa Mác đả phá tự do báo chí, nên các nước cộng sản như VN không công nhận ngày này (và cũng không công nhận quyền này, như có thể thấy qua hiện trạng tại VN: không có báo chí tư nhân; nhiều bloggers bị đi tù do phạm phải những điều luật hạn chế, cấm đoán quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận được quy định rõ ràng trong các điều luật, ví dụ như điều 258 ...).

Trước nay tôi vẫn đinh ninh tự do báo chí là điều cấm kỵ từ lý thuyết của chủ nghĩa cộng sản, nên rất bất ngờ khi đọc được một mẩu tin nói về quan niệm của Marx về tự do báo chí. Có thật là Marx ủng hộ tự do báo chí hay không nhỉ? Tôi bỏ công ra đi tìm, và trong thời đại Internet với google search ngày nay, cứ tìm thì sẽ thấy, cứ gõ thì cửa sẽ mở  ra ....

Đây, trên trang tư liệu về Karl Marx tại trường ĐH Quốc gia Úc: http://marxists.anu.edu.au/archive/marx/works/1842/free-press/ch05.htm. Bài viết của Marx (bằng tiếng Đức) từ năm 1842, tức là cách đây đã 172 năm rồi.

Xin dịch vài đoạn đáng lưu ý:

The censorship law, therefore, is not a law, it is a police measure; but it is a bad police measure, for it does not achieve what it intends, and it does not intend what it achieves.

Luật kiểm duyệt, vì thế, không phải là luật, mà là một biện pháp của công an; tuy nhiên nó là một biện pháp tồi, bởi nó không đạt được điều nó muốn, mà chỉ đạt được những điều nó không muốn.

If the censorship law wants to prevent freedom as something objectionable, the result is precisely the opposite. In a country of censorship, every forbidden piece of printed matter, i.e., printed without being censored, is an event. It is considered a martyr, and there is no martyr without a halo and without believers. It is regarded as an exception, and if freedom can never cease to be of value to mankind, so much the more valuable is an exception to the general lack of freedom. Every mystery has its attraction. Where public opinion is a mystery to itself, it is won over from the outset by every piece of writing that formally breaks through the mystical barriers. The censorship makes every forbidden work, whether good or bad, into an extraordinary document, whereas freedom of the press deprives every written work of an externally imposing effect. 

Nếu luật kiểm duyệt mong muốn cản trở tự do vì xem đó là điều đáng lên án, thì kết quả lại hoàn toàn trái ngược. Trong một quốc gia có kiểm duyệt, bất kỳ ấn phẩm bị cấm nào được in ra - tức thoát khỏi sự kiểm duyệt - đều trở thành một sự kiện. Nó được xem là một kẻ tử đạo, và tất nhiên không có kẻ tử đạo nào mà lại không có hào quang và tín đồ. Nó được xem là một ngoại lệ, và nếu như tự do chẳng bao giờ hết giá trị đối với nhân loại, thì sự ngoại lệ ấy lại càng được đánh giá cao trong hoàn cảnh thiếu tự do nói chung. Mỗi điều bí mật đều có sự hấp dẫn của nó. Nơi nào mà công luận là một bí mật đối với chính nó, thì nơi đó mỗi bài viết thoát ra được khỏi những rào cản bí mật sẽ là một thành công ngay từ đầu. Sự kiểm duyệt làm cho mỗi bài viết bị cấm, dù chất lượng tốt hay không tốt, đều trở thành một tài liệu độc đáo, trong khi tự do báo chí sẽ giúp mọi bài viết thoát khỏi những ràng buộc từ bên ngoài.
---
Còn đoạn này nữa, mới thực sự là "giật gân" này. Mác viết đây sao? Nghe cứ như lời trong Kinh thánh, cho thấy Mác xem "tự do báo chí" là thiêng liêng đến mức nào:

The free press is the ubiquitous vigilant eye of a people's soul, the embodiment of a people's faith in itself, the eloquent link that connects the individual with the state and the world, the embodied culture that transforms material struggles into intellectual struggles and idealises their crude material form. It is a people's frank confession to itself, and the redeeming power of confession is well known. It is the spiritual mirror in which a people can see itself, and self-examination is the first condition of wisdom. It is the spirit of the state, which can be delivered into every cottage, cheaper than coal gas. It is all-sided, ubiquitous, omniscient. It is the ideal world which always wells up out of the real world and flows back into it with ever greater spiritual riches and renews its soul. 

Báo chí tự do là con mắt có mặt ở khắp nơi để giám sát linh hồn của mỗi dân tộc, là hiện thân của niềm tin  vào chính mình của dân tộc ấy, là mối liên kết mạnh mẽ kết nối mỗi cá nhân với nhà nước và với thế giới, là hiện thân của một nền văn hóa có khả năng biến đổi cuộc đấu tranh vật chất thành cuộc đấu tranh trí tuệ và lý tưởng hóa hình thức vật chất của nó. Đó là lời thú tội thẳng thắn của một dân tộc với chính mình, và ai cũng biết sức mạnh cứu rỗi của việc thú tội là như thế nào rồi. Đó cũng là tấm gương tinh thần trong đó một dân tộc có thể nhìn thấy chính mình, và việc tự xem xét chính mình điều kiện đầu tiên của sự khôn ngoan. Đó là linh hồn của nhà nước, có thể được đưa vào dưới mỗi mái nhà, và rẻ hơn so với khí than. Nó toàn diện, có mặt ở mọi nơi, và toàn trí. Nó là thế giới lý tưởng luôn tuôn trào từ thế giới thực và chảy trở lại vào trong thế giới đó với những của cải thiêng liêng to lớn hơn nữa làm đổi mới tâm hồn của thế giới này.
------------
Vâng, như thế đấy. Rõ ràng Karl Marx ủng hộ tự do báo chí và chống lại việc kiểm duyệt báo chí như ở VN hiện nay hoặc các nước cộng sản ở Đông Âu trước đây. Nhưng vậy là sao? Chẳng  lẽ những người cộng sản miệng thì nói kiên định với chủ nghĩa Mác, nhưng tay lại làm ngược lại?

Hay là họ chưa bao giờ thực sự đọc Mác, mà chỉ đọc qua những người khác như Lenin, Stalin, Mao? Nhưng mấy ông này cũng luôn tự xưng mình là học trò của Mác kia mà. Hay ... họ chỉ lợi dụng cái tên của Mác thôi, còn bụng thì chẳng bao giờ nghĩ giống Mác cả?

Còn nếu không, thì chẳng lẽ cái archive của ĐH Quốc gia Úc lại ... đưa vào đấy những tài liệu giả mạo ư? Không có lẽ thế. Mà nếu giả mạo, thì các học giả nghiên cứu về Mác trên khắp thế giới, trong đó có VN, phải lên tiếng chứ nhỉ?

Có ai trả lời được cho tôi không? Hay câu hỏi này lại được đưa vào danh sách những câu hỏi lớn không lời đáp của tôi?