Chủ Nhật, 22 tháng 6, 2014

Tổ quốc bao giờ "lạ" thế này chăng?

Hỡi sông Hồng tiếng hát bốn ngàn năm
Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng?

Hai câu thơ mở đầu trong bài thơ "Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng?" là hai câu thơ đẹp. Lần đầu tiên tôi được đọc bài thơ ấy là vào năm 77, 78 gì đó, năm ấy tôi đang học lớp 12 tại trường Gia Long (sau năm 1975 đổi tên là Nguyễn Thị Minh Khai).

Vì học ban Văn chương (lúc ấy gọi là ban A-B, thực ra là ban B tức là Văn - Sinh ngữ, khác với ban A là Văn - Sử; hai ban này riêng biệt nhưng vì số học sinh ít quá nên được gộp chung lại cho đủ một lớp gọi chung là ban A-B) nên môn Văn đối với chúng tôi là một môn học quan trọng, một tuần học đến 5 tiết (hình như thế), trong khi các môn khoa học tự nhiên như môn Lý chỉ học có 1 tiết/tuần, còn  môn Toán - cũng là một môn quan trọng, xuất hiện trong mọi kỳ thi lớn - cũng chỉ có 3 tiết/tuần mà thôi.

Quan trọng thế, lại là bọn yêu văn chương (chẳng thế thì tại sao lại chọn học ban A-B!) nên bọn tôi rất chăm đọc văn, thơ của các nhà văn, nhà thơ "cách mạng", dù thơ của họ hay hoặc dở thì cũng thế. Và rất mừng khi được đọc/học một bài thơ, một đoạn văn hay, vì như thế chúng tôi sẽ không phải bò ra học những câu văn, lời thơ khô như ngói hoặc sống sượng, ngây ngô kiểu như "ăn đi vài con cá/dăm bảy cái chột nưa" hoặc "nhà lao mà giống gia đình" mà thời đó bọn tôi vẫn cứ phải cố gào lên để học cho thuộc.

Quay lại bài thơ của CLV. Đó là một bài thơ rất dài và không phải câu nào cũng hay; vẫn có những câu ca ngợi đảng CS và lãnh tụ quá mức theo phong cách của mấy nước cộng sản "anh em" - chẳng hạn như mấy câu "thuở đất nước của Hùng Vương có Đảng/mỗi người dân đều được thấy bác Hồ", hoặc "cho tôi sinh ra buổi Đảng dựng xây đời", "Ta tựa vào Đảng ta, lên tiếng hát" - nhưng nói chung vẫn là một bài thơ hay với nhiều ẩn dụ độc đáo, giọng điệu tự tin reo vui, lời thơ đẹp, ngôn ngữ chọn lọc, hình ảnh đẹp tươi lấp lánh .... Chỉ đọc qua một lần thôi mà bài thơ dài ấy đã được nhiều đứa trong lớp tôi thuộc hết, còn nếu không thì cũng thuộc những câu hay nhất, nổi tiếng nhất.

Những câu thơ đẹp và đầy cảm xúc như thế này làm sao mà tôi quên dược cơ chứ:

Cha ông xưa từng đấm nát tay trước cửa cuộc đời,
Cửa vẫn đóng và đời im ỉm khoá
Những pho tượng chùa Tây Phương không biết cách trả lời
Cả dân tộc đói nghèo trong rơm rạ
Văn Chiêu hồn từng thấm giọt mưa rơi!

 hoặc:
Không ai có thể ngủ yên trong đời chật
Buổi thủy triều vẫy gọi những vầng trăng.
Mỗi gié lúa đều muốn thêm nhiều hạt,
Gỗ trăm cây đều muốn hóa nên trầm,
Mỗi chú bé đều nằm mơ ngựa sắt,
Mỗi con sông đều muốn hóa Bạch Đằng...
 
Những câu thơ ấy đã đi vào lòng chúng tôi, thế hệ thanh niên miền Nam đầu tiên được hưởng nền giáo dục cách mạng. Nhắc lại một chút, hồi ấy để giúp phường và tổ dân phố có thể "quản lý" được người dân và sắp xếp họ vào các hoạt động đoàn thể cho đúng, ví dụ hội thanh niên, hội phụ nữ, đội thiếu niên tiền phong vv thì người ta đã định nghĩa "thanh niên" là lứa tuổi từ 15 đến 28. Mà năm 1975 thì tôi 15 tuổi, bắt đầu vào cấp 3, nên tôi học trọn chương trình cấp 3 trong chế độ mới,  vâng tôi nói tôi là thế hệ thanh niên đầu tiên hưởng nền giáo dục cách mạng là như thế đấy.

Những câu thơ đẹp như thế đã làm cho chúng tôi yêu chế độ hơn một chút, và lạc quan hơn một chút, quên đi những bữa cơm gạo hẩm độn khoai mì hoặc bo bo của thời ấy, quên những cuộc "cải tạo công thương nghiệp" mà người ta hay gọi nôm na là "đánh tư sản", thậm chí thảng hoặc còn quên là mình là con cái của ngụy quân, ngụy quyền, quên những người thân còn đang trong trại cải tạo chưa biết đến bao giờ mới được về. Chỉ thấy đất nước đẹp vô vàn, dân tộc anh hùng, đất nước thống nhất, khó khăn nếu có chỉ là tạm thời của một đất nước vừa qua một cuộc chiến tranh lâu dài, mọi người cần phải cố gắng xây dựng đất nước, bla bla bla ....

Thậm chí, một số bạn bè của tôi là con gái mà vẫn mà xung phong đi bộ đội, đi thanh niên xung phong sau khi tốt nghiệp lớp 12, để rồi sau đó bị thương nặng, tàn phế trong chiến trường Campuchia - nhưng thôi những chuyện ấy không liên quan nên tôi sẽ không nhắc thêm ở đây. Chỉ biết, dù khó khăn không có bút mực nào tả xiết nhưng lúc ấy đối với chúng tôi câu "Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng?" vẫn là một câu thơ rất đẹp, và dường như rất thật.

Thế rồi, từ một cô gái mười bảy bẻ gẫy sừng trâu đầu chứa đầy những câu thơ đẹp và tình cảm ngây thơ về một đất nước đẹp tươi, thống nhất, sạch bóng ngoại bang, ngây thơ tin vào một tương lai tươi sáng khi đất nước đang "tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên CNXH", thoắt một cái tôi đã thành một bà già sắp về hưu, còn cô con gái út của tôi thì bây giờ lại đúng 17 tuổi, sắp vào lớp 12. 

Trong thời gian dài bẵng đi mấy mươi năm ấy, biết bao điều đã thay đổi, nhưng hình như chương trình văn học của trung học phổ thông vẫn không có mấy thay đổi. Vẫn là Tố Hữu, Hồ chủ tịch, rồi thơ Chế Lan Viên với những bài thơ/tập thơ quen thuộc: Chú bé loắt choắt/cái xắc xinh xinh; Ngoại cảm trời Hoa cơn nóng lạnh/Nội thương đất Việt cảnh lầm than; và chắc chắn không thể không có bài thơ "Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng?" mà đến giờ tôi vẫn thấy quả là một bài thơ xuất sắc.

Chỉ có cảm xúc về bài thơ của CLV là khác. Câu thơ tuyệt vời ấy nếu ai vào lúc này đọc lên bỗng có vẻ gì đó mỉa mai. Cách đây từ mấy năm, khi Trung Quốc bắt đầu gây hấn ở Biển Đông, cắt cáp tàu dầu khí của ta, cấm ngư dân ta đánh cá, rồi bắt bớ, đánh đập ngư dân, đòi tiền chuộc ... nhưng nhà nước ta vẫn cố tình nhẫn nhịn (vì đại cục?), tôi đã nghe một phiên bản mới của câu thơ ấy: "Tổ quốc bao giờ NHỤC thế này chăng?" Nghe đau lắm, nhưng ... không phải là không đúng! 

Lại có một phiên bản khác do bạn tôi "sáng chế" ra khi nghe tin người VN ăn cắp ở Mã Lai và bị trói tay, đeo bảng ghi rõ là "đồ ăn cắp", rồi bị cảnh sát áp tải ra giữa chợ cho mọi người xem, bị mọi người xúm vào đánh, chửi và cho ăn bạt tai xối xả. Vâng, bạn tôi bảo: Tổ quốc bao giờ ĐẸP MẶT thế này chăng!

Nhưng hôm nay tôi đọc được mấy cái tin làm tôi chú ý. Trước hết là tuyên bố mạnh mẽ của Indonesia về vấn đề Biển Đông. Họ bảo, sẽ điều quân ủng hộ VN vì không thể để cho TQ muốn làm gì thì làm như thế. Vậy là vụ đụng độ ở Biển Đông đến nay đã kéo dài gần 2 tháng, cả thế giới thì sôi sục, không chỉ Nhật, Philippines, Mỹ, mà giờ đây đến cả Indo cũng đứng hẳn về phía bênh vực VN. 

Chỉ riêng VN thì lâu nay vẫn chẳng làm gì ngoài việc dùng lời để lên án TQ trên các phương tiện truyền thông của ... VN (well, cũng có ở nước ngoài nữa, nhưng ít lắm), dọa kiện TQ ra tòa án quốc tế "vào một thời điểm thích hợp" (nhưng không ai có thể đoán được đến khi nào mới thích hợp); hai bên vẫn gọi nhau là đồng chí, dù hai người đồng chí này hiện đang là kẻ thù của nhau. "Đồng chí thù, đồng chí bạn", có ai đó đã nói mỉa mai như thế. Quân đội VN thì từ lâu đã tuyên bố dứt khoát phải kiên trì với đường lối hòa bình, cho dù kẻ thù có khiêu khích đến cỡ nào đi nữa. 

Còn Quốc hội? Mới đây có đại biểu Trương Trọng Nghĩa tha thiết đề nghị QH ra nghị quyết về Biển Đông được dư luận ủng hộ lắm, mà nghe nói là những đại biểu khác trong QH cũng rất ủng hộ, vậy ít ra QH cũng sẽ ra nghị quyết chứ? Ồ không, QH đã tuyên bố rồi: Sẽ không ra nghị quyết, vì nhiều lý do, chắc vậy, nhưng một trong những lý do ấy là ... à thì ... quy trình ra nghị quyết ở QH rắc rối, phức tạp và mất thời gian lắm lắm .... 

Ồ, thì ra là vậy sao? Ra nghị quyết ở QH Việt Nam khó khăn đến thế cơ à? Kể cả trong những trường hợp khẩn cấp, nước sôi lửa bỏng, đất nước bị xâm phạm như lúc này á?

Lạ quá, đúng không?

Bỗng dưng câu thơ nổi tiếng của CLV lại bật ra trong đầu tôi, lần này là phiên bản mới khác nữa:

Tổ quốc bao giờ "lạ" thế này chăng?!

Chủ Nhật, 15 tháng 6, 2014

Kẻ thù ta đâu có phải là người ...

Kẻ thù ta đâu có phải là người ...

Đó là câu đầu tiên, cũng là câu được nhắc lại nhiều lần, trong bài hát có tựa là "Kẻ thù ta" của Phạm Duy sáng tác năm 1965. Vào thời điểm mà chiến tranh Việt Nam bắt đầu leo thang trên toàn quốc, kéo theo cả một thập niên máu lửa tơi bời, khi người Việt hai miền lao vào bắn giết lẫn nhau trong cuộc chiến mà lúc ấy ở miền Nam vẫn được gọi là chiến tranh ý thức hệ, còn miền Bắc thì gọi là chiến tranh giải phóng dân tộc, một cuộc máu chảy đầu rơi khốc liệt chưa từng có trong lịch sử của đất nước.

Bài hát này hồi ấy tôi không thấy hay, một phần có thể là vì tôi còn nhỏ quá chưa hiểu hết ý nghĩa của nó (năm 1965 tôi mới 5 tuổi, theo gia đình từ Phan Thiết vào SG, mặt bầu bĩnh mắt tròn ngơ ngác như trong mấy tấm hình mà đến giờ tôi vẫn còn giữ sau gần nửa thế kỷ). Nhưng rõ ràng bài hát ấy không mấy nổi tiếng vì không thấy phổ biến lắm, trừ hai câu đầu tiên rất có ý nghĩa mà tôi nghĩ ai đã sống qua thời VNCH ở miền Nam đều biết. Nhưng hôm nay nghe lại bài hát này trong bối cảnh Việt Nam đang bị người bạn vàng, đồng chí tốt xâm lấn, và nhiều vấn đề của cuộc chiến tranh 54-75 đang được chính thức hoặc không chính thức đặt lại và nhận thức lại, tôi thấy bài hát quá thâm thúy. 

Không chỉ sâu sắc về lời, mà giai điệu cũng rất phù hợp với hoàn cảnh của thời ấy. Nó gợi nhớ phong trào phản chiến thời thập niên 1960s ấy (thập niên mà tôi sinh ra và lớn lên cùng, một thế hệ lầm lạc - lost generation), và làm cho lòng ta nặng trĩu khi nhớ lại một thời đã xa và những cơ hội đã bị bỏ lỡ.

Vâng, kẻ thù ta .... Kẻ thù ta đâu có phải là người? Nó nằm đây nằm đây ở mỗi ai, người Việt ơi!

Xin chép lại để lưu và để mọi người VN cùng suy ngẫm.

-----------------
Kẻ Thù Ta (Tâm ca số 7)
Phạm Duy (1965)
Kẻ thù ta đâu có phải là người
Giết người đi thì ta ở với ai ?
Kẻ thù ta tên nó là gian ác
Kẻ thù ta tên nó là vô lương
Tên nó là hận thù
Tên nó là một lũ ma (thế thì)
Kẻ thù ta đâu có phải là người
Giết người đi thì ta ở với ai ?
Kẻ thù ta mang áo mầu chủ nghĩa
Kẻ thù ta mang lá bài tự do
Mang cái vỏ thật to
Mang cái rổ danh từ
Mang cái mầm chia rẽ chúng ta (thế thì)
Kẻ thù ta đâu có phải là người
Giết người đi thì ta ở với ai ?
Người người ơi thương xót người nhỏ bé
Người người ơi thương xót người ngây thơ
Thương xót người bị mua
Thương xót người bị lừa
Thương xót người thương xót ta (thế thì)
Kẻ thù ta đâu có ở người ngoài
Nó nằm đây nằm ngay ở mỗi ai  
Kẻ thù ta tên nó là vu khống
Kẻ thù ta tên nó là vô minh
Tên nó là lòng tham
Tên nó là tị hiềm
Tên nó là sự ghét ghen (thế thì)
Kẻ thù ta đâu có ở người ngoài
Nó nằm đây nằm ngay ở mỗi ai  
Kẻ thù ta trong mắt thèm lơ láo
Kẻ thù ta trong góc đầu tự kiêu
Trong cõi lòng quạnh hiu
Trong óc hẹp tiêu điều
Trong giấc mộng xâm chiếm nhau (thế thì)
Kẻ thù ta đâu có ở người ngoài
Nó nẵm đây nẵm ngay ở mỗi ai  
Người người ơi yêu mến người mãi mãi
Người người ơi yêu mến người không nguôi
Yêu mến người đầy vơi
Yêu mến người đêm ngày
Yêu mến người ta nắm tay (thế thì)
Kẻ thù ta đâu có phải là người
Giết người đi thì ta ở với ai ?
Kẻ thù ta đâu có ở người ngoài
Nó nằm đây nằm ngay ở mỗi ai.


https://www.youtube.com/watch?v=79MzqJaG4AQ

Thứ Bảy, 14 tháng 6, 2014

Trung Hoa nhật báo lại viết gì về Biển Đông thế ạ?

Cả ngày nay - nói đúng hơn là cả hơn tháng nay - tôi chẳng làm gì được ngoài việc mò mẫm thông tin trên mạng về Biển Đông. Chẳng biết là may hay là rủi, mới sáng ra tôi đã vớ được bài viết mới của một "học giả" Trung Quốc đăng trên China Daily với nhiều lập luận mà đọc lên thì biết ngay là ngụy biện nhưng cũng khá nguy hiểm đối với những người vẫn còn mơ hồ và vẫn giữ cách tư duy như cũ. Tất nhiên là tôi rất bực, và vì thế cứ quanh đi quẩn lại với bài viết ấy, mất hết cả ngày.

Bài viết ấy ở đây: http://usa.chinadaily.com.cn/opinion/2014-06/14/content_17587122_2.htm

Xin trích dịch vài đoạn để các bạn có thể hiểu được tại sao tôi lại khó chịu đến thế:

Các nhà lãnh đạo VN nói rằng TQ đã cưỡng chiếm toàn bộ "quần đảo Hoàng Sa" vào năm 1974, lúc ấy còn đang được kiểm soát bởi chế độ Sài Gòn. Chính quyền Sài Gòn đã tổ chức một cuộc hải chiến năm 1974 tại quần đảo Hoàng Sa và kêu gọi sự giúp đỡ của đồng minh của mình lúc ấy là Mỹ, đồng thời yêu cầu Hội đồng bảo an LHQ can thiệp. Nhưng cả Mỹ lẫn Hội đồng bảo an LHQ đều không ủng hộ yêu cầu này. Điều này có nghĩa là cộng đồng quốc tế, trong đó có cả Mỹ, chưa bao giờ tin vào cáo trạng hoặc yêu sách của chế độ này.
[...]
Vậy bây giờ, 39 năm sau khi đánh bại nước Mỹ, tại sao CHXHCN Việt Nam lại muốn sử dụng yêu sách của VNCH để gây xung đột ở biển Hoa Nam? Phải chăng các lãnh đạo hiện nay của VN đang phản bội Hồ Chí Minh và những chiến sĩ cách mạng khác, xúc phạm đến sự hy sinh của hàng trăm ngàn đồng bào đã ngã xuống để chống ngoại xâm, và phủ nhận sự ủng hộ quý báu của các đồng minh trong cuộc chống lại chủ nghĩa thực dân khi dùng lại yêu sách của chế độ Sài Gòn tay sai bán nước?
 [...]
Các nhà lãnh đạo VN tuyên bố rằng không có quốc gia nào thừa nhận rằng quần đảo Tây Sa và Nam Sa thuộc về Trung Quốc. Đây là một lời nói dối trắng trợn, vì chính VNDCCH  là nước đứng đầu danh sách các quốc gia công nhận chủ quyền của TQ trên các quần đảo này.

Còn đây là đoạn kết, giọng điêu đầy thách thức:

Việt Nam đã tuyên bố rằng nó có sẵn bằng chứng lịch sử và pháp lý để chứng minh yêu sách của mình tại biển Hoa Nam, và đang chờ đến lúc thuận tiện để đưa TQ ra tòa án công lý quốc tế. Nếu quả là như thế thì VN chớ quên đưa ra công hàm PVĐ và tuyên bố của VNDCCH (năm 1965) cũng như các bản đồ và sách giáo khoa mà nó xuất bản trước năm 1975, cùng với bản cáo trạng ấy.

Các bạn thấy sao? Ban đầu khi đọc bài này, tôi vừa tức giận vừa cảm thấy lo sợ. Có vẻ như chúng ta yếu thế quá, còn họ thì mạnh quá. Thì họ đã lấy ngay chính chúng ta để chống chúng ta rồi đó: nào là công hàm PVĐ, nào là bản đồ và SGK, rồi tuyên bố năm 1965 gì đấy. Kiểu này thì VN chỉ có nước thua mất thôi.

Nhưng rồi tôi bình tĩnh đọc lại, và thấy buồn cười. Ừ thì TQ có mấy thứ "bảo bối" mà bài viết đã nêu ra, trong đó nặng ký nhất là công hàm PVĐ, còn những thứ kia chỉ phụ thêm. Đúng là VN có chút ít khó khăn với công hàm PVĐ thật, nhưng chẳng lẽ chỉ với công hàm đó thôi rồi đưa ra tòa thì quốc tế sẽ công nhận chủ quyền cho TQ dược ư? Vậy những bằng chứng hùng hồn và có tính pháp lý của VN về chủ quyền trên Hoàng Sa thì họ định bỏ đi đâu?

Nếu chủ quyền lãnh thổ mà quốc tế lại công nhận dễ dàng đến thế, thì sau vụ này các nước sẽ ra sức nhắm vùng lãnh thổ nào đó thuộc chủ quyền của nước khác nhưng vẫn còn hoang vắng ít người, sau đó xúi một nước thứ ba viết giấy công nhận chủ quyền cho mình, rồi sau đó sẽ được quốc tế công nhận hết chăng? Vớ vẩn quá.

Tôi không phải là luật gia, cũng chẳng phải là chuyên gia về quan hệ quốc tế, nên không thể và cũng không nên lạm bàn thêm. Chỉ xin có vài lời phản biện dựa trên chính logic của bài viết thôi.

1. Chính quyền Sài Gòn đã tổ chức một cuộc hải chiến năm 1974 tại quần đảo Hoàng Sa và kêu gọi sự giúp đỡ của đồng minh của mình lúc ấy là Mỹ, đồng thời yêu cầu Hội đồng bảo an LHQ can thiệp. Nhưng cả Mỹ lẫn Hội đồng bảo an LHQ đều không ủng hộ yêu cầu này. Điều này có nghĩa là cộng đồng quốc tế, trong đó có cả Mỹ, chưa bao giờ tin vào cáo trạng hoặc yêu sách của chế độ này.

Đây là điều hoàn toàn ngụy biện. Khi anh kêu gọi mà người khác không giúp đỡ, thì có thể có rất nhiều lý do, mà đơn giản nhất là do họ cảm thấy không có lợi gì khi giúp anh, thế thôi. Một lý do khác là họ muốn nhưng không đủ điều kiện để giúp. Không thể dùng việc họ không giúp để làm "chứng cớ" rằng Hoàng Sa không thuộc về VNCH được.

2. Vậy bây giờ, 39 năm sau khi đánh bại nước Mỹ, tại sao CHXHCN Việt Nam lại muốn sử dụng yêu sách của VNCH để gây xung đột ở biển Hoa Nam? 

Tại sao đánh bại nước Mỹ rồi thì không sử dụng yêu sách của VNCH để đòi lại một phần lãnh thổ của VN được nhỉ? "Logic" này khó hiểu quá. Việc nào ra việc đó chứ? Nói thẳng ra, thưa ông "học giả", đây là một chiêu nhằm chia rẽ dân tộc VN, nhưng trò này vừa cũ vừa thô thiển quá, chúng tôi không mắc bẫy đâu ạ. VN với Mỹ, Pháp, Nhật đều là cựu thù đấy thôi, mà giờ còn trở thành bạn tốt của nhau được, thì dân VN hai miền sao lại không thể quên đi quá khứ nhỉ? Còn riêng TQ thì không những từ thù thành bạn, mà còn là bạn vàng bạn tốt nữa kia, ông quên rồi sao?


3. Các nhà lãnh đạo VN tuyên bố rằng không có quốc gia nào thừa nhận rằng quần đảo Tây Sa và Nam Sa thuộc về Trung Quốc. Đây là một lời nói dối trắng trợn, vì chính VNDCCH  là nước đứng đầu danh sách các quốc gia công nhận chủ quyền của TQ trên các quần đảo này.

Ở đây, chỉ xin hỏi ông "học giả" một câu: ông có thể kể ra thêm một quốc gia khác ngoài VNDCCH đã "công nhận chủ quyền" của TQ trên hai quần đảo HS-TS không? Nếu ông không kể được, thì chính ông mới là người nói dối trắng trợn đó ạ.


Buồn cười thật, phải không các bạn?

Nói thêm: Buồn cười thì buồn cười, nhưng điều đó không có nghĩa là chúng ta có thể xem thường những bài viết như thế này. Nước chảy đá mòn, họ nói mãi thì thế giới sẽ nghe. Nhà nước Việt Nam cần nhanh chóng hoàn tất hồ sơ kiện TQ ra tòa án quốc tế đi ạ (tất nhiên là phải cẩn thận và chuyên nghiệp), vì làm như thế chẳng mất gì, chỉ được thêm sự ủng hộ của người dân mà thôi. 

Thứ Năm, 20 tháng 3, 2014

Nghĩ vụn về những gã đàn ông và một cô gái nhỏ

Nhã Thuyên:
Tôi không nói những lời này để kết thúc một sự việc, chỉ là để khép lại một đoạn đường. Và dù tôi đã làm bạn thất vọng lẫn lo âu, tôi chỉ muốn nói cảm ơn, cảm ơn, cảm ơn, cảm ơn, cảm ơn, cảm ơn, cảm ơn… Cảm ơn vì đã gặp, đã biết, đã nghe, đã va chạm, đã hiểu, đã yêu nhau, dù chỉ trong những khoảnh khắc.

Lúc này, tôi chỉ muốn nói yêu.
-----------
Tôi chưa bao giờ nặng lời về đàn ông VN. Vì tôi nghĩ như thế là vơ đũa cả nắm, và bất công. Vì tôi kính trọng cha tôi, yêu người đàn ông duy nhất của đời tôi, cũng như quý mến những người đàn ông khác là thầy, là bạn, là đồng nghiệp mà tôi biết.

Nhưng đọc xong những dòng "Thư cuối năm", cũng là entry gần đây nhất (dù đã cách đây hơn 3 tháng) trên blog của Nhã Thuyên, cô gái vừa bị tước bằng thạc sĩ ở ĐH SP Hà Nội (ai chưa biết có thể google để biết) rồi nhớ lại những gì người ta đã viết và đã làm với cô gái nhỏ ấy (trong độ tuổi 20, vừa bằng tuổi con tôi), thì tôi bỗng thấy vừa phẫn nộ vừa ghê sợ những gã đàn ông có liên quan đến "vụ Nhân văn Giai phẩm hiện đại" này. Và ghê sợ đàn ông Việt Nam nói chung, vì quả thật những gã đàn ông như vậy ở VN sao nhiều quá.

Thử nghĩ xem: Một bên là rất đông những kẻ có tuổi bằng cha cô ấy, có bằng cấp, có chức vụ, có quyền lực, có cả truyền thông và đám đông sẵn sàng hùa theo tung hô đả đảo. Một bên là một cô gái trẻ, yêu văn học, liều lĩnh tìm cho mình một con đường mới, chọn một góc nhìn mới, và nói lên những điều mình tin với một sự can đảm không ngờ. Cô ấy chỉ có một mình - hoặc đúng hơn, là còn một phụ nữ khác đồng cảnh ngộ, người hướng dẫn của cô ấy, bà Nguyễn Thị Bình, giờ đã bị buộc nghỉ hưu trong khi lẽ ra bà còn có thể làm việc thêm 7 năm nữa. Hai người phụ nữ chân yếu tay mềm, một thầy một trò, bị một bọn (xin lỗi về từ này) đàn ông xúm vào đánh hội đồng. Thật không thể tưởng tượng được.

Tôi nặng lời quá phải không? Không đâu, hãy đọc những lời lẽ của Nguyễn Văn Lưu, Vũ Hạnh, Đông La ... khi viết về Nhã Thuyên (có thể tìm trên mạng), rồi đọc lời lẽ trong bài viết của cô gái trẻ ấy, để đánh giá xem sự phẫn nộ và ghê sợ của tôi như trong những dòng chữ này đã đủ nặng nề chưa.

Vâng, cô gái ấy chân yếu tay mềm và không có một tấc sắt trong tay làm vũ khí. Họ, những gã đàn ông ấy, đã không hề run tay hoặc có chút mủi lòng khi triệt hạ cô, đã ra sức sử dụng những ngôn ngữ thô bỉ và lý lẽ khốn nạn nhất để đạt được mục đích. Họ đã xúm nhau vào, những gã đàn ông sức dài vai rộng, trổ hết những ngón nghề lừa lọc xảo trá của mình để tước đi của cô ấy nghề nghiệp, bằng cấp, niềm tin vào cuộc đời, vào lòng tốt của con người, vào sự tồn tại của lẽ công bằng và điều thiện. Giờ đây, chắc họ đã rất hài lòng, bởi họ đã tước đi của cô ấy gần như không còn gì cả. Chỉ còn mỗi một điều họ không làm được, đó là tước đi của cô ấy sự lương thiện và lòng tự trọng. Mà những cái ấy thì họ cho là không có giá trị, không đáng quan tâm, vì bản thân họ không thấy cần đến chúng bao giờ!

Còn cô gái ấy thì chỉ nói cảm ơn, cảm ơn, cảm ơn, cảm ơn. Và bây giờ, cô chỉ muốn nói yêu ...
--------------

Đọc lời tâm sự của Nhã Thuyên ở đây: http://junglepoetry.wordpress.com/2013/12/23/thu-cuoi-nam/

Thứ Ba, 18 tháng 3, 2014

Friends, there is no escape!

Tôi chưa bao giờ làm thơ bằng tiếng Anh, nên đây là bài thơ tiếng Anh đầu tay của tôi, dù tôi đã đụng chạm đến văn chương viết bằng tiếng Anh từ năm 18 tuổi - tức là cho đến nay đã 36 năm rồi.

Làm thơ tất nhiên phải có cảm hứng. Mà cảm hứng chỉ đến với tôi bằng tiếng Việt chứ chưa bao giờ bằng tiếng Anh cả. Là vì bạn bè tôi, người thân của tôi vv đều nói tiếng Việt.

Chỉ riêng có một nhóm bạn nho nhỏ của tôi - vài chục đứa - thì khi nhớ về nhau lại có thể có cảm xúc bằng tiếng Anh. Là vì chúng tôi học với nhau, giao tiếp với nhau 4 năm trời, bằng thứ tiếng ấy.

Chẳng phải chúng tôi vọng ngoại hay lên mặt với ai. Mà vì thời ấy - năm 78 đến 82 - nếu chúng tôi không cố nói tiếng Anh với nhau, thì có nghĩa là chúng tôi đang học một tử ngữ chứ không phải là sinh ngữ. Tức là chỉ nhìn trong cuốn sách, tra từ điển, đọc dịch, ngữ pháp vv mà không có chút giao tiếp nào giữa những người nói cùng thứ tiếng. (Nói theo kiểu bây  giờ thì đó là học ngoại ngữ bằng phương pháp câm điếc đấy ạ!)

Và cũng chính nhờ đã từng nói tiếng Anh với nhau mà chúng tôi đều khá. Ra trường, trừ tôi ở lại với nghề "bán rẻ cháo phổi ế" (well, thời ấy có ai thèm học tiếng Anh, người ta đổ xô học tiếng Nga mà lúc ấy VN còn đang nhìn như một mẫu hình lý tưởng để phấn đấu), thì bạn bè tôi với vốn liếng ngoại ngữ mà chủ yếu là tự học (vì thầy thì đi vượt biên cả, sách báo TV radio vv hoàn toàn không có) đều thành đạt trong những nghề nghiệp mà mình đã chọn.

Nên bây giờ tôi mới có hứng làm thơ tặng bạn bè của lớp cũ bằng tiếng Anh. Làm một mạch, chẳng cần trau chuốt. Đọc lại, tôi thấy cũng ... hay, ha ha ha! Dù chẳng hiểu người khác thấy thế nào.

Thôi, đã làm rồi, thì cứ chia sẻ thôi. May thì được comment khen, rủi thì bị comment chê là viết dở thế mà cũng khoe. Tệ nhất là không ai thèm đọc, cái ấy mới là đáng sợ, nhỉ.

Riêng tặng những người bạn lớp AV78 của tôi.

-----------------------------------
We call one another friends
Because we were in the same class
In Vietnamese we have a word and a category for that
"Bạn học của tôi"
We are a special kind of friends, and there is no escape
Because we have shared all the fun 
And the joys and the pains in times past
Because we have added to one another's successes
(Often not knowingly)
And because we have been there in one another's tragedies
Making them a lot lighter when they lasted
Being a friend is a fate, mind you
And there is no escape!

So friends, please bear with me
When you are angry, don't forget
We have laughed together
We have cried together
We have even quarrelled with one another
And said many times that we would forever end our friendship 
But when we refer to one another as a category, we still have to say
He or she or they - named such and such - are my friend(s)
Because in Vietnamese we have a special name for people like that
It's so frighteningly true
That there is no escape
And the only thing you can do, dear friends
Is to make our friendship better while it lasts
Because there will never be an escape!

(19/3/2014)

Bài thơ chân thật (A true poem by Lloyd Schwartz - PA dịch)

Bạn bè cũ thời đại học của tôi, giờ đã 32 năm rồi kể từ khi bọn tôi ra trường.

Cái lớp ấy, mỗi người một tính nết. Lắm tài, nhiều tật. Trong đám nhiều tật nhất (dù không phải là nhiều tài), chắc chắn có tôi.


Bọn lắm tài nhiều tật ấy, giờ đang xích mích giận hờn, chỉ vì những điều vô cùng nhỏ nhặt, vớ vẩn. Giận nhau, có người tuyên bố không còn xem những người khác là bạn. Trong khi tận thâm tâm từng người, tôi tin rằng ai cũng biết mọi người đều là những người bạn thật tốt, vì mấy chục năm vẫn còn quan tâm giúp đỡ nhau.

Khi tin rằng bạn mình nghĩ sai, hành động sai, thì ta cần làm gì nhỉ? Tôi không rõ. Mỗi người có một cách làm, cách nói .... Còn tôi, tôi chỉ biết nói toạc ra. Well, nói một cách mềm mỏng, lịch sự nhất có thể được, nhưng vẫn chỉ nói đúng những điều mình nghĩ, không thể khác. Chắc chắn tôi cũng có những chỗ sai. Nhưng nếu tôi sai, thì tốt nhất là các bạn cũng nói huỵch toẹt ra như thế, mọi việc sẽ dễ biết bao!

Nhưng mà thôi .... Khi không biết làm gì nữa, thì tôi làm thơ. Hoặc dịch thơ, khi khả năng sáng tạo đã không còn. Nó cạn kiệt rồi, bởi cuộc sống mải mê. "Mệt quá thân ta này ..."

Tôi đi tìm một bài thơ để nói hộ tâm trạng của tôi, và tìm thấy bài này. Cám ơn tác giả đã nói giúp, hoàn toàn trùng khớp những gì tôi nghĩ. Dưới đây là bản dịch của tôi.

Xin tặng bài thơ dịch này cho các bạn AV78, khi nào các bạn tình cờ tìm thấy. Đặc biệt, riêng tặng người bạn vừa tuyên bố chấm dứt tình bạn với tôi và với những người trong lớp cũ. Bạn hãy nhìn ngày tôi dịch, một ngày gần cuối tháng ba, năm hai ngàn không trăm mười bốn. 
-------------
Bài thơ chân thật

Tôi đang làm thơ, một bài thơ chân thật
Chẳng hề dám gửi nó cho ai
Thơ bộc lộ lòng tôi, làm tôi run sợ
Đôi khi nó cũng khiến tôi vui

Dẫu nhìn chung tôi chỉ thấy bùi ngùi
Thơ đã nói giúp tôi điều tôi nghĩ
Nghĩ về mình,
về bạn, về người yêu
Thơ nói hết.
Đọc bài thơ cũng có khi bạn thích
Có đôi khi hoảng sợ hoặc nhói đau
Tôi chẳng muốn làm bạn đau, không tôi chẳng muốn
Chẳng muốn làm dù chỉ một người đau
Tôi chỉ muốn mọi người yêu tôi mãi
Nhưng bài thơ tôi vẫn không thể dứt
Vì sao?
Sao mãi làm bài thơ không ai thích?
Bài thơ tôi chẳng dám gửi ai
Bài thơ không có độc giả nào

Tôi vẫn viết bài thơ không người đọc
Bài thơ mà khi đọc có người đau .... 

------------------

A True Poem
 
by Lloyd Schwartz

I'm working on a poem that's so true, I can't show it to anyone.
I could never show it to anyone. 
Because it says exactly what I think, and what I think scares me. 
Sometimes it pleases me. 
Usually it brings misery. 
And this poem says exactly what I think. 
What I think of myself, what I think of my friends, what I think about my lover.
Exactly.
Parts of it might please them, some of it might scare them. 
Some of it might bring misery. 
And I don't want to hurt them, I don't want to hurt them. 
I don't want to hurt anybody. I want everyone to love me. 
Still, I keep working on it. 
Why?
Why do I keep working on it? 
Nobody will ever see it. 
Nobody will ever see it. 
I keep working on it even though I can never show it to anybody. 
I keep working on it even though someone might get hurt.

https://www.poets.org/viewmedia.php/prmMID/19638

Thứ Ba, 11 tháng 3, 2014

Tiễn anh lần cuối - Viết cho anh Lê Hiếu Đằng (11/3/2014)


Nhận được tin nhắn từ một người bạn chỉ trước một ngày, không sắp xếp thời gian trước nhưng tôi cũng kiên quyết gạt công việc sang một bên để đến viếng anh lần cuối nhân dịp gia đình làm lễ thất tuần cho anh. Vâng, tôi gọi muốn gọi anh Lê Hiếu Đằng như gọi một người anh, mặc dù tôi với anh chẳng hề quen biết. Tôi đã nghe tên anh từ rất lâu khi anh còn là quan chức của nhà nước, nhưng lúc ấy tôi chẳng có bất kỳ một ấn tượng gì về anh. Tôi chỉ thực sự quan tâm đến một nhân vật có tên LHĐ từ khi anh cùng một nhóm nhân sĩ, trí thức cùng tham gia cuộc biểu tình phản đối Trung Quốc xâm phạm lãnh hải của VN vào năm 2011, và nhiều lần sau đó nữa.

Nói cho đúng, những cuộc biểu tình ấy cũng không gây cho tôi nhiều ấn tượng về anh, vì biểu tình thì không chỉ có anh mà còn nhiều người khác. Nhưng tôi thực sự bị anh thu hút từ lúc anh có những phát biểu và hành động kiên quyết mà ai cũng biết. Có người đồng tình, có người không, nhưng chắc chắn anh đã trở thành tâm điểm của sự chú ý từ mọi phía, trong đó có tôi, một người với tôn chỉ độc lập và không muốn thuộc về một phe nào. Mọi việc lên đến đỉnh điểm khi anh công bố bức thư tuyên bố ra khỏi Đảng bằng những lời lẽ mạnh mẽ đến độ anh bị đưa lên báo lề phải để đấu; khi ấy tôi đã theo dõi và bỏ công ra viết đến 4 bài tranh luận với tác giả của bài viết ấy và đăng lên blog cá nhân, dù cho đến lúc ấy vẫn chưa nói chuyện trực tiếp với anh bao giờ. Sau này, khi được anh Kha Lương Ngãi, một người bạn cùng thời đấu tranh của anh Đằng, cho biết là anh Đằng cũng đã đọc những bài viết ấy của tôi và có ý muốn gặp mặt tôi khi anh còn tại thế, tôi thật tiếc vì mọi sự đã quá muộn. Vì khi nghe tin anh nằm bệnh, tôi cũng rất muốn đến thăm nhưng tôi không có cách nào đến được, vì không có ai rủ, và vì tôi không hề quen biết anh, nên nếu có muốn đi cũng chẳng biết ở chỗ nào.


Thế rồi mọi việc trôi qua rất nhanh. Anh mất. Thông báo về tang lễ của anh được đưa trên facebook nên tôi đọc được. Những ngày anh còn được quàn ở Chùa Xá Lợi, thời gian ấy cận tết và tôi rất bận nhưng cũng đã cố để đến viếng, thấy và nghe được về những cảnh cướp băng tang của các vòng hoa của những người đến viếng anh. Và tự hỏi, tại sao người ta làm thế? Chẳng lẽ anh đã mất rồi, mà họ vẫn sợ và ghét anh đến thế sao, những người mà trước đó đã từng xem anh là đồng chí? Hôm lễ động quan tôi không dự được, nhưng cũng theo dõi và đọc được bài viết cùng xem hình ảnh của những bạn bè, thân hữu đã đến tiễn anh. Rất cảm động khi đọc những dòng viết về tro cốt của anh được rải xuống sông Sài Gòn, vùng đất bao nhiêu năm anh gắn bó. “Đứa con xưa đã tìm về nhà”, như trong một bài hát của Trịnh Công Sơn để tiễn đưa một người bạn thân thiết của mình về bên kia thế giới.

Lễ thất tuần hay lễ chung thất của anh được tổ chức ở chùa Diệu Pháp, một ngôi chùa nằm ở một nơi hẻo lánh ở Quận Bình Thạnh. Số người đến dự có lẽ chừng 50-60 người, đa số là những người tôi không quen trực tiếp nhưng đã biết tên hoặc biết mặt qua facebook. Không kể gia đình, đến viếng anh có nhóm bạn cùng thời đấu tranh trước năm 1975 (các anh Huỳnh Tấn Mẫm, Huỳnh Kim Báu, Lê Công Giàu), nhiều trí thức đang làm việc hoặc đã về hưu từ các Viện, các trường đại học, một số người là cựu chức sắc trong các cơ quan nhà nước mà tôi biết mặt hoặc biết tên như chị Thế Thanh, nguyên Phó Giám đốc Sở Văn hóa Thông tin TP HCM, và đặc biệt hơn là một số gương mặt đến từ phương xa: anh Hà Sỹ Phu từ Đà Lạt, người mà tôi đã đọc rất nhiều nhưng chưa bao giờ gặp mặt, nghệ sĩ Trí Hải từ Hà Nội, người mà tôi rất quen dù chỉ nhìn qua hình, vì với cây đàn violin của mình thì không thể lẫn ông với bất kỳ ai  được.







Buổi lễ chính thức bắt đầu vào khoảng 10:30. Dù đứng ở vòng ngoài - vì là người ngoại đạo - nhưng tôi vẫn thấy buổi thật trang nghiêm, giọng đọc kinh với tiếng gõ chuông nghe trầm mặc, và do ngôi chùa ở một nơi rộng rãi, thoáng đãng, số người đến viếng cũng không quá đông và mọi người đốt nhang cũng rất vừa phải nên tôi không thấy mịt mù nhang khói như ở một số nơi. Tất cả tạo ra một không khí nhẹ nhàng, thanh thản, thanh thản như bức di ảnh của anh và như khuôn mặt đẹp nhẹ nhõm của chị Hồng vợ anh. Sau các lễ nghi tôn giáo là đến phần mặc niệm và phát biểu cảm tưởng của một số vị khách tiêu biểu; những người phát biểu gồm có anh Huỳnh Tấn Mẫm, anh Huỳnh Kim Báu, GS Tương Lai, LM Huỳnh Công Minh, và anh Hà Sĩ Phu từ Đà Lạt. Ở vòng ngoài nên tôi không nghe kỹ lắm, vả lại đầu óc tôi lúc ấy cũng lơ mơ vì tôi còn đắm chìm trong những suy nghĩ của riêng tôi về cuộc đời thăng trầm của anh. Chỉ biết, tiếng đàn violin của nghệ sĩ Trí Hải  chơi bài Hồn Tử Sĩ làm tôi nổi gai vì xúc động, phần vì giai điệu âm u và không khí nghiêm trang, phần vì nghệ sĩ Trí Hải đã chơi nhạc với đầy cảm xúc như thể hiện trên khuôn mặt ông.

Ở phần phát biểu, tôi đặc biệt chú ý nghe phát biểu của Linh mục Huỳnh Công Minh, trước hết vì tò mò về sự khác biệt tôn giáo của LM và người quá cố. LM HCM nói rất nhỏ, như thủ thỉ nói chuyện với anh Đằng, với những lời tâm sự khá dài. Tôi loáng thoáng nghe được lời tự than trách đã không thể đến viếng anh khi anh vừa mất, vì lúc ấy LM còn đang ở nước ngoài, và những lời cuối cùng rất cảm động. Tôi nhớ đại khái những ý sau: “Tôi với anh tuy khác tôn giáo, nhưng không có sự cách xa, vì cùng chia sẻ lòng yêu nước, cùng vì một nước VN độc lập, toàn vẹn lãnh thổ, dân chủ, nhân quyền …”. Phần cuối phát biểu của anh Huỳnh Kim Báu cũng làm tôi xúc động, khi anh nhắc đến sự ra đi thanh thản của một người suốt đời dám hành động cho niềm tin của mình và trả giá cho nó, và cái gánh mà anh LHĐ đã để lại cho người sau khi anh đi xa là rất nặng, vì mọi người phải tiếp tục những tâm nguyện của anh lúc sinh thời. Thật kỳ lạ, đó cũng là những gì tôi đã ghi trong sổ tang khi đến viếng anh LHĐ ở chùa Xá Lợi.

Có một sự cố nho nhỏ trước khi kết thúc buổi lễ: Anh Tô Lê Sơn trong Ban tổ chức đã bắt giọng để mọi người cùng hát bài Tự nguyện, bài ca của những thanh niên tranh đấu trước năm 75 ở miền Nam. Nhưng chắc vì quá xúc động, hay vì quên lời bài hát, nên khi cất lên thì giọng hơi bị lạc, khiến mọi người không hát theo được và bài hát suýt “bể”. Nhưng anh Huỳnh Tấn Mẫm đã kịp đón lấy micro từ tay anh Sơn, lấy lại giọng cho đúng vừa hát lớn rất khí thế vừa giữ vững giọng, và dần dà bài hát lại được đưa vào quỹ đạo đúng của nó. Hát xong, mọi người đều khen anh HTM hát hay, và anh bảo: Bài hát ấy đã ngấm trong máu của mình rồi.



Buổi lễ đã chấm dứt. 49 ngày cuối cùng còn vướng bận ở trần gian của anh đã hết, đó là ý nghĩa của buổi lễ chung thất, theo niềm tin của những người theo đạo Phật như anh. Linh hồn anh giờ đã hoàn toàn siêu thoát, và đó là điều mà mọi tín đồ Phật giáo đều cầu mong cho người thân đã đi xa của mình. Riêng tôi, một người ngoại đạo, tiễn anh lần cuối rồi nhưng tôi vẫn tin linh hồn anh LHĐ ở đây bên chúng ta, vẫn rất thiết tha với cuộc đấu tranh cho tự do, nhân quyền và dân chủ trên đất nước mà anh đã rất nặng lòng khi anh còn tại thế. Phải không, anh Đằng ơi?