Hiển thị các bài đăng có nhãn nostalgia. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn nostalgia. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 3 tháng 9, 2011

Những nẻo đường Việt Nam ...



Mẹ già như chuối ba hương ...

Có một bài hát trước năm 1975 mà tôi rất thích, hình như của nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ, với những câu đầu tiên mà tôi còn nhớ: "Những nẻo đường Việt Nam/ suốt từ Cà Mau thẳng tới Nam Quan/ ơi những nẻo đường Việt Nam ...".



Chẳng hiểu do trời xui đất khiến như thế nào, có thể là do bản chất công việc, mà cũng có thể là do tính cách thích một chút phiêu lưu, quan sát và trải nghiệm, nên tôi hay có cơ hội đi xa nhà. Chỉ có điều lúc nào tôi đi cũng vội, nên chẳng ghi chép, lưu giữ lại cho cẩn thận gì cả.



Nói cho đúng, tôi luôn luôn sống trọn phút giây mà mình trải qua, và khi còn trẻ, cứ mỗi lần trải qua điều gì làm tôi có cảm xúc là lại còn làm thơ được nữa cơ. Thơ (con cóc) của tôi rơi rụng khắp nơi, có bài hay (ít thôi), và cũng có rất nhiều bài thật dở, vì tôi làm thơ thấy cũng dễ dàng như giải mấy bài toán đố thời tiểu học (hồi ấy tôi rất giỏi toán đố, vì con nhà buôn bán mà, nên việc cộng trừ nhân chia, làm tính nhẩm, và tính toán lời lỗ thì tôi thấy rất bình thường, như ăn cơm vậy). Vì vậy, tôi cứ ỷ y, cho rằng mình sẽ nhớ tất cả những bài thơ mình đã làm, mà nếu không nhớ thơ đã làm thì cũng không sao, vì sẽ vẫn còn nhớ những gì mình đã trải nghiệm. Nhưng không phải thế, vì bây giờ mới thấy có nhiều điều mình đã quên mất.



May là sau này đã có đủ loại công nghệ giúp người ta làm cái việc lưu giữ đó, chẳng hạn như máy chụp ảnh kỹ thuật số mà bây giờ điện thoại di động nào dù rẻ tiền nhất cũng có. Hoặc blog, như trang blog này của tôi. Nên tôi mới có thể lưu lại một số hình ảnh, để hỗ trợ cho cái trí nhớ ngày càng kém đi của mình.



Và hôm nay, nhân ngày nghỉ lễ 2/9 (long weekend), tôi có một ít thời gian để xem lại các hình ảnh mà tôi đã chụp trong thời gian gần đây, trong mấy chuyến đi gần đây ở một số nơi dọc trên chiều dài đất nước. Những nẻo đường Việt Nam, từ Hà Nội, vào đến Đà Nẵng, rồi Cần Thơ, rồi ra tận Phú Quốc. Và cả những tấm hình chụp ở SG, quanh khu nhà tôi, và trên con đường đi đến nơi làm việc của tôi nữa. Những tấm hình chụp vội trên điện thoại di động, với những cảm xúc thoáng qua. Hình không đẹp, nhưng nó ghi lại những khoảnh khắc có thật lúc ấy.



Thôi thì cứ đưa lên đây với vài ghi chú vội, cho khỏi quên cái đã. Sẽ viết nhiều hơn, khi tôi có nhiều thì giờ hơn. Riêng tấm hình mà tôi để trên đầu của entry này là tấm hình tôi nhớ rất rõ, vì nó chụp hình một bà cụ gần nhà tôi. Năm nay cụ đã ngoài 80 rồi, nhưng hàng ngày vẫn còn bán hàng ở vỉa hè gần một ngôi chùa trên đường Nguyễn Thượng Hiền gần nhà tôi. Bà bán chuối, khoai lang, mít, ổi vv, toàn là những thứ rẻ tiền và không ngon lắm, nhưng tôi hay mua của bà để giúp bà. Hình này là tôi chụp cách đây cũng gần một năm rồi, nhân dịp gần Tết ta năm nay.



Còn những tấm hình dưới đây là tôi lượm lặt trên những chuyến đi, trên những nẻo đường Việt Nam ...



Đây là hình tôi chụp ở đảo Phú Quốc, trong chuyến viếng thăm trại nuôi ngọc trai. Hình một tảng đá (đá cuội?) có hình thù kỳ lạ giống như một con thú, được trưng bày trong cửa hàng bán ngọc trai trên đảo mà tôi chẳng nhớ rõ tên cửa hàng ấy là gì. Một tảng đá vô tri vô giác, nhưng dưới mắt con người lại trở thành một con thú lạ lùng, ngô nghê, và thân thương lạ.



Cũng ở Phú Quốc, dấu vết chiến tranh vẫn còn in đậm. Chiến tranh tàn ác, và tôi muốn quên, nhưng để có thể quên thì người ta cũng cần phải nhớ, dù chỉ để tránh.



Hình này chụp ở Cần Thơ trong chuyến đi công tác vội của tôi cách đây vài tuần. Buổi trưa, trời nắng chang chang, tôi đi tìm một quán ăn, và tình cờ gặp quán này trong hẻm nhỏ. Một quán bún mắm và một xe nước mía, cùng một chủ, và thực khách chỉ có một mình tôi. Quán vỉa hè trong hẻm, bình dân và giá rẻ, nhưng sạch sẽ đến bất ngờ. Và hương vị rất đặc trưng của vùng sông nước Cửu Long...



Máy ép nước mía tự chế của các nhà khoa học chân đất, những người dám chế cả máy bay, dù ở một vùng vẫn bị mang tiếng (không oan uổng gì) là học dốt nhất nước. Học dốt nhất, nhưng cũng nhiều sáng kiến có ích nhất, và nhiều hoài bão về công nghệ nhất. Một trong rất nhiều nghịch lý ở VN, khi số nhà khoa học ở Hà Nội thì nhiều nhất, cơ quan trung ương cũng nhiều nhất, cả số lượng các viện khoa học vv, và được ngân sách nhà nước đầu tư với mức độ cao nhất, nhưng hiệu quả thì ...????



Nhắc đến Hà Nội, hình dưới đây tôi chụp bên ngoài BV Phụ sản ở HN vào tháng 7/2011. Đến thăm một chị bạn đang nuôi con gái và cháu ngoại ở BV. Cảm giác: BV quá tải, bên ngoài BV buôn bán hỗn loạn, hơi mất trật tự và ... thiếu vệ sinh. Mà ngay ở trung tâm thủ đô. Biết làm sao được, nước ta còn nghèo (nhưng bao giờ thì hết nghèo nhỉ?)







Nhưng không phải cái gì cũng xấu. Hình trên là con đường gốm sứ, có lẽ là duy nhất trên thế giới? Tôi không rõ, nhưng tôi rất thích đoạn đường này. Rất đẹp, rất độc đáo. Ai chưa biết đoạn đường này thì nên đến Hà Nội để xem, ít nhất một lần. Ví dụ như đoạn trong hình dưới đây.



Và những tấm hình gần đây nhất tôi mới chụp ở Đà Lạt, thành phố hoa mà tôi cho là có thiên nhiên đẹp nhất nước. Hoa ở khắp nơi, không chỉ có hoa trên giàn, hoa trong công viên, trên đỉnh đồi, bên bờ hồ, mà cả trên vệ đường, góc phố, sân nhà, cả những chậu kiểng đã bể bỏ ở góc vườn không người chăm sóc. Đà Lạt mơ, với hoa Mi-mô-sa nở vàng khắp nơi tỏa mùi hương ngai ngái ... Mimosa từ đâu em tới đất này?



Nhưng tôi sẽ không đưa hình hoa của Đà Lạt lên đây, mà sẽ để dành một entry riêng về hoa (mà có lẽ phải là vài entry mới hết nhỉ?). Còn dưới đây là những hình ảnh khác của Đà Lạt.



Chiều rơi trên Hồ Xuân Hương. Cả mây và nước cùng một màu xanh pha xám, rất lạ lùng. Nước lặng, trời êm, gió nhẹ, tôi và một chị bạn gốc Đà Lạt ngồi trong quán cafe Thanh Thủy ngay bên bờ hồ. Tự hỏi, trên thế giới có nơi nào đẹp hơn thế này để hai người yêu nhau ngồi tình tự không nhỉ?



Còn dưới đây là hình chụp trong quán cafe sách của PNC (một công ty phát hành sách ở Sài Gòn, Phương Nam Company) tại gần khu chợ Đà Lạt. Những chiếc dù treo ngược trên trần, in những dòng chữ trên các tờ báo bán rất chạy ở Sài Gòn. Một ý tưởng rất lạ lùng, kỳ thú. Buổi tối, trời bên ngoài lành lạnh, mưa lất phất, bên trong quán cafe ngay trong tiệm sách rất đông, cả người mua sách lẫn người uống cafe ...





Chợt nhớ một câu tập đọc thời tiểu học mà tôi đã đọc trong Quốc văn giáo khoa thư: "Chốn quê hương là đẹp hơn cả..." Chẳng thế mà khi bố tôi sắp rời VN để sang Mỹ chữa bệnh (ông sang và mất ở đó), ông đã khóc rất nhiều khi hát bài hát mà tôi không nhớ tên, chỉ nhớ lời: "Làng tôi có cây đa cao ngất từng xanh/ có sông sâu lơ lững vờn quanh/ êm xuôi về Nam. Làng tôi bao mái tranh san sát kề nhau/ bóng tre lu bên mấy hàng cau/ đồng quê mơ màng ..."



Lại nhớ mấy câu thơ của chính tôi trong bài thơ (con cóc) mà tôi đã làm khi lần đầu đi qua phà trên sông Hậu Giang năm 1979, khi tôi 19 tuổi:



Nỗi niềm yêu quê hương bất diệt

Gợn êm như sóng nước Hậu Giang



Nhè nhẹ trôi, thời gian ơi thời gian

Trên giòng sông mênh mang...

Thứ Sáu, 29 tháng 4, 2011

Dream a little dream ...

Chỉ là nghe lại những bản nhạc của một thời.

1. Dream a little dream of me, ở đây.
"Say ninety-nine and kiss me ..."

2. Stardust, ở đây.
"Love is now a stardust of yesterday..."

3. Fly me to the moon, ở đây.
"In other words/I love you..."

4. Mona Lisa, ở đây.
"Or is it your way to hide a broken heart?"

5. Smile, ở đây.
"Although a tear may be ever so near..."

6. Autumn leaves, ở đây.
"I miss you most of all, darling/when autumn leaves start to fall..."

7. The very thought of you, ở đây.
"I see you face in every flower"

8. Moon river, ở đây.
"Wherever you're going, I'm going your way..."

9. Try to remember, ở đây.
"Deep in December it's nice to remember ..."

10. Twilight time, ở đây.
Nhạc không lời. Rock and roll, rất hay.

Thứ Bảy, 27 tháng 11, 2010

Cơm nguội

Lại là một mẩu chuyện do bạn tôi, định cư ở nước ngoài, gửi cho tôi. Xin gửi lên đây để chia sẻ với các bạn.

Cơm nguội .... Ca dao VN cũng có một câu:
Chàng ơi giận thiếp làm chi
Thiếp là cơm nguội để khi đói lòng
Nhưng bây giờ, đồ ăn thừa mứa, mọi người ai cũng sợ béo phì, cơm nguội đâu còn có giá như ngày xưa nhỉ? Chứ thời trước đây cơm nguội có giá lắm, cơm dư ăn không hết còn ghế vào nồi cơm mới nấu để cho khỏi phí, còn nếu hơi bị thiu rồi thì bỏ vào thùng nước gạo để cho những người đi xin nước gạo về nuôi heo.

Lại nhớ một mẩu bạn tôi mới viết dành cho những bà già sắp về hưu (tôi thì còn khoảng gần 5 năm nữa, nhưng cũng nên chuẩn bị cho nó đi là vừa rồi). Về hưu, có phải nó cũng giống như cơm nóng trở thành cơm nguội không nhỉ? Có một nồi cơm nóng khác sắp được nấu lên. Còn trong khi chờ nồi cơm mới, thì ... cơm nguội đây, ai cần thì dùng tạm vậy!

Mọi người thưởng thức mẩu cơm nguội bên dưới nhé!

---
Cơm Nguội -
Tiểu Tử


Ông già đó lái xe đưa hai thằng cháu nội sáu bảy tuổi đi ăn MacDonald's.

Bữa nay chúa nhựt, vợ chồng thằng con ông không có đi làm, nhưng vì phải đi dự đám cưới của một người bạn vào buổi trưa nên thằng con ông nhờ ông đến nhà vừa giữ nhà vừa trông chừng hai đứa nhỏ.

Nó đã điện thoại cho ông hôm tuần trước để…"xí chỗ" bởi vì nó biết hai đứa em của nó lâu lâu cũng nhờ ông làm như vậy.

Nhà ông chỉ cách nhà của các con ông có ba bốn chục phút xe hơi – nếu xa lộ không bị kẹt – nên việc đi lại không gây nhiều phiền phức.
Ông sống một mình, thành ra khi đứa con nào cần, gọi ông là ông " ừ " !
Trừ phi ông đã hẹn lỡ với mấy ông bạn già đi đánh bài ở nhà ông nào đó, hay đi ăn phở ở khu 13 chợ tàu Paris…

Giữ hai đứa cháu đến bốn giờ chiều vẫn chưa thấy cha mẹ chúng nó về.
Giờ này phải cho chúng nó ăn cái gì – quen giữ mấy đứa cháu nên ông rành thông lệ đó.
Ông đề nghị đưa chúng nó đi ăn MacDo's, hai đứa vỗ tay nhảy cẫng reo mừng.
Vậy là ông chở chúng nó đi, sau khi viết ít chữ để lại trên bàn ăn cho vợ chồng thằng con ông biết.

Nhà hàng nằm ngoài đồng nên có sân chơi rộng lớn với nhiều đu và cầu tuột.
Giờ này thật đông khách, nhứt là trẻ con. Nhờ có bãi đậu xe mênh mông nên ông già không phải khó khăn tìm chỗ.

Vừa xuống xe, hai thằng nhóc chạy thẳng ra sân chơi.

Ông già nói vói theo bằng tiếng Việt :
- Hai đứa muốn ăn cái gì để ông nội lấy.
Hai đứa không quay đầu lại nhưng nói to bằng tiếng Pháp :
- Hamburger và coca.
Ông lại hỏi :
- Không lấy happy meal hả ?

Hỏi như vậy, vì thông thường trẻ con hay lấy món đó để có đồ chơi.
Tụi nhỏ vừa trèo lên cầu tuột vừa nói lớn bằng tiếng Pháp :
- Không ! Cái đó của con nít !
Ông bật cười, vừa chửi thầm "cha tụi bây" vừa bước vào trong.
Nối đuôi một lúc rồi ông mang mâm đồ ăn ra ngồi ở một cái bàn ngoài sân dưới nắng, cho ấm.

Hai thằng cháu nội của ông đang chơi cầu tuột, la hét bằng tiếng Pháp, om sòm.
Trong đám trẻ tóc vàng, chúng nó tóc đen mắt hí nên dễ thấy. Ông nhìn theo tụi nó trèo lên tuột xuống, chen chúc với bầy tây con mà ông thấy thương.
Hai thằng cháu nội của ông chỉ hiểu chớ không nói được tiếng Việt.
Tiếng Việt, tụi nó nói được có hai tiếng " ông nội".( Đó là bây giờ, sau khi được ông sửa nhiều lần.

Chớ hồi còn bốn năm tuổi, tụi nó gọi ông bằng " ông nại", nghe thấy cười lắm !)
Thành ra, trong đối thoại giữa ông cháu, tụi nó nói tiếng Pháp, còn ông thì dùng tiếng Việt.

Ông nghĩ :" Cứ bắt tụi nó phải nghe tiếng Việt, kẻo không chúng nó sẽ quên.
Rồi mình sẽ đốc thúc ba tụi nó đưa tụi nó đi học nói và học viết nữa".

Một lúc sau, thấy hai đứa nhỏ chơi đủ lâu, ông đứng lên vẫy tay gọi :
- Tí ! Tú ! Lại ăn nè !
Tụi nhỏ còn ráng tuột thêm hai lần nữa rồi mới chạy vào, mặt mày đỏ ửng, mồ hôi mồ kê.

Ông nói :
- Vô toa-lét rửa tay rửa mặt rồi ra ăn.
Hai đứa gật đầu nhưng vẫn cầm ống hút chọc lủng nắp ly giấy, hút vài ngụm coca trước khi hí hửng đi vào bên trong.

Ông mỉm cười nhìn theo mà nghe tình thương dào dạt trong lòng
…Ông nhớ lại ở bên nhà hồi xưa, hồi thời mà cha chúng nó bằng tuổi chúng nó bây giờ, ông cũng hay dẫn đi " ăn cái gì " lúc bốn năm giờ chiều chúa nhựt.

Mà ở Việt Nam đâu cần phải lái xe đi cả chục cây số như ở xứ Pháp này.
Cứ thả bộ ra đầu ngõ là có đủ thứ để " bỏ bụng " : cháo lòng, mì, phở
…Hồi đó, khi được dẫn đi ăn, cha chúng nó cũng có bộ mặt hí hửng giống như tụi nó bây giờ.

Vậy mà cũng đã gần bốn chục năm…
Hai đứa nhỏ trở ra ngồi vào bàn ăn hamburger.

Thằng lớn, tên Tí, để ý thấy ông nội không có hộp MacDo's nào hết, bèn hỏi :
- Ông nội không ăn gì à ?
- Không, ông không có đói.

Ông cầm cái ly giấy đựng cà phê đưa lên :
- Ông uống một cái cà-phê là đủ rồi.

Thằng nhỏ, tên Tú, chen vào, miệng còn ngồm ngoàm hamburger :
- Mấy người già kỳ cục lắm ! Ăn uống không giống ai hết !
Thằng anh rầy :
- Nói bậy ! Mày nói như vậy là không có lễ độ !

Rồi nó lên giọng người lớn để dạy em, nói chậm rãi :
- Người ta nói : mấy người lớn tuổi không biết cách ăn uống. Mầy hiểu chưa ?
Ông bật cười, chửi đổng " Cha mầy " !

Thằng Tí không hiểu tiếng chửi đó nên hỏi :
Ông nội nói cái gì vậy ? " Cha mầy " là nghĩa gì ?
Ông đưa tay gãi cổ, tìm cách giải nghĩa :
- Ờ…ông muốn nói…Nghĩa là…Nghĩa là…

Thấy ông nội nó có vẻ gặp khó khăn trong tiếng Việt, thằng Tí đề nghị :
- Ông cứ giải nghĩa bằng tiếng Pháp đi, có lẽ dễ hơn đó !
Ông gật đầu, nói bằng tiếng Pháp :
- Ông muốn nói rằng…muốn nói rằng là … con dễ thương !
- Merci ! Merci !
Thấy thương quá, ông chồm qua mặt bàn hôn lên má phinh phính của nó. Thấy vậy thằng em đòi :
- Còn con ! Còn con !
Ông bèn đưa tay ôm hai cái đầu cụng lại rồi hôn chúng nó trơ trất. Hai đứa rụt cổ cười lên hắc hắc.

Trong khoảnh khắc đó, ông già cảm thấy không còn sự sung sướng nào bằng…
Ăn xong, thằng Tí xin phép ông nội cho tụi nó tiếp tục chơi một lúc nữa.
Ông vén tay áo nhìn đồng hồ rồi gật đầu. Hai đứa nhỏ vừa chạy đi vừa nói nửa tiếng tây nửa tiếng ta : " Merci ông nội !".

Ông mỉm cười nhìn theo một lúc rồi mới đi vào bên trong lấy thêm một ly cà phê.
Ngồi vào bàn, ông vừa nhăm nhi vừa nhớ lại thời ông còn nhỏ. Hồi đó, ông ở dưới quê với bà ngoại.

Chiều nào đi học về, cũng bước vào bếp bốc một cục cơm nguội to bằng nắm tay rồi ra ngồi ngoài hiên ăn với miếng đường mía màu nâu sặm đen nhỏ bằng ngón chân cái.

Vậy mà sao ngon vô cùng !
Và ngày nào cũng vậy.
Hể nghe đói – ngoài hai bữa cơm chánh – là cứ vô bếp lục cơm nguội.
Lúc nào nấu cơm, bà ngoại cũng nấu nhiều.

Bà nấu trong cái nồi đất và không biết nấu cách nào mà khi nguội cơm dính vào nhau chớ không bời rời.
Cho nên chỉ cần cầm chiếc đũa bếp xắn xuống một cái là có ngay một cục cơm gọn bân !
Nồi cơm nguội luôn luôn nằm trên đầu ông táo. "
Để kiến đừng bò vô, vì kiến sợ tro bếp". Hồi đó nấu bếp bằng củi nên bếp đầy tro.
Lâu lâu, bà ngoại có hốt tro đổ bớt, nhưng vẫn chừa lại một lớp dầy để giữ than cho âm ỉ dùng " ghế" nồi cơm.

Bà giải nghĩa :
" Sôi vừa cạn nước là dập tắt lửa ngọn rồi cời than với tro ra khỏi chưn ông táo, bắc nồi cơm xuống đặt lên đó cho gạo nở. Như vậy kêu là ghế nồi cơm.
Nấu cơm ngon hay không ăn thua ở cái chỗ biết ghế hay không biết ghế. Chỉ có vậy thôi !".

Bà coi chuyện nấu cơm trong nồi đất và bằng lửa củi là chuyện dễ ợt.
Điều quan trọng đối với bà ngoại là phải nấu dư dư ra một chút.
"Cho thằng nhỏ nó có cơm nguội nó ăn".

Nói như vậy chớ thỉnh thoảng bà cũng cho "thằng nhỏ" một khúc khoai mì hay một củ khoai lang. Những thứ không phải hiếm – nhứt là ở vùng quê – nhưng vì nhà nghèo nên những thứ như vậy cũng trở thành hiếm hoi cho lúc đói lòng của " thằng nhỏ"

…Nghĩ đến đó, ông già buông tiếng thở dài. Sao mà có thể nghèo như vậy được ?
Bà ngoại chỉ có mấy nọc trầu, vài hàng cau, đôi ba cây ổi cây mít…
Ngần đó thứ chỉ đủ cho hai bà cháu có hai bữa cơm rau khô mắm hằng ngày.
Vậy mà bà ngoại cũng ráng nuôi cho ông đi học. " Cái thứ mồ côi, Trời bù cho cái khác. Thằng nhỏ sáng dạ học giỏi, bắt nó ở nhà chăn trâu sao đành".

Vậy là ông phải cắp sách đến trường như mọi đứa trẻ khác và chiều về nếu không có củ khoai thì vẫn còn có nồi cơm nguội...
Thành ra, cơm nguội đối với thằng nhỏ nghèo là ông hồi đó, lúc nào cũng có giá trị như hamburger của hai thằng cháu nội của ông bây giờ.

Còn hơn thế nữa là nhờ có cơm nguội mà ông đã đi hết bậc tiểu học một cách trơn tru rồi sau đó thi đậu học bổng vào trường lớn ở Sàigòn, cũng dễ dàng như bà ngoại nấu cơm trong nồi đất !

Ông già vén tay áo xem đồng hồ rồi đứng lên gọi :
- Tí ! Tú ! Về, tụi con !
Hai đứa chạy lại mang mâm hộp không ly không dẹp vào trong rồi theo ông nội chúng nó ra xe.

Về đến nhà thì ba mẹ của hai thằng nhỏ cũng đã về rồi. Ba chúng nó hỏi bằng tiếng Việt :
- Tụi con đi chơi có vui không ?
Hai đứa gật đầu. Thằng Tí giành nói :
- Ông nội cho tụi này chơi cầu tuột, chơi đu, lâu thật lâu. Đã luôn !

Ba chúng nó quay sang ông già :
- Tụi nó có ngoan không, ba ?
- Ngoan chớ. Dễ dạy lắm.
Mẹ chúng nó vừa đưa cho mỗi đứa một cái bánh sô-cô-la vừa nói bằng tiếng Pháp:
- Mẹ tưởng tụi con không có đi ra ngoài nên mẹ mua bánh cho tụi con đây.
Hai đứa vừa ôm mẹ hôn vừa nói
" Cám ơn ! Cám ơn !" tía lia. Thằng Tú bẻ cái bánh của nó ra làm hai rồi đưa phân nửa cho anh nó :
- Ăn với Tú nè !
Để dành cái bánh của Tí lát nữa ăn !

Thằng anh vui vẻ cầm lấy phần bánh nói " merci" rồi vừa hôn lên má em vừa nói bằng tiếng Việt : Cha mầy !
Mẹ nó giật mình, trừng mắt, la lên bằng tiếng Pháp :
- Tí ! Sao con chửi nó ?
- Con đâu có chửi. Con nói nó dễ thương mà !
- " Cha mầy " là tiếng chửi đó !
- Hồi nãy, ông nội nói " cha mầy là dễ thương " !

Ông già bật cười trong lúc mọi người đều ngạc nhiên nhìn ông không hiểu. Ông nói :
- Ờ ! Hồi nãy ba có giải nghĩa như vậy khi thằng Tí nói một câu dễ thương.
Thật ra, hai tiếng đó tùy trường hợp và tùy cách nói mà thành tiếng chửi hay tiếng mắng yêu, tụi con hiểu không ?

Mẹ chúng nó quay sang hai con, nói bằng tiếng Pháp :
- Tiếng đó chỉ có người lớn mới có quyền dùng thôi. Tụi con không được nói, nghe chưa ?
Thằng Tí gật đầu, rồi vừa kéo thằng em đi vào trong vừa càu nhàu :
- Ồ…tiếng Việt Nam rắc rối quá !

Mấy người lớn nhìn nhau mỉm cười. Ông già nói, giọng nghiêm trang :
- Ba nghĩ tụi con nên sắp xếp thì giờ để chở tụi nhỏ đi học nói và học viết tiếng Việt. Ở Paris thiếu gì chỗ dạy.
Ngoài ra, ba cũng muốn nhắc tụi con thường xuyên nói tiếng Việt với chúng nó thay vì dùng tiếng Pháp.
Để cho chúng nó đừng quên. Mình đi lưu vong, bỏ hết mất hết.
Chỉ còn có tiếng nói mang theo mà cũng để cho mất luôn…thì mình sẽ thành ra cái giống gì, hả các con ?

Giọng ông già bỗng như nghẹn lại.
Ba mẹ tụi nhỏ chừng như xúc động , làm thinh. Yên lặng một lúc, mẹ thằng Tí vừa đi vào bếp vừa nói :
- Để con đi làm cơm. Ba ở lại ăn với tụi con nghen.
- Không, con. Chơi một chút rồi ba về.

Ba tụi nhỏ rót trà vào tách đưa cho ông già :
- Biết ba thích uống trà nên con có pha sẵn bình Ô long cho ba đây.
- Ờ…Cám ơn con !

Ông già hớp một hớp, đặt tách xuống, gật gù :
- Ùm…Ngon !
Rồi ông tiếp :
- Hồi nãy, ở ngoài Mac Do's, tự nhiên sao ba nhớ lại ba hồi nhỏ. Hồi đó, vì nghèo nên ba đâu có quà bánh gì để ăn.

Ba chỉ biết có cơm nguội ăn với đường mía, loại đường cục đậm đen nhìn không thấy thèm mà khi cắn vô mùi mật mía thơm phức làm tươm nước miếng.

Ông già ngừng nói đưa tách lên môi hớp một hớp trà, làm như ông vừa bắt gặp lại vị ngọt đậm đà của cục đường đen và ông cần một hớp trà để đẩy đưa cho hậu vị…

Người con ông ngồi đối diện, uống trà trong im lặng. Anh biết cha anh đang sống lại với dĩ vãng nên không dám làm xáo trộn giòng suy tư của cha.

Ông già nói tiếp :
- Hồi thời đó bà ngoại của ba nấu cơm trong nồi đất, nhúm lửa bằng giăm bào, chụm bằng củi.
Muốn cho lửa bắt phải hít hơi đầy phổi rồi dùng ống trúc mà thổi nhiều lần.
Ống trúc đó gọi là " ống thổi". Khi sử dụng, phải để ý. Bởi vì ống thổi có một đầu sạch và một đầu dơ.
Đầu sạch là đầu mà mình chúm môi kê vào để thổi, còn đầu dơ là đầu mà mình thọc vào chỗ có lửa.

Đầu đó luôn luôn bị cháy nám đen và dính tro bụi.
Người không biết, thổi ở đầu dơ, một lúc sau mồm mép dính lọ đen thui mà không hay !
Ông già khịt mũi cười rồi mới tiếp :
- Rồi phải đợi cơm sôi để hạ lửa, sớm một chút là cơm nhão, trễ một chút là cơm khê.
Nấu cơm cực lắm chớ không phải như bây giờ nấu bằng nồi điện, chỉ cần nhận có cái nút !
Ông ngừng nói, cầm tách lên hớp mấy hớp trà. Ba thằng Tí cũng đẩy đưa :
- Như vậy mới là tiến bộ, chớ ba.
- Dĩ nhiên. Đó là điều cần thiết cho cuộc sống. Bây giờ mà bắt mấy bà mấy cô nấu cơm bằng nồi đất, bằng lửa củi…chắc họ nổi loạn !

Ba muốn nhắc lại chuyện nấu cơm hồi trước là để cho con thấy trong hột cơm hồi đó có chút công sức
của người nấu, có chút tình người làm cho hột cơm có giá trị hơn hột cơm " nhận nút " của thời bây giờ.

Chỉ có vậy thôi.
Ông già ngừng nói, nhìn thằng con một chút rồi tiếp :
- Nhưng chuyện mà ba muốn nói ở đây là chuyện " cơm nguội" . Cơm nguội là một thứ chẳng có gì hấp dẫn !
Cho dù nó có nằm trong nồi đất hay trong nồi điện gì, nó cũng không gợi thèm như tô phở hay tô mì.

Nó không có chỗ đứng trong hàng quà bánh. Chẳng ai để ý tới nó hết !
Vậy mà khi mình đói và chẳng có gì ăn thì cục cơm nguội lại trở thành " có giá" !
Nó như loại bánh xe xơ-cua của xe hơi : bình thường chẳng ai nhìn đến, nhưng khi bị xẹp bánh mới thấy cái bánh xơ-cua, dù đã mòn lẵn, thật hữu ích vô cùng.

Ông già lại ngừng nói, tự tay rót trà vào tách, chậm rãi như để cho thằng con có thời giờ " thấm " những gì ông muốn nói. Sau một hớp trà, ông tiếp :
- Con thấy không ?
Cục cơm nguội cũng có cái giá trị của nó đó chớ ! Ngoài ra, khi ăn cục cơm nguội, đối với những ai chỉ biết nồi cơm điện chớ chưa từng biết cái nồi đất như tụi con chẳng hạn, thì cục cơm nguội chẳng gợi lên hình ảnh gì khác.

Nhiều lắm là chỉ gợi lên hình ảnh cái bánh xơ-cua thôi !
Còn như đối với những người như ba, nhai cục cơm nguội là nhớ công ơn người thổi lửa nấu cơm nuôi mình. Nhai cục cơm nguội là nhớ cái gốc nghèo của mình.

Cái gốc mà từ đó ba đã cố gắng vươn lên để về sau, ở Sàigòn, tụi con mới có đủ thứ quà bánh bỏ vào bụng khi cần, và để bây giờ, ở đây, tụi thằng Tí thằng Tú mới có hamburger . Con thấy không ? Cơm nguội đâu phải chỉ là cơm nguội !
Dứt lời, ông già đứng lên cầm tách trà uống một hơi. Ông đặt tách xuống rồi nhìn ra ngoài :
- Thôi, ba về kẻo tối. Già rồi, mắt mũi dở lắm, con à.
Rồi ông hướng vào trong, nói lớn :
- Ông nội về nghe tụi con !
Tụi nhỏ ló đầu ra cửa buồng nói nửa tiếng Pháp nửa tiếng Việt " Au revoir Ông Nội".

Có tiếng mẹ chúng nó từ trong bếp vọng ra
:" Dạ ! Ba về. Lái xe cẩn thận nghen ba !"

Ra đến cửa, ông già đưa tay bắt tay thằng con. Anh ta cầm tay cha, vừa siết mạnh vừa nói : Cám ơn ba ! Cám ơn !
Trong cái siết tay đó, hình như người con muốn nói lên một điều gì…
Anh ta đưa ông già ra xe, đứng nhìn theo chiếc xe đi lần ra ngõ trong ánh hoàng hôn chập choạng.

Xe đã đi khuất mà anh ta vẫn còn nhìn theo hướng đó, ân hận sao hồi nãy mình không nói được một lời gì để cho cha hiểu rằng mình thương cha vô cùng…thương vô cùng…

Trên đường về nhà, ông già lái xe chậm rãi. Hình ảnh cục cơm nguội vẫn còn vươn vấn đâu đó ở trong lòng.
Bỗng ông thở dài, lẩm bẩm

:" Mình, bây giờ, cũng chỉ là một thứ cơm nguội đối với các con.
Tụi nó chỉ phone tới, khi nào tụi nó cần…"
Con đường trước mặt ông sao thấy như dài thăm thẳm…

Tiểu Tử

Thứ Năm, 14 tháng 10, 2010

Sông kia rày đã nên đồng …

Tôi mới về từ trường ĐH Indo (Universitas Indonesia), còn rất mệt, và cũng có rất nhiều muốn nói. Nhưng sẽ cần một entry khác.

Còn entry này chỉ để ghi nhanh một cảm giác đã hình thành trong tôi một cách mơ hồ từ chuyến đi Indo, và khi về đến nhà lại được củng cố khi ông xã tôi nhắc đến một bài báo viết về những chuyến phà miền Tây mà giờ đây có lẽ đang đứng trước nguy cơ bị xóa sổ vĩnh viễn.

Tôi chưa đọc bài báo đó, vì mấy ngày qua không ở nhà và không đọc báo Việt (thì ở Indo mà lại). Nhưng chỉ mới cách đây hơn một tuần thôi, tôi cùng mấy em ở TT của tôi vừa đi qua phà Hàm Luông trong chuyến đi đến Trà Vinh. Và cũng có một cảm giác ngậm ngùi như vậy khi nhìn cảnh những chiếc phà nặng nề, chậm chạm nhưng kiên trì đảm đương nhiệm vụ làm chiếc cầu di động nối liền hai bờ. Vì nghĩ đến một ngày không xa, chúng sẽ không còn nữa, sau cả thế kỷ làm nhiệm vụ.

Nhưng phà của VN thì có liên quan gì đến Indo nhỉ? À, là bởi vì ở Jakarta, thủ đô của đất nước Indo với vài ngàn hòn đảo lớn nhỏ và hơn 200 triệu dân, một nước đang phát triển trong khu vực Đông Nam Á như VN, với GDP khoảng 5000 USD (gấp hơn 4 lần của VN thì phải), mặc dù cũng đang trong quá trình phát triển, đô thị hóa và toàn cầu hóa, nhưng đi đâu tôi cũng thấy được dấu ấn của truyền thống, của lịch sử Indo.

Cả trong kiến trúc, trong trang phục, lẫn trong tâm thức của mỗi người.

Những mái ngói rất đặc trưng chất Indo ngay tại sân bay Jakarta, những building độc đáo trong trường đại học Indo, những bộ trang phục truyền thống của vị hiệu trưởng và các vị lãnh đạo, quản lý cấp khoa, bộ môn của trường này.

Tóm lại, họ đang hiện đại hóa, nhưng truyền thống vẫn không hề mất.

Nhưng ấn tượng nhất là khi tôi tiếp xúc và trao đổi với các em sinh viên, các giảng viên, và những nhà tuyển dụng có sử dụng sinh viên tốt nghiệp của Bộ môn Kiến trúc (Department of Architecture) thuộc Khoa Công trình (Faculty of Engineering) của UI, thì tôi mới thực sự cảm nhận được cái tâm thức bảo vệ môi trường và bảo vệ truyền thống của người Indo.

Những mô hình thiết kế của các em sinh viên thật độc đáo với tre, nứa, giấy bồi, và kiểu dáng phát huy những nét đẹp của những kiến trúc truyền thống, kết hợp với những đường nét hiện đại. Và cả ý tưởng về một cây cầu lãng mạn với nét thẳng mạnh mẽ chui qua một vòm cổng cong cong duyên dáng, mà vị hiệu trưởng giải thích là nó biểu trưng cho linga và yoni. Hiện đại kết hợp với truyền thống.

Còn VN, hình như chúng ta không có thói quen trân trọng và lưu giữ những gì vốn là truyền thống thì phải? Thay đổi thì đúng là tất yếu, nhưng giữ lại những hình ảnh truyền thống để tạo nên một sự gắn kết giữa quá khứ và hiện tại, chẳng phải điều đó cũng rất cần để tạo nên chiều sâu tâm hồn của từng con người và của cả dân tộc hay sao?

Có phải vì chúng ta phá hủy hết cả, nên từ thế kỷ trước Tú Xương mới có bài thơ Sông Lấp nổi tiếng hay chăng?

Sông kia rày đã nên đồng
Chỗ làm nhà cửa chỗ trồng ngô khoai.
Vẳng nghe tiếng ếch bên tai
Giật mình còn tưởng tiếng ai gọi đò …


Buồn quá, phải không? Dường như tốc độ “biển xanh biến thành ruộng dâu” tại VN hiện nay ngày càng gia tăng thì phải.

Chợt nhớ cách đây khoảng 20 năm (đầu thập niên 1990), ở nhà tôi vẫn thường nghe được tiếng còi xe lửa “xình xịch xình xịch xình xịch uuuuuuuuuuuuu” từ xa xa vọng lại vào mỗi tối, buồn buồn, gợi nhớ một cái gì xa xăm. Tiếng còi tàu ấy giờ đây không còn nữa.

Còn bây giờ, ở miền Tây đang mất dần đi những tiếng phà.

Phà ơi! Phà ơi!

Còn đây nữa, bài thơ Sông Lấp của thời nay. Lại thêm một người hoài cổ.

Thứ Bảy, 14 tháng 8, 2010

"Nam ông mộng lục" và nhân tài đất Việt

Hình ngôi chùa Tú Phong tại Bắc Kinh nơi có tấm bia ghi bài văn bia do Hồ Nguyên Trừng soạn. Tự hỏi: nếu bia này ở VN thì liệu đến nay nó có còn không nhỉ? Hình này và hình dưới lấy ở đây:http://www.lyhocdongphuong.org.vn/diendan/lofiversion/index.php/t15177.html

"Nam ông mộng lục", cuốn sách ghi chép lại những điều còn lại trong trí nhớ xa xưa, giống như trong cõi mộng, của một ông già nước Nam.

Là ai thế? Đó là Hồ Nguyên Trừng, con trai đầu tiên của Hồ Quý Ly, anh của Hồ Hán Thương, hai vị vua nhà Hồ, một triều đại hết sức ngắn ngủi trong lịch sử VN. Tôi vẫn nhớ khi học lớp 7, lớp 8 gì đó ở trường Gia Long, cô giáo dạy Sử của tôi đã nói một câu mà tôi mãi không quên: "Nhà Hồ thực ra có nhiều cải cách quan trọng, nhưng vì không được dân chúng ủng hộ, nên đã không thành công."

Vì sao mà cải cách quan trọng nhưng dân chúng lại không ủng hộ? Cô giáo tôi hồi ấy nói như sau, đại khái là: người Việt xưa nay vẫn có truyền thống tôn sùng những người đánh giặc ngoại xâm, giữ nước, nhưng không chú trọng việc xây dựng đất nước. Nên những đóng góp của nhà Hồ không được đánh giá đúng mức.

Tại sao mà hôm nay tôi lại quan tâm đến vấn đề lịch sử xa xưa ấy? Đó cũng là câu hỏi mà Khuê Vũ mới đưa ra khi thấy tôi bắt đầu entry này. Câu trả lời thật đơn giản: Vì hôm nay trên báo Thanh Niên có đăng bài "Hành trình tìm mộ Hồ Quý Ly", có nhắc đến Hồ Nguyên Trừng với tài đúc súng, khi bị nhà Minh bắt thì ông không những không bị giết mà còn được trọng dụng. Hình như ông làm đến tận chức Thượng thư = bộ trưởng, sống suốt cuộc đời còn lại sau khi nhà Hồ mất và sau đó qua đời ở bên Tàu. Hiện nay, nơi có ngôi mộ của ông nay đang sắp bị lấy để làm nơi đua ngựa, hình như thế.

Ai muốn biết nhiều hơn về Hồ Nguyên Trừng nói riêng và nhà Hồ nói chung, chỉ cần google, sẽ có hết (riêng độ chính xác của các thông tin thì còn phải bàn thêm). Còn tại sao mà tự nhiên vào lúc này báo Thanh Niên lại quan tâm đến nhà Hồ, thì tôi cũng không biết nốt, ai biết xin bảo cho tôi với nhé.

Tôi không phải sử gia, nên entry này tôi viết chỉ vì tôi quan tâm đến lịch sử như bất kỳ một người bình thường nào - thậm chí chỉ như một bà nội trợ - cũng có thể quan tâm: Số phận của những con người qua những biến cố lịch sử của đất nước. Và cảm thấy ngậm ngùi, vì hình như lịch sử Việt Nam luôn cho thấy mình người tài không hề hiếm, nhưng dường như chưa được sử dụng một cách tốt nhất để giúp đất nước phát triển, cũng như có được một cuộc sống tốt đẹp cho chính mình.

Trong khi đó, thì những nhân tài Việt lại hoàn toàn có thể phát triển tốt ở những nơi khác ngoài đất mẹ, mặc dù cõi lòng vẫn chẳng bao giờ nguôi ngoai niềm thương nhớ quê hương. Như Nam ông Hồ Nguyên Trừng mà tôi đang nhắc đến.

Xin chép lại đây lời dẫn vào cuốn sách "Nam ông mộng lục" của Hồ Nguyên Trừng. Mấy chỗ in nghiêng đậm là do tôi thêm vào để nhấn mạnh. Và cũng ngắt đoạn ra làm 3 để dễ đọc hơn.
Bài tựa Nam Ông mộng lục do chính ông viết như sau:
Bản dịch:
Sách Luận ngữ từng nói: “Trong cái xóm mười nhà, thế nào cũng có người trung tín như Khâu này vậy”, huống hồ nhân vật cõi Nam Giao từ xưa đã đông đúc, lẽ nào vì nơi hẻo lánh mà vội cho là không có nhân tài! Trong lời nói, việc làm, trong tài năng của người xưa có nhiều điều khả thủ, chỉ vì qua cơn binh lửa, sách vở cháy sạch, thành ra những điều đó đều bị mất mát cả, không còn được ai nghe, há chẳng đáng tiếc lắm sao?

Nghĩ tới điểm này, tôi thường tìm ghi những việc cũ, nhưng thấy mất mát gần hết, trong trăm phần chỉ còn được một hai; bèn góp lại thành một tập sách đặt tên là Nam Ông mộng lục, phòng khi có người đọc tới! Một là để biểu dương các mẫu việc thiện của người xưa, hai là để cung cấp điều mới lạ cho người quân tử, tuy đóng khung trong vòng truyện vặt, nhưng cũng là để góp vui những lúc vui chuyện.

Có kẻ hỏi tôi rằng: “Những người ông chép đều là người thiện, vậy thì trong các truyện bình sinh ông nghe thấy, lại chẳng có chuyện nào bất thiện ư?” Tôi trả lời họ rằng: “Chuyện thiện tôi rất mê nghe, nên có thể nhớ được, còn chuyện bất thiện thì không phải không có, chẳng qua tôi không nhớ đấy thôi”. Họ lại hỏi: “Sách lấy tên là mộng, ý nghĩa ở chỗ nào?” Tôi trả lời: “Nhân vật trong sách, xưa kia rất phong phú, chỉ vì đời thay việc đổi, dấu tích hầu như không để lại, thành ra còn mỗi một mình tôi biết chuyện và kể lại mà thôi, thế không phải mộng là gì? Các bậc đại nhân quân tử có thấu cho chăng? Còn hai tiếng Nam Ông thì chính là tên chữ, của Trừng tôi vậy”
.
Chỉ đọc lời dẫn thôi, cũng đủ tưởng tượng ra một ông già đau đáu niềm thương nhớ quê nhà, cặm cụi ngồi ghi chép những kỷ niệm - như những mộng tưởng - về quê hương cũ. Ai muốn đọc thêm về Nam ông mộng lục xem Hồ Nguyên Trừng đã viết gì, xin vào đây. Và chắc là còn nhiều nguồn khác nữa, nếu chịu khó tìm.
Còn với tôi, thì câu hỏi mà tôi muốn đặt ra cho mình và cho mọi người là: Liệu có ai biết còn bao nhiêu Nam ông mộng lục khác mà chúng ta chưa biết, những Nam ông mộng lục đã được viết ra và sẽ còn được viết ra?

Và tôi lại chợt nhớ đến Ngô Bảo Châu, cùng một nỗi băn khoăn: Liệu Ngô Bảo Châu có nên về nước theo lời kêu gọi của nhà nước, để trở thành một Lê Bá Khánh Trình? Hay tốt hơn, nên làm một Hồ Nguyên Trừng, cống hiến sức lực và tài năng của mình ở xứ người, để cuối đời sẽ viết một Nam ông mộng lục khác?

Mà còn những người trở về, như Lê Bá Khánh Trình và nhiều người khác nữa, trong đó có cả tôi, về rồi thì họ ra sao, và sẽ viết gì nhỉ? À, tôi biết rồi: họ viết blog!