Thứ Tư, 6 tháng 11, 2013

Con gái, con trai (Alice Munro, PA dịch): Kỳ 3



-----------

Rất hiếm khi mẹ tôi ra chỗ chuồng cáo. Bà rất ít khi ra khỏi nhà trừ khi cần phải làm như vậy – để phơi quần áo hoặc đào khoai tây. Ở ngoài trời trông bà có vẻ lạc lõng xa lạ với đôi cẳng chân mập mạp để trần, làn da không hề sạm nắng mặt trời, trước bụng vẫn còn mang cái tạp dề ẩm ướt do dính nước khi chuẩn bị bữa ăn tối.  Mái tóc của bà được vấn gọn trong một chiếc khăn, với một vài lọn rớt ra ngoài. Bà thường vấn vội tóc lên như vậy vào buổi sáng, vừa vấn vừa kêu bà chẳng có thời gian để vấn tóc kỹ hơn, và suốt cả ngày bà vẫn để nguyên kiểu tóc vấn như thế. Quả đúng là bà không có thời gian thật. Những ngày này phía sau nhà của chúng tôi đã được chất đống với những giỏ đào và nho , lê, những thứ được mua từ trong thị trấn, rồi hành, cà chua và dưa chuột được trồng ở nhà, tất cả đang chờ đợi để được làm thành các loại thạch và mứt, muối thành dưa chua và xay thành tương đặc. Trong nhà bếp có một lò đun đỏ lửa suốt ngày, trên lò nồi nước đang sôi sùng sục các keo mứt trong nồi  chạm nhau kêu lanh canh,  đôi khi còn thấy một chiếc túi vải được treo trên một thanh gỗ giữa hai chiếc ghế dùng để ép trái nho để làm thành thạch. Mẹ tôi cũng có những việc cần tôi giúp, và tôi ngồi vào bàn lột vỏ những trái đào đã được ngâm trong nước nóng , hoặc cắt hành tây khiến mắt tôi cay xè và nước mắt chảy ràn rụa.  Ngay sau khi làm xong mấy việc được giao tôi vội chạy ra khỏi nhà , cố gắng đi khá xa trước khi mẹ tôi kịp nghĩ ra việc gì khác để giao cho tôi làm . Tôi ghét cái bếp nóng nực và tối tăm trong những ngày hè, ghét những tấm màn sáo và tấm vải dính bắt ruồi màu xanh lá cây , ghét mấy thứ cũ kỹ trong bếp như tấm khăn trải bàn bằng vải dầu, tấm gương lượn sóng và lớp vải sơn đã phồng rộp.  Mẹ tôi đã quá mệt mỏi và bận rộn nên chẳng nói chuyện với tôi, bà chẳng còn tâm trí nào để nói về buổi khiêu vũ tốt nghiệp ở trường sư phạm, mồ hôi chảy thành giọt trên mặt trong khi bà hổn hển đếm các lọ mứt, chỉ tay vào các chai lọ và đong từng chén đường để đổ vào. Đối với tôi công việc nội trợ dường như vô tận, ảm đạm và vô cùng tẻ nhạt, trong  khi công việc của cha tôi được thực hiện ở ngoài trời, và có một vẻ đặc biệt quan trọng gần như là nghi lễ.



Tôi  đẩy chiếc xe chở nước đến chỗ nhà kho, đây là nơi chứa các dụng cụ , và tôi nghe mẹ tôi nói , "Anh ráng chờ đến khi thằng Laird  lớn thêm chút nữa, lúc ấy anh sẽ có người giúp thực sự."


Tôi không nghe được câu trả lời của cha tôi. Nhưng tôi cảm thấy hài lòng khi thấy cách ông đứng nói chuyện với mẹ tôi, lịch sự tử tế như khi ông đang trả lời một nhân viên bán hàng hoặc một người khách lạ, nhưng với một vẻ hơi sốt ruột và  muốn được quay lại với công việc mà mình đang làm.  Tôi cảm thấy mẹ tôi chẳng có phận sự gì ở chỗ này, và muốn cha tôi cũng cảm thấy như vậy. Mà mẹ tôi nhắc đến Laird như vậy là có nghĩa gì ấy nhỉ?  Nó làm sao mà giúp đỡ gì cho ai được.  Mà không biết bây giờ nó đang ở đâu đây? Hẳn lại đang ngồi đu tít trên xích đu cho đến khi phát bệnh, hoặc đang chạy vòng vòng, hay lại đi bắt mấy con sâu bướm. Chưa bao giờ nó ở lại chờ tôi cho đến khi tôi xong việc.

  
"Lúc ấy em có thể nhờ con bé nhiều hơn để phụ việc nhà với em," Tôi nghe mẹ tôi nói. Cái cách bà nhắc đến tôi với một vẻ buồn buồn và trách móc luôn khiến tôi cảm thấy khó chịu. "Em vừa mới quay lưng là con bé bỏ đi đâu mất tiêu. Cứ như là em chẳng có đứa con gái nào cả."



Tôi bỏ đi và ngồi trên một túi thức ăn trong góc nhà kho, không muốn xuất hiện khi cuộc trò chuyện ấy đang xảy ra. Tôi cảm thấy không tin tưởng mẹ tôi. Bà hiền hậu hơn cha tôi và tôi và dễ tin người hơn, nhưng đồng thời bà cũng rất hay thay đổi, và bạn không thể biết được lý do thực sự nằm dưới những lời nói hoặc hành động của bà. 


Tôi biết bà yêu tôi, sẵn sàng ngồi thức cả đêm để may cho tôi một chiếc váy cầu kỳ mà tôi thích để tôi mặc vào buổi khai trường, nhưng mặt khác bà cũng chính là kẻ thù của tôi. Lúc nào bà cũng có mưu kế gì đó. Hẳn khi nói chuyện với cha tôi là trong đầu bà đã có sẵn một kế hoạch bắt tôi ở trong nhà phụ việc cho bà nhiều hơn, mặc dù bà biết tôi ghét điều đó (hay chính vì bà biết điều đó nhỉ) và không cho tôi phụ việc cho cha tôi nữa. Dường như bà làm vậy chẳng qua là vì thích thế, để thử sức mạnh của mình. Tôi chẳng bao giờ nghĩ ra rằng có thể bà cũng cô đơn chăng, hoặc ghen tỵ với cha tôi. Làm gì người lớn nào lại cô đơn hay có gì để ghen tỵ nữa; họ đã quá may mắn rồi còn gì. Tôi ngồi đó lấy gót chân đá đá vào một bao thức ăn gia súc khiến bụi bay mù mịt, và cứ ở mãi trong nhà kho cho đến khi mẹ tôi đã đi hẳn.

 

Dù sao đi nữa, tôi  cũng  không nghĩ rằng cha tôi sẽ chú ý đến những lời của mẹ tôi. Ai mà tưởng tượng nổi thằng Laird lại làm công việc của tôi – thằng  Laird ấy mà mong nó khóa cổng, hoặc rửa sạch các đĩa đựng nước cho cáo bằng cách dùng một cái que đầu có buộc một túm lá để cọ cho cẩn thận như tôi vẫn làm, hoặc thậm chí đẩy được cái xe chở nước mà không làm cho xe đổ nhào ư? Rõ ràng là mẹ tôi chẳng hiểu gì về những công việc ở trại nuôi cáo này.

Thứ Ba, 5 tháng 11, 2013

Con gái, con trai (Alice Munro, PA dịch): Kỳ 2

Kỳ 1 ở đây: http://bloganhvu.blogspot.com/2013/11/con-gai-con-trai-truyen-ngan-cua-nha.html
-------------


Khi chưa bị giết để lấy lông, bầy cáo sinh sống trong một thế giới mà cha tôi đã tạo ra cho chúng. Thế giới này được  bao quanh bởi một hàng rào bảo vệ cao, giống như một thị trấn thời trung cổ, có cổng được khoá vào ban đêm. Dọc theo các đường phố của “thị trấn” này là những cái chuồng to và chắc chắn. Mỗi chuồng có một cái cửa lớn cho phép một người lớn có thể bước vào chuồng, một thanh gỗ được treo bằng những sợi dây kẽm để bầy cáo có thể leo trèo và vận động, và một cái cũi – có lúc trông hơi giống một cái rương quần áo với các lỗ thông hơi – nơi bầy cáo có thể chui vào ngủ vào mùa đông và đẻ con. Những đĩa đựng thức ăn và nước uống cho bầy cáp được gắn vào những sợi dây kẽm sao cho có thể thay rửa từ bên ngoài. Những đĩa này được làm bằng lon thiếc cũ, còn thanh gỗ và cái cũi thì làm bằng những mảnh gỗ đầu thừa đuôi thẹo cưa ra từ những cây gỗ rừng. Tất cả mọi thứ đều gọn gàng và khéo léo, cha tôi là một người thích chế tạo mọi thứ không mệt mỏi; cuốn sách mà ông yêu thích nhất trên đời là cuốn Robinson Crusoe. Ông gắn thêm một cái thùng thiếc trên một chiếc xe cút kít để đưa nước vào chuồng nuôi cáo.  Đây là công việc của tôi vào mùa hè, khi ấy bầy cáo cần phải cho uống nước một ngày hai lần. Một lần vào khoảng từ chín đến mười giờ sáng, và lần sau là vào sau bữa ăn tối. Tôi hứng đầy nước vào trong  những cái thùng từ các máy bơm rồi đẩy chiếc xe qua sân đến chỗ chuồng nuôi cáo, dừng lại và đổ nước vào đầy những lon đựng nước dọc theo hai bên đường. Thằng Laird cũng đi theo tôi, tay cầm cái bình tưới cây mini màu xanh nhạt, được đổ nước đầy tràn miệng và lúc bước đi thì bình tưới đụng vào ống chân nó làm nước đổ ướt cả đôi giày vải. Bình tưới mà tôi cầm thì đúng là bình tưới thực sự, là bình mà cha tôi sử dụng, mặc dù tôi chỉ có thể xách đầy ba phần tư bình mà thôi.

  

Tất cả bầy cáo đều được đặt tên, tên của chúng được ghi lên trên một tấm thiếc và treo bên cạnh cửa. Chúng không được đặt tên vào đúng ngày được sinh ra, mà phải đợi sau khi chúng đã sống qua được một năm và được bổ sung vào bầy cáo giống. Những cái tên mà cha tôi hay dùng gồm có Prince, Bob , Wally, và Betty. Tôi thì hay đặt tên những tên như  Star, Turk, Maureen  hoặc Diana. Còn thằng Laird thì đặt tên mọt con tên Maude, lấy theo tên cô gái làm thuê cho chúng tôi khi cu cậu còn nhỏ, một con tên Harold lấy theo tên một đứa bạn ở trường, và con tên Mexico , tên này thì nó chẳng nói lý do tại sao .

  

Việc đặt tên như vậy không có nghĩa là chúng tôi xem bầy cáo như những con thú cưng, hoặc đại loại như thế. Cha tôi không bao giờ đi vào trong chuồng nuôi cáo, và ông đã hai lần bị nhiễm độc máu vì bị chúng cắn. Khi tôi mang nước đến cho bầy chồn, chúng chạy lên chạy xuống trên những con đường mòn mà chúng đã tự tạo trong chuồng, thỉnh thoảng có sủa lên một tiếng nhưng rất hiếm – chúng để dành tiếng sủa cho ban đêm , lúc ấy chúng cùng tru lên tạo ra một điệp khúc điên cuồng của cả bầy – nhưng chắc chắn là chúng sẽ nhìn tôi với  đôi mắt sáng quắc màu vàng hổ phách, khuôn mặt nhọn và trông thật hung ác. Những con cáo thật đẹp, chúng có hai cặp chân thon , cái đuôi dài trông thật quý phái, và dải lông sáng màu dọc trên lưng nổi bật trong bóng tối – nhưng đặc biệt nhất là khuôn mặt của chúng,bộc  lộ vẻ thù địch rõ ràng, và cả đôi mắt màu vàng nữa.

------
Đăng tiếp chiều  6/11/2013


Ngoài việc  mang nước cho bầy cáo tôi còn phụ cha tôi cắt cỏ mọc ở 2 bên chuồng cáo,  xẻ thịt cừu hoặc cắt lấy túi xạ hương.  Ông dùng một  lưỡi hái để cắt  cỏ còn tôi thì cào lại  thành đống . Sau đó, ông lấy một chĩa ba để  ném xúc và quăng đám cỏ mới cắt lên trên nóc chuồng cừu để giữ mát chuồng và che nắng để tránh cho bộ lông cáo không bị nắng quá nhiều để khỏi bị ngả màu nâu  sạm. Cha tôi hầu như không bao giờ nói chuyện với tôi, nếu không kể những trao đổi về chính công việc đang làm. Ở điểm này ông không giống mẹ tôi chút nào, vì khi nào mẹ tôi vui bà sẽ chia sẻ với tôi đủ thứ chuyện – kể  về con chó mà bà đã nuôi hồi bà còn nhỏ,  về  mấy người bạn trai  mà bà đã từng hò hẹn khi lớn hơn mộ tchút,  và về những bộ váy đầm mà bà đã từng diện, trông chúng như thế nào – rồi bà tự hỏi, những người xưa cảnh cũ ấy bây giờ ra sao rồi. Còn cha tôi thì nếu ông có suy nghĩ gì cũng chỉ giữ cho riêng mình, tôi rất nhát với ông và không bao giờ dám hỏi ông bất cứ câu hỏi nào. Tuy nhiên, dưới mắt ông tôi là một đứa bé luôn làm việc một cách hăng hái, và ông khá hãnh diện về điều đó. Có lần có một nhân viên bán hàng thực phẩm gia súc đi xuống khu chuồng nói chuyện với cha tôi và ông bảo: "Tôi muốn giới thiệu với anh người  nhân viên phụ việc mới của tôi”. Tôi đỏ mặt quay đi, giả vờ bận rộn cào cỏ, nhưng cảm thấy  lòng vui rộn rã.

   
"Tôi suýt nhầm đấy." Người nhân viên bán hàng nói . "Tôi cứ tưởng nó là con gái  đấy chứ.”


Khi đã xong đợt cắt cỏ, trời bỗng như vừa chuyển sang cuối năm thật nhanh. Tôi bước trên đám gốc cỏ vào lúc chiều tà và nhận ra màu trời đỏ úa  trong bầu không khí lặng lẽ của mùa thu. Khi tôi đẩy chiếc xe chở nước ra khỏi cổng và móc  khóa lại để khóa cổng, trời đã tối hẳn . Có một lần cũng vào thời điểm này tôi thấy mẹ tôi cùng cha tôi đứng nói chuyện trên dải đất nhỏ nhô lên mặt đất mà chúng tôi gọi là “đường băng”, ngay trước  cái kho chứa dụng cụ. Cha tôi vừa từ lò mổ ra , vẫn  còn mặc cái tạp dề bê bết máu, tay cầm một cái xô đựng thịt vừa mới được mổ ra.


(còn tiếp)

Con gái, con trai (truyện ngắn của nhà văn đoạt giải Nobel 2013, PA dịch): Kỳ 1

Ít lâu nay tôi bắt đầu tìm đọc Alice Munro, người mới đoạt giải Nobel vào tháng 10 vừa qua. Truyện đầu tiên tôi tìm được và đọc là truyện Day of the Butterfly, được cho là truyện ngắn đầu tay của bà, viết từ thập niên 50. Truyện ấy tôi đã chuyển cho một người bạn đồng nghiệp để dịch (chắc sắp đăng ở đâu đó, các bạn chờ đọc nhé!) Chỉ truyện đầu tay thôi đã thấy khá thú vị. Tác giả viết rất tỉ mỉ và tinh tế, chỉ từ những chuyện lặt vặt mà khắc họa nhân vật và tâm lý rất rõ nét và đặc sắc. 

Tuy nhiên, khi đọc và dịch câu truyện ngắn mà tôi đang sắp đăng một phần lên đây thì tôi mới thực sự thấy rõ tài năng của Munro. Qua giọng văn của bà, một xứ sở Canada lạnh lẽo băng giá, với những thói quen, phong tục, lối sống, và tâm lý nhân vật được mô tả bằng một nét vẽ rất chi tiết, khéo léo, lôi cuốn và có duyên thầm. Truyện Boys and Girls được cho là đã viết khoảng đầu thập niên 1960, đăng báo ở Canada như một truyện ngắn độc lập, sau đó được đưa vào tuyển tập Dance of the Happy Shades và in ở Mỹ năm 1968. Thông tin ở đây, nhưng cần được kiểm chứng lại cho chính xác: http://answers.yahoo.com/question/index?qid=20101018150227AArqLGP.

Xin giới thiệu với các bạn phần đầu tiên của câu truyện mà tôi đang dịch. Vì dịch tùy hứng nên không biết bao giờ mới xong, tuy nhiên dù chỉ đọc từng phần các bạn cũng sẽ cảm nhận được cái hay của ngòi bút nhà văn nữ mà giờ đây đã ngoài 80 tuổi của xứ sở xa xôi ấy.

Enjoy các bạn nhé!

PS: Những chỗ in đậm là tôi mới sửa hoặc thêm vào theo góp ý của một người bạn.
---------------
Cha tôi làm nghề nuôi cáo để lấy lông. Công việc của ông là nuôi những con cáo lông bạc trong chuồng, và khi trời sang mùa thu hoặc vào đầu đông, khi lông của chúng dày dặn nhất thì ông giết chúng và lột da bán cho Công ty Hudson Bay hoặc Công Montreal Fur Trader. Hai công ty này tặng lại cho gia đình chúng tôi những lịch có hình các vị anh hùng, chúng được treo hai bên cửa nhà bếp, mỗi bên  một tấm.  Trên bầu trời xanh thẫm có sắc lạnh, cánh rừng thông đen và các con sông phía bắc với vẻ bí hiểm, nổi bật những lá cờ của Anh và của Pháp bay phất phới như chùm lông trên đầu những con công sặc sỡ; và những tên mọi với thân hình tuyệt đẹp đang còng lưng khuân vác trên bến cảng.

Vài tuần trước lễ Giáng sinh, cha tôi bắt đầu công việc lột da cáo sau bữa ăn tối trong tầng hầm của ngôi nhà. Căn hầm sơn trắng, được chiếu sáng bởi một bóng đèn trăm watt trên mặt tấm phản nơi cha tôi làm việc. Tôi và thằng em trai tên Laird ngồi trên bậc thềm cao nhất để xem cha tôi làm việc. Cha tôi lộn ngược lớp da và lông bên ngoài và lôi thân mình con cáo ra khỏi bộ da, và giờ đây trông nó nhỏ bé một cách thảm hại như con chuột khi không còn khoác lên bộ lông dày dặn ngạo nghễ kia nữa. Những cái mình bị lột da trơ trụi và trơn ướt bị nhét vào trong một bao tải và chôn vùi trong các bãi chứa rác. Có lần chú thợ làm thuê cho cha tôi, chú Henry Bailey, đã giỡn với tôi bằng cách quẳng cái bao tải nặng trịch ấy cho tôi và bảo: "Quà Giáng sinh đây!" Mẹ tôi thấy việc ấy chẳng có gì đáng buồn cười cả. Thực ra, bà không ưa toàn bộ cái nghề lột da thú của cha tôi – chỉ toàn là những gì giết mổ, lột da, và làm sạch lông thú – và luôn mong muốn công việc ấy được đem đi nơi khác chứ không để ở trong nhà. Vì nó có mùi. Sau khi tấm da đã được căng ra trên một tấm phản dài, cha tôi còn phải thực hiện việc làm sạch bộ lông bằng cách tỉ mẩn cạo đi những cục máu đông nhỏ li ti dính trên lông, những hạt mỡ còn dính sát ở lớp da; lúc ấy toàn bộ ngôi nhà đều bị ám mùi máu và mỡ động vật và như mùi lông nồng nặc hoang sơ của loài cáo. Nhưng tôi lại thấy những mùi ấy có một vẻ gì đó rất đặc trưng của mùa thu và làm tôi yên lòng, cũng giống như mùi cam và mùi lá thông vậy.

Chú Henry Bailey bị bệnh phế quản mãn tính. Chú thường lên cơn ho từng tràng không dứt cho đến khi khuôn mặt dài ngoẵng của chú đỏ lên, đôi mắt màu xanh nhạt với ánh nhìn hơi chế giễu của chú thì ràn rụa nước mắt; khi hết cơn ho, chú mở cái nắp đậy lò than lên và khạc vào đó một cục đờm to với một tiếng xèo đúng ngay vào tâm ngọn lửa. Chúng tôi rất ngưỡng mộ chú vì cái trò này, cũng như cái tài làm cho dạ dày của chú sôi lên ùng ục theo ý muốn, và cả tiếng cười của chú nữa, đó là một tiếng cười lúc thì the thé như huýt sáo lúc thì ại vừa khùng khục như tiếng nước ngầm và làm lay động tất cả những bộ phận nằm trong lồng ngực của chú. Đôi khi chúng tôi không sao đoán được chú đang cười cái gì, và rất có thể những lúc ấy chú đang cười chính chúng tôi.

Sau khi đã lên giường đi ngủ chúng tôi vẫn còn có thể cảm nhận được mùi của cáo và vẫn nghe được tiếng cười của chú Henry, nhưng lúc này những thứ ấy – những cái nhắc nhở chúng tôi về một thế giới ấm áp, an toàn và rực sáng ở phía dưới chân cầu thang – bỗng trở nên lạ lẫm và co lại, nổi lềnh bềnh trong bầu không khí lạnh lẽo của tầng trên. Vào mùa đông, chúng tôi thường cảm thấy sợ khi đêm đến. Không phải chúng tôi sợ khi ở bên ngoài, mặc dù đây là thời gian trong năm khi những đống tuyết bao quanh ngôi nhà của chúng tôi như con cá voi đang ngủ và gió thét gào quấy rối chúng tôi suốt đêm, những cơn gió đến từ các bãi tha ma, các đầm lầy bị đóng lại thành băng, cùng những điệp khúc của các loại côn trùng nghe vừa đầy vẻ đe dọa lại vừa thê lương.  Mà chúng tôi sợ khi ở trong nhà, ngay trong căn phòng nơi chúng tôi đang ngủ. Vào lúc ấy tầng trên ngôi nhà của chúng tôi chưa hoàn tất. Có một ống khói bằng gạch nhô ra trên tường. Ở giữa sàn nhà là khoảng trống hình vuông, có khung gỗ bao quanh, đó là nơi sẽ dựng cầu thang. Ở phía bên kia của cầu thang là nơi chứa những đồ cũ mà không còn ai dùng đến – một cuộn vải sơn dùng trong quân đội được dựng đứng ở một góc,  một chiếc giỏ cắm hoa, vài chiếc bình và chậu sứ bị nứt, một bức tranh về trận chiến Balaclava  trông rất thê lương. Tôi đã từng nói với Laird, ngay khi thằng bé vừa đã đủ lớn để hiểu được những điều như vậy, rằng trong chỗ ấy có toàn là dơi và những bộ xương người; bất cứ khi nào có người người tù trốn thoát từ nhà tù cách đó hai mươi dặm, tôi lại tưởng tượng ra rằng ông ta đã bằng cách nào đó bước qua cánh cửa sổ và trốn đằng sau cuộn vải sơn kia. Nhưng chúng tôi cũng tự đặt ra những luật lệ để giữ an toàn cho mình. Chừng nào còn bật đèn thì chúng tôi vẫn còn an toàn miễn là chúng tôi không ra khỏi tấm thảm hình vuông xác định phần không gian của phòng ngủ chúng tôi. Khi đèn đã tắt, thì không còn nơi nào là an toàn nữa cả, chỉ trừ cái giường mình đang nằm mà thôi.  Khi cần tắt đèn, tôi không hề dám đặt chân xuống sàn nên phải quỳ ở đầu giường và với tay hết cỡ để nắm được dây kéo công tắc đèn.

Trong bóng tối, chúng tôi nằm trên chiếc giường mà lúc ấy đối với chúng tôi đã trở thành chiếc bè cứu sinh có khổ hẹp, mắt dán vào ánh đèn mờ hắt lên từ phía cầu thang, và cất tiếng hát. Thằng Laird thì hát bài "Jingle Bells", bài hát mà nó hát bất cứ lúc nào dù có là Giáng sinh hay không, còn tôi thì hát "Danny Boy". Tôi thích nghe giọng hát của chính mình, yếu ớt và có vẻ khẩn khoản, vang lên trong bóng đêm. Chúng tôi lờ mờ nhìn thấy những cái bóng cao cao phủ đầy tuyết qua các khung kiếng cửa sổ, trắng toát và ảm đạm. Khi tôi hát đến câu, Khi tôi chết đi, chết im lìm một cây khô –  người tôi bỗng run lên, không phải vì hơi lạnh từ tấm chăn, mà vì cảm xúc khiến tôi gần như lặng đi. Người sẽ quỳ xuống và đọc lời Ave trên xác thân tôi. Lời Ave là cái gì ấy nhỉ? Ngày nào tôi cũng tự nhủ phải tìm hiểu, và ngày nào tôi cũng quên.

Thằng Laird hát say sưa rồi lăn ra ngủ khò, tôi có thể nghe được tiếng thở sâu và vang của nó, nghe rất thoải mái. Bây giờ là thời gian chỉ dành cho riêng tôi, thời gian riêng tư nhất và có lẽ là tốt nhất của cả ngày, tôi cuốn mình thật chặt trong tấm chăn và tiếp tục những câu chuyện mà tôi thường tự kể cho mình hàng đêm. Những câu chuyện này nói chính tôi, nhưng là vào khi tôi đã trưởng thành hơn một chút; chúng diễn ra trong một thế giới rõ ràng là quen thuộc của tôi như tôi vẫn biết, nhưng trong đó lại tồn tại những cơ hội cho tôi bày tỏ lòng dũng cảm, sự táo bạo, và những hy sinh mà thế giới hiện nay của tôi không hề có. Tôi cứu người từ một tòa nhà bị đánh bom (tôi cảm thấy thật thất vọng là cuộc chiến thực sự đã kéo dài quá xa kể từ Năm Thánh[1]). Tôi bắn hai con sói dại đang nhe răng đầy vẻ đe dọa ở sân trường (trong khi các giáo viên thì co rúm lại sợ hãi núp sau lưng tôi) . Tôi cưỡi một con ngựa mạnh khỏe đầy phấn chấn chạy xuống các đường phố chính của Năm Thánh, thừa nhận lòng biết ơn của dân làng đối với một số hành động anh hùng nào đó mà tôi còn chưa biết rõ (chưa có ai bao giờ cưỡi ngựa chạy trên con đường đó, trừ vua Billy trong cuộc diễu hành của ngày Lễ Orangemen[2]). Trong những câu chuyện tưởng tượng của tôi luôn có cảnh cưỡi ngựa và bắn súng, mặc dù tôi chỉ mới ngồi trên lưng ngựa có 2 lần thôi – lần đầu tiên thì không có yên ngựa, còn lần thứ hai thì tôi bị trượt ngã ngay chân con ngựa, và nó đã rất điềm tĩnh bước qua người tôi mà không giẫm lên tôi. Tôi cũng đang học bắn đấy, nhưng chưa bắn trúng bất cứ cái gì, thậm chí không bắn trúng nổi những cái lon thiếc dựng trên hàng rào.

(còn tiếp)

Nhân tiện, các bạn nghe lời phỏng vấn Munro ở đây nhé, cuộc phỏng vấn cách đây 5 năm: http://www.newyorker.com/online/blogs/books/2013/10/talking-with-alice-munro.html

Chủ Nhật, 3 tháng 11, 2013

Tư liệu lịch sử: Một bài báo của Phan Khôi năm 1935 viết về Ngô Đình Diệm

Ngày 2/11/2013 vừa qua là ngày kỷ niệm 50 năm vị cố Tổng thống VNCH, ông Ngô Đình Diệm, qua đời. Nhân dịp này nhiều tư liệu lịch sử đã được mọi người đào bới lên và chia sẻ, thảo luận rôm rả trên các mạng xã hội, đặc biệt là fb.

Và trong đống ngổn ngang đó, tôi tìm được một tư liệu lịch sử quý mà tôi chưa bao giờ biết. Đọc  xong, vội đem về đây cất, để khi nào có dịp còn đọc lại và ngẫm nghĩ. 

Nghĩ về những bài học mà lịch sử đau thương của VN đã để lại, và mong rằng những bài học đó được người dân VN hiểu rõ để mà còn ứng xử cho đúng cách.

Vì những gì chúng ta gieo ngày hôm nay, chính chúng ta sẽ gặt lại ngày mai.
-----------
MỘT BÀI BÁO CỦA PHAN KHÔI NĂM 1935
VIẾT VỀ NGÔ ĐÌNH DIỆM
            Năm 1935, khi Phan Khôi (1887-1959) đang làm Chủ bút báo Tràng An ở Huế, ông có viết bình luận nhân sự kiện Triều đình Huế, dưới thời vua Bảo Đại, đã có 2 quyết định liên quan đến Ngô Đình Diệm: cách chức, sau đó khai phục chức Thượng thư cho ông ta. Trong lời bình luận, Phan Khôi lưu ý đến các phương diện khí tiết của người làm quan và “tâm thuật” của sĩ phu trước các quyết định của triều đình.
            Bài này có in trong tập: Phan Khôi, Tác phẩm đăng báo 1935 /Lại Nguyên Ân sưu tầm, biên soạn/ Nxb. Tri Thức, Hà Nội, phát hành tháng 10/2013.
            Xin giới thiệu cùng bạn đọc.
LẠI NGUYÊN ÂN


  
MỘT VIỆC RẤT CÓ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TÂM THUẬT CỦA SĨ PHU
CÁCH CHỨC VÀ KHAI PHỤC ÔNG NGÔ ĐÌNH DIỆM
            Ngót hai năm, từ hồi Nam triều có sự thay đổi cả việc lẫn người trong các bộ, người ta quen gọi là “cuộc cải cách ngày 2 Mai 1933”, đến nay, những việc do cuộc cải cách ấy làm ra có gì khá hơn trước chăng, − Ấy là một đầu đề tốt lắm, chúng tôi đã chọn để có ngày sẽ viết đến. Hôm nay, từ trong cuộc cải cách ấy chúng tôi lấy ra một việc mà bàn, việc tuy đã nguội, song vừa rồi nhờ một lá Sắc của nhà vua nó trở nên sốt dẻo. [a]
            Chưa nói đến hết thảy những việc trong cuộc cải cách, thoáng qua một cái, chúng tôi thấy hình như cũng chỉ có việc chúng tôi sắp bàn đây là lớn hơn hết, vì nó có ảnh hưởng đến tâm thuật của sĩ phu.
            Việc cách chức và khai phục nguyên hàm ông Ngô Đình Diệm.

***

            Ông Ngô Đình Diệm, năm 1933, vì sao mà bị cách chức? Trong đó có cái cớ chánh và cái cớ phụ. Người ngoài chỉ biết được cái cớ phụ mà thôi, tức như cái điều đăng trên các báo lúc bấy giờ: ông Ngô đã bội lời ước với Triều đình, đem những việc bí mật mình đã hứa giữ mà tuyên bố cùng một nhà báo nào đó.
            Tuy vậy, chỉ một cớ phụ ấy thôi, ông không đến nỗi bị như thế. Phải có cái cớ chánh, chính bởi cớ này mà ông từ chức Thượng thơ, rồi mới nhân cái lỗi bội ước là cái lỗi nhỏ mà bị cách chức.
            Nếu cái cớ phụ là sự bội ước đã là cái lỗi nhỏ không đủ cách chức ông Ngô Đình Diệm được, vậy thì sự cách chức ông ấy, ta có thể nói được rằng trực tiếp bởi cái cớ chánh gây ra.
            Cái cớ chánh, từ bấy đến giờ, Triều đình giữ bí mật, ngoại gian không có ai biết được cả. Không biết là không biết cho tường tế, chứ người ta đoán phỏng rằng vì “chánh kiến bất đồng” hay là vì “trái ý bề trên” thì tưởng cũng cọ bia.[b]
            Chỉ vì một chút chánh kiến bất đồng mà đành phủi áo đứng dậy, bỏ ngôi Thượng thơ, rồi nhân đó đến bị phế truất, ấy thật là cái cao tiết của ông Ngô Đình Diệm, 50 năm nay mới có một người! Nhưng nếu ông chỉ từ chức mà thôi, không bị cách chức, thì cái cao tiết ấy e rồi cũng đến mai một đi mà không ai biết. Cho nên, sự cách chức hồi đó làm cho ông Ngô lẫy tiếng bao nhiêu, càng đáng cho ta để ý bấy nhiêu.

***

            Thật, chúng tôi nói 50 năm nay mới có một người như ông Ngô Đình Diệm, không phải là nói quá. Thì từ triều Thành Thái về sau, hỏi có ông đại thần nào có cái thái độ rắn rỏi lấy một chút không? Chúng tôi thấy lắm kẻ đã già rồi, đôi khi bị quở bị rầy nữa mà cũng chịu khó kiếm đủ cách để giữ lấy ngôi. Dù giống gì người ta cũng cứ lăn vào, còn ai kể tới chánh kiến đồng hay không đồng, hiệp cùng chẳng hiệp? Mà than ôi! Có gì đâu để được gọi là chánh kiến!
            Chỗ miếu đường đã thế nên thảo dã cũng hòa theo. Hầu hết đám người có học ít nhiều chỉ biết lấy phú quý lợi lộc làm cái đích cho đời mình mà không biết nhân cách của mình là đáng trọng. Bởi vậy, trong bức thư ông Phan Châu Trinh đưa cho chánh phủ Pháp hồi đó, ông có nói câu này mà không dè dặt chút nào hết: “Sĩ phu nước Nam, cái lòng liêm sỉ của họ đã mất hết rồi!”
            Trong cái xã hội sĩ phu đó, có sự cách chức ông Ngô Đình Diệm, khác nào một tiếng nổ to, đánh thức dậy hết thảy. Nghe tiếng nổ ấy tất họ phải đi tìm cho biết cái con người Ngô Đình Diệm thế nào. Sau khi biết con người ấy chỉ vì chút chánh kiến bất đồng mà dám vứt bỏ số lương tháng bốn trăm luôn với bộ áo chầu nhị phẩm, ít nữa họ cũng ngó lại con người của họ mà sinh lòng hổ thẹn: sao ông Ngô Đình Diệm dám bỏ đến cái nhị phẩm mà mình lại cúi luồn lạy lục để xin lấy cái cửu phẩm!
            Nó có ảnh hưởng đến tâm thuật sĩ phu là thế. Một viêc rất tốt! Một việc rất có bổ ích cho thế đạo nhân tâm.
***     
Bài này không cốt bàn về chánh trị, cho nên trên kia có nói tới chánh kiến bất đồng mà chúng tôi không nói đến bên nào dở bên nào hay. Tuy vậy ta nên biết rằng trong trường chánh trị thường có lúc hai cái chánh sách đồng có giá trị như nhau mà phải lấy cái này bỏ cái kia, ấy là tùy theo hoàn cảnh, tùy theo tình thế. Nếu cái hoàn cảnh ấy đổi đi, cái tình thế ấy không còn nữa, bấy giờ cái chánh sách bị bỏ sẽ được phục lại cái giá trị của nó chưa biết chừng.
            Có lẽ vì đó mà nay ông Ngô Đình Diệm được khai phục nguyên hàm. Sự khai phục này hoặc có hàm một cái ý nghĩa rằng cái chánh kiến của ông Ngô là không phải dở, cũng không phải trái nhau với cái chánh kiến khác đến cực đoan.
            Lại nữa, sự khai phục này cũng rất có ảnh hưởng đến sĩ phu như lần trước. Có nhiều người bình nhật giữ một cái ý kiến nào hay một cái thái độ nào, rủi vì đó thất bại, rồi họ đành bỏ hay đổi cái ý kiến ấy, cái thái độ ấy. Ông Ngô Đình Diệm từ khi thất bại (nói vậy đó thôi) đến nay vẫn ôm luôn lấy cái cao tiết ấy mà không hề sai chạy. Rồi ngày nay tự nhiên ông được trả lại phẩm tước cũ, ngoài sự khấn ba cái tạ ơn, ông chẳng hề tốn một tiếng nói nào với ai. Như thế há chẳng phải bồi đắp thêm cái lòng tự trọng cho mọi người? 
            Cải cách! Cải cách! Cải cách mà gặp hồi kinh tế khủng hoảng này, đừng nói không làm, làm mà sổ dự toán không cho phép, thì phỏng còn kết quả gì hay? Tuy vậy, ước gì được nhiều việc như việc đối với ông Ngô Đình Diệm đây, nhà ngôn luận chúng tôi có tiếc gì mà không ca tụng?
            “Sĩ phu liêm sỉ chi đạo táng”, chính câu ông Phan Châu Trinh nói như thế. Con người mất cả liêm sỉ là con người bỏ; huống chi cả một đám người mất cả liêm sỉ, mà còn mong gì được ư?
            Nhờ ông Ngô Đình Diệm vớt lại nhiều ít, nhờ sự cách chức và khai phục ông Ngô Đình Diệm vớt lại nhiều ít, họa may cái lòng liêm sỉ của sĩ phu Việt Nam ngóp ngỏi dậy chăng?
PHAN KHÔI
Nguồn:
Tràng An, Huế, s. 9 (29 Mars 1935), tr. 1.
Chú thích
[a] Tràng an s. 8 (26 Mars 1935, tr. 1) đưa tin Cách viên được khai phục, cho biết ba đạo Sắc ra ngày 20 Mars 1935 khai phục cho một đại thần và hai ông quan đã bị cách từ năm Bảo Đại thứ 8, trong đó, kể từ ngày 20 Mars 1935, ông Ngô Đình Diệm được khai phục nguyên hàm và cho lại các huy chương đã được khi trước, theo đạo Dụ số 23.
[b] cọ bia: gần trúng, gần đúng.     

LNA gửi ngày 3-11-13