Thứ Ba, 9 tháng 10, 2012

Khi anh vừa tròn hai mốt tuổi...

Chẳng biết tại sao, trí nhớ nghịch thường của tôi hôm nay lại dẫn dắt tôi về một bài thơ mà tôi đã dịch cách đây hơn 30 năm rồi. Lúc ấy, tôi đang học khoảng năm hai, năm ba ở Khoa Ngữ văn nước ngoài của ĐH Tổng hợp (tức ĐH Văn Khoa cũ, bây giờ là ĐH KHXH-NV), đang học văn chương Anh-Mỹ, và rất thích dịch thơ (nếu không phải là tự làm - toàn là thơ con cóc).

Thơ dịch của tôi cũng nhiều nhiều, có bài hay, bài dở, nhưng chủ yếu chỉ làm vì mình thích, gửi vài ba người bạn đọc chơi, cho vui. Rồi quên, có khi là quên sạch, thường là chỉ nhớ lõm bõm vài câu. Nhưng lâu lâu cũng có những bài mà đến giờ tôi vẫn có thể nhớ trọn vẹn; thường là những bài thơ tôi rất thích, hoặc những bản dịch mà tôi rất hài lòng, hoặc nếu không nữa thì phải gắn với một kỷ niệm nào đó.

Bài "Khi anh vừa tròn hai mốt tuổi" là một trong những bài mà ngày xưa tôi rất thích. Hình như tôi đã dịch nó vào một dịp sinh nhật thứ hai mốt của tôi, khi ấy một người bạn của tôi đang trong tình trạng "lòng bận tơ vương", học hành có ít nhiều sa sút. Còn tôi, lúc ấy tôi vẫn còn hoàn toàn "ngây thơ", "hồn nhiên", chỉ biết cắm đầu cắm cổ học, khi nào rảnh không phải học thì lại tha thẩn đọc văn làm thơ, lòng không vướng bận chi cả. Nên thấy bài thơ đó rất hợp với những gì mình nghĩ, nghĩ về chính mình và nghĩ về bạn bè.

Hôm nay lại là ngày sinh nhật của một người bạn khác, một người ở rất xa ("khoảng cách là nửa vòng trái đất" - thơ của tôi đấy). Những người bạn tuổi thơ của tôi, từ thời trung học. Có thể chính vì thế mà tôi lại nhớ lại thuở xa xưa của mình, "khi Anh vừa tròn hai mốt tuổi" (từ "anh" ở đây cần phải viết hoa, vì đó là Phương Anh đấy mà). Một thời hoa mộng, thấm thoát đó mà đã hơn 30 năm.

Chép lại ở đây để khỏi quên, và cũng là để gửi đến những người bạn tuổi thơ của tôi, để nhớ lại một thời của chúng ta, "khi mới lớn tuổi mười lăm, mười bảy/làm học trò mắt sáng với môi tươi". Và Happy Birthday, bạn  nhé!

Khi anh vừa tròn hai mốt tuổi

Khi anh vừa tròn hai mốt tuổi
Một nhà thông thái đã khuyên anh
Hãy cho đi tiền bạc, tiền đồng
Đừng cho đi trái tim quý giá
Hãy cho đi ngọc ngà, châu báu
Nhưng giữ lòng đừng bận tơ vương 
Ôi, lời ông nói ích chi đâu
Khi anh chỉ vừa hai mốt tuổi?

Khi anh vừa tròn hai mốt tuổi
Cũng nhà thông thái ấy khuyên anh
Một khi đã hiến trái tim mình
Anh sẽ gặp biết bao sầu muộn
Tiếng thở dài muôn đời không ngớt
Và nỗi buồn trọn kiếp khôn nguôi
Giờ anh hai hai tuổi mất rồi
Mới hiểu trọn những lời ông nói.


Bản gốc tiếng Anh dưới đây:

When I was one-and-twenty
 A. E. Housman (1859–1936).
WHEN I was one-and-twenty
  I heard a wise man say,
‘Give crowns and pounds and guineas
  But not your heart away;
Give pearls away and rubies        5
  But keep your fancy free.’
But I was one-and-twenty,
  No use to talk to me.

When I was one-and-twenty
  I heard him say again,        10
‘The heart out of the bosom
  Was never given in vain;
’Tis paid with sighs a plenty
  And sold for endless rue.’
And I am two-and-twenty,        15
  And oh, ’tis true, ’tis true.

Thứ Hai, 8 tháng 10, 2012

Cái giá của sự thật

Tôi đang trong lúc bận quá, không định viết gì. Nhưng lại vừa đọc được một mẩu tin khiến tôi không thể không viết. Để thổ lộ một chút những gì đã chất chứa sẵn trong lòng tôi lâu nay.

Số là, hầu hết tất cả những người biết tôi ở nơi làm việc (tức là những người khác với bạn bè thời đi học, hoặc gia đình và hàng xóm - những người này thì biết về một cái tôi khác, dễ thương hơn nhiều) đều cho tôi là một kẻ rất khó chịu. Tôi nhớ khi chuyển sang nơi làm việc mới hiện nay, thì các sếp mới có hỏi một người đồng nghiệp biết tôi ở trường cũ, hỏi tôi là người như thế nào. Và chị đồng nghiệp ấy đã trả lời 2 câu: "Nó được việc lắm đấy, và nó đã làm mích lòng rất nhiều người".

Tôi biết điều này vì sau ấy chị bạn đồng nghiệp đã kể lại cho tôi nghe. Tôi ... hơi ấm ức (vì thấy mình cũng ... tốt bụng mà!) nhưng cũng phải thừa nhận là chị ấy nói đúng, thậm chí chính xác không chạy vào đâu được.

Nhưng nguyên do của tất cả việc "làm mích lòng nhiều người", đôi khi đến độ không còn nhìn mặt nhau nữa, và căng thẳng, khó chịu đến độ phải bỏ đi nơi khác để làm việc (tôi nổi tiếng là hay từ chức, bỏ đi làm việc khác vì không hài lòng với bối cảnh làm việc hiện có) chỉ có một thôi, đó là: tôi luôn nói đúng những gì mình nghĩ, dù điều đó có thể đụng chạm đến ai đó - đồng nghiệp, hoặc thậm chí cấp trên. Nhưng tôi chẳng có ý đồ gì ngoài việc muốn cho công việc tốt lên mà thôi. Nói ra để mọi người thấy và thay đổi cho tốt hơn, thì đâu có hại gì ai đâu, tôi nghĩ thế. Chứ biết mà không nói, chỉ vì sợ đụng chạm, chỉ muốn yên thân, "cháy nhà hàng xóm, bình chân như vại" thì ... còn ra thể thống gì nữa cơ chứ?

Đấy là tôi nghĩ vậy. Ngây thơ cụ quá phải không,  vì thực ra trên đời không phải lúc nào người ta cũng thích nghe sự thật. Nói đúng hơn, đa số người ta không thích thậm chí căm thù sự thật. Well, ở nơi khác thì tôi không có kinh nghiệm nên không biết, nhưng ở VN thì chắc chắn là như thế. Thì đó, vụ nhà báo Hoàng Khương vẫn còn rành rành ra đó, hoặc gần đây hơn nữa là vụ mấy blogger. Những người đó, có lẽ họ cũng chỉ muốn có một điều thôi, đó là tìm ra sự thật, hoặc nói lên sự thật. Và kết cục như thế nào đã quá rõ.

Bản thân tôi cũng đã rút ra được khá nhiều bài học kinh nghiệm về việc muốn biết và muốn nói sự thật. Giá chót: ai cũng ghét mình, và mình cũng ghét người ta, rõ quá rồi, vì chẳng có ai thích bị người khác ghét cả. Nên phải bỏ đi nơi khác. Được cái tôi cũng không quá kém cỏi, đi đâu cũng làm việc được, nên tìm nơi để bỏ đi cũng khá dễ dàng. Nhưng chẳng lẽ cứ bỏ đi mãi, cứ bắt đầu lại mãi như vậy sao, một người bạn khác của tôi hỏi tôi như vậy.

Và ... tôi không trả lời được. Ừ, người ta có thể nhận tôi ở tuổi 30, tuổi 40, ở tuổi 50 even, nhưng tôi không tin là người ta sẽ sẵn sàng nhận tôi ở tuổi 55, tuổi 60, tuổi 70 vv nếu như ở chỗ nào tôi cũng "nói không sợ mích lòng", sẵn sàng "phát biểu gây shock", "đanh đá" như mọi người vẫn nói về tôi như vậy.

Vậy mà hôm nay, lại có một người cũng muốn đi tìm sự thật, lại còn phát biểu là sẵn sàng trả giá cho nó. Người ấy là thạc sĩ Nguyễn Huỳnh Thuật, người đã gửi tâm thư lên chủ tịch nước để đề nghị cứu Rừng quốc gia Cát Tiên khỏi dự án thủy điện. Và hậu quả (đương nhiên mà ai cũng đoán được) đang bắt đầu xảy ra với anh. Đầu tiên là bị cơ quan kiểm điểm, bị kỷ luật khiển trách. Vậy mà anh Thuật vẫn còn phát biểu là anh ấy chấp nhận trả giá chứ không rút lại lời đề nghị của mình. Các bạn có thể đọc sơ sơ về việc ấy ở đây: http://nld.com.vn/2012100810313242p0c1042/vu-gui-tam-thu-len-chu-tich-nuoc-dung-lam-kho-nguoi-co-tam.htm.

Hay lắm anh Thuật ạ. Hoan hô anh, và mong anh chân cứng đá mềm, và cuộc đấu tranh của anh sẽ đem lại một kết cục tốt đẹp. Mặc dù tôi cũng không tin lắm vào điều đó. Mà chỉ lo ngại cho anh thôi. Lo vì những hậu quả xấu có thể đang rình râp anh, biết đâu được đấy?

Vì tôi sực nhớ có một câu danh ngôn nước ngoài khá nổi tiếng mà tôi đã đọc được ở đâu đấy: "Nắm được sự thật, ta có thể đi đến bất cứ nơi đâu, kể cả vào tù".

Nhưng ... dù biết như vậy, nhưng may quá là trên thế giới vẫn còn những người sẵn sàng trả giá để nói lên sự thật. Và may hơn nữa là ở VN cũng không hề thiếu những người như vậy. "Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau, nhưng hào kiệt đời nào cũng có", đấy là lời của Nguyễn Trãi tự khi xưa, nhưng bây giờ vẫn đúng, kể cả ở đất nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thời nay, thời mà có ai đó đã thốt lên rằng "cả một thời giả dối đã lên ngôi".

Vậy nên, chúng ta vẫn có quyền hy vọng. Và anh Thuận vẫn có hy vọng, và vẫn còn đủ dũng khí để làm. Tôi chỉ mong anh không cô đơn trong cuộc đấu tranh của mình tại đơn vị. Hẳn là vẫn có những người khác âm thầm ủng hộ anh, dù họ không đủ dũng khí để làm giống như anh.

Chúc mọi việc tốt đẹp, anh Thuật nhé!

Thứ Bảy, 6 tháng 10, 2012

Tản mạn Le Pont Mirabeau


Xin giới thiệu với các bạn bài viết và bản dịch Le Pont Mirabeau của anh Hoàng Anh Dũng, người bạn thơ của tôi.
-----------------
Chiếc cầu là đề tài phổ biến trong Văn Chương. Người ta không thể nào biết chính xác có bao nhiều bài thơ, bài nhạc nói về chiếc cầu. Ở Việt Nam mình cũng vậy, có không biết cơ man nào là ca dao, tục ngữ, thơ, nhạc nói về cây cầu. Mấy câu  ca dao sau đây thì hầu như ai cũng thuộc:
     
Yêu nhau cởi áo cho nhau
Về nhà mẹ hỏi qua cầu gió bay
Hoặc là :
Qua cầu ngả nón trông cầu,
Cầu bao nhiêu nhịp, dạ em sầu bấy nhiêu

Và những người ở miền sông nước Tây Nam Bộ làm sao có thể quên được hình ảnh cảm động đầy nước mắt về người mẹ năm xưa và ngày ấu thơ của mình:

dầu cầu dzáng đóng đinh
Cầu tre lắc lẻo gập ghình khó đi
Khó đi mẹ dắc con đi
Con thi trường học, mẹ thi trường đời

Người miền Tây Nam Bộ có cách phát âm đặc biệt và ở trên là cách “ký âm ” theo đúng thực tế - chứ không phải theo đúng chính tả.Các bạn nhớ những từ này nhé : dí dầu, cầu dzáng,gập ghình, dắc  mà không phải là ví dầu, cầu ván,gập gềnh, dắt. Tôi có mấy người bạn lớn tuổi ở xa, mấy chục năm trở lại  miền Tây, chỉ nghe tiếng ru con, với đúng cách phát âm bài ca dao trên, mấy ông lão đầu bạc trắng đã ôm nhau khóc rưng rức ! Có mấy ông khóc nức nở ! Hôm đó, ai cũng rưng rưng nước mắt!

Đấy tình quê hương mạnh biết dường nào ! Tiếng Việt mạnh đến dường  nào!

Nói về nhạc, thì Việt Nam cũng có nhiều bài về cây cầu.Tuy nhiên bài Bên Cầu Biên Giới của Phạm Duy, giọng hát Thái Thanh, đối với tôi, quả là một tình ca tuyệt phẩm, về phần nhạc cũng như phần ca từ.Tuyệt tuyệt hay!  Tôi chép ra đây để các bạn cùng thưởng thức :

BÊN CẦU BIÊN GIỚI

Ngừng đây soi bóng bên giòng nước lũ
Cầu cao nghiêng dốc bên giòng sông sâu
Sầu vương theo sóng xuôi về cuối trời
Một vùng đau thương chốn làng cũ quê xưa

Người đi chưa hết vương sầu lữ thứ
Hồn theo cánh gió quên tình xa xưa
Tuổi xanh như lá thu rụng cuối mùa
Mộng về đêm đêm khát vừng trán ngây thơ

Em đến bên tôi một chiều khi nắng phai rồi
Nắng (ư) ngừng bên chiếc cầu biên giới
Xa xa thoáng đàn trầm vô tư
Đâu đây dáng huyền bền duyên xưa

Bên cầu biên giới
Tôi lặng nghe dòng đời từ từ trôi
Sông nước xa xôi,
Mây núi khắp nơi
Không tỏ một đôi lời ...

Ôi giấc mơ qua
Mộng đời phiêu lãng giang hồ
Sống trong lòng người đẹp Tô Châu
Hay là chết bên bờ sông Da - nube
Những đêm sáng sao

Nhưng đường quá xa vời
Hương trời vẫn mê mãi
Lòng tôi sao vẫn còn biên giới!
Lòng tôi sao vẫn ngừng nơi đây
Ôi dòng tóc êm đềm!
Ôi bể mắt đắm chìm!
Đời phong sương cũ, chỉ là thương nhớ
Mộng bền năm xưa
Chỉ là mơ qua …


Còn về thơ nước ngoài, tôi thấy có nhiều bài rất hay về chiếc cầu , nhưng nếu phải chọn ra một bài, thì tôi sẽ không ngần ngại chỉ ra ngay. Vâng ! đó chính là bài thơ   Le Pont Mirabeau !  Một bài thơ ra đời cách đây đã  99 năm ( 1913 ), là bài thơ đã đưa tác giả của nó lên vị trí số 1 thời đó.

Le Pont Mirabeau là bài thơ nổi tiếng nhất của nhà thơ người Pháp, Guillaume Apollinaire. Và cũng là một trong những bài thơ Pháp được yêu thích nhất trên toàn thế giới. Điều đó khẳng định rằng : Le Pont Mirabeau là một bài thơ hay !

Ở Việt Nam, Le Pont Mirabeau cũng là một trong những bài thơ được dịch nhiều nhất. Nhìn vào nguyên tác thấy có vẻ “ dễ ăn ”, nhưng sự thực là Le Pont Mirabeau vô cùng thâm trầm và hàm súc.

Chính vì vậy, nên tới nay, Le Pont Mirabeau vẫn không có nhiều bản dịch hay. Một số khá nhiều những bản dịch có những câu dịch nghe khá lạ tai, thí dụ : Tháng ngày trôi, đây vẫn còn anh, hay là câu : Quá khứ và tình yêu quay trở lại không còn. Hoặc là những câu dịch quá khó hiểu, mà có lẽ nhóm Xuân Thu Nhã Tập khi xưa cũng phải kính nể đôi phần.

Tôi tạm dừng đây để giới thiệu một vài câu thơ của nhà thơ Nguyễn Xuân Sanh trong nhóm đó :
    Quỳnh hoa chiều đọng nhạc trầm mi
                                                 Hồn xanh ngát chở dấu xiêm y
     Rượu hát bầu vàng cung ướp hương
                                                Ngón hường say tóc nhạc trầm mi
  
Tôi nghĩ chắc có nhiều độc giả phải buông lời cảm thán khi phải  “ đối diện ”với mấy câu thơ hiểu chết liền nêu trên.

Trở lại với bài thơ Le Pont Mirabeau, khi câu Des éternels regards l’onde si lasse, được dịch là : những đôi mắt đông kín với thời gian trôi trên dòng nước chậm , thì tôi nghĩ cũng không ít độc giả choáng váng trước tứ thơ mới lạ này. Tôi nghĩ Apollinaire muốn nói điều đơn giản hơn nhiều.

Bởi vậy, ở một góc độ nào đó, có thể nói rằng,ở Việt Nam, Le Pont Mirabeau vẫn đang là một thách thức, đang tiếp tục chờ đợi những người dịch mới, những bản dịch mới.

Nguyên tác bài thơ tiếng Pháp như sau :

Le Pont Mirabeau


Sous le pont Mirabeau coule la Seine
Et nos amours
Faut-il qu'il m'en souvienne
La joie venait toujours après la peine

Vienne la nuit sonne l'heure
Les jours s'en vont je demeure

Les mains dans les mains restons face à face
Tandis que sous
Le pont de nos bras passe
Des éternels regards l'onde si lasse

Vienne la nuit sonne l'heure
Les jours s'en vont je demeure

L'amour s'en va comme cette eau courante
L'amour s'en va
Comme la vie est lente
Et comme l'Espérance est violente

Vienne la nuit sonne l'heure
Les jours s'en vont je demeure

Passent les jours et passent les semaines
Ni temps passé
Ni les amours reviennent
Sous le pont Mirabeau coule la Seine

Vienne la nuit sonne l'heure
Les jours s'en vont je demeure

Guillaume Apollinaire

Hồi trung học, tôi và đám bạn mê bài này lắm. Tôi nhớ thầy Hòa dạy Pháp Văn giới thiệu cho chúng tôi bài này cùng với một số bài của Victor Hugo. Đọc thấy hay mà dịch nghe không suôn sẻ mấy. Thầy Hòa chỉ giải nghĩa thôi chứ thầy cũng không dịch trọn vẹn.

Hồi đó tôi có một người bạn làm gan dịch bài này đăng bích báo, một giáo sư chấm thi là thầy Nguyễn Khắc Trừng ( một người cậu họ của tôi, có lẽ là dịch giả Việt Nam đầu tiên dịch cuốn The Old Man And The Sea của  Ernest Hemingway ra tiếng Việt ), chấm tới bài dịch đó, gật đầu tấm tắc khen hay. Nhờ sự kiện này mà anh bạn kia trở nên nổi tiếng toàn trường. Đặc biệt được một số lượng lớn các nữ sinh yêu thơ hâm mộ, không thua gì hâm mộ diễn viên đẹp trai người Pháp Alain Delon, đang lẫy lừng thời đó. Bọn con trai, khối đứa nóng cả mặt nhưng mà dịch không lại nên đành chịu! 

Hồi xưa học tập rất khác, học khá, siêng năng và có chất lãng mạn. Hồi xưa hầu như học trò nào cũng có cuốn tập chép thơ, nhạc và danh ngôn. Mùa phượng nào cũng viết lưu bút. Kể cả dân ban Toán.Tôi nhớ mình có chép lại bài dịch đó, nhưng giờ tìm không ra. Còn người bạn kia nghe nói về miền Trung rồi không thấy quay lại nữa.

Thắm thoắt đã mấy mươi năm rồi ! Nhưng mà trái đất tròn, biết đâu ….Nhiều năm sau, tôi cũng sưu tầm được khá nhiều bản dịch Le Pont Mirabeau, trong đó có vài bản dịch tương đối phổ biến như bản dịch của Hoàng Hưng, Tế Hanh, Xuân Diệu…

Nhưng như trên đã nói, tôi chưa thực sự ưng ý với một bản dịch nào.Tôi nghĩ không phải là không có bản dịch tốt hơn nữa.Tôi nghĩ rằng, những bản dịch ấy còn nằm lẫn khuất ở đâu đó. Quý vị độc giả nếu có biết xin chỉ giúp.

Tuy nhiên, hôm nay, để vui chuyện với quý vị độc giả, tôi cũng xin khiêm tốn giới thiệu bài dịch của tôi, bài Cầu Mirabeau, dịch xong năm 2000, và có chỉnh lại chút ít vào cuối tháng 6/2012.


CẦU MIRABEAU
         
         Guillaume Apollinaire

Dưới cầu Mirabeau trôi dòng Seine
và tình ta nữa
buồn vui một thuở
sao quên

Đêm cứ tới giờ cứ điểm
ngày cứ qua tôi ở lại
      
Tay trong tay mắt trong mắt
và dưới chiếc cầu bắc qua những vòng tay
từng đợt sóng mệt nhoài
trôi đi trong mắt ta nhìn nhau thiên thu

Đêm cứ tới giờ cứ điểm
ngày cứ qua tôi ở lại

Tình yêu qua mất rồi như nước chảy  
tình yêu qua mất rồi 
cuộc  đời sao mà chậm 
Hy Vọng sao mà dữ dội

Đêm cứ tới giờ cứ điểm
ngày cứ qua tôi ở lại

Ngày qua rồi lại tuần qua 
mà thời gian không qua
mà những cuộc tình không trở lại
dưới cầu Mirabeau trôi dòng Seine  

Đêm cứ tới giờ cứ điểm 
ngày cứ qua tôi ở lại.


Le Pont Mirabeau – Guillaume Apollinaire
          Hoàng Anh Dũng dịch
             10/2000 &  10/ 2012  


BÌNH LUẬN ( chỉ có nghĩa là nói thêm một chút cho rõ ): như trên đã nói, bài dịch này tôi hoàn thành tháng 10 năm 2000, chính xác là ngày 7 tháng 10 năm 2000, tôi nhớ rõ ngày ấy vì đó là vào dịp giỗ thầy tôi, sau đó tôi chỉnh sửa chút ít vào tháng 6 năm 2012.Thế nhưng, như một sự tình cờ, ngày 5/10/2012 khi tôi gởi bài viết này cho Blog AV thì nữ chủ nhân cung cấp thêm cho tôi một số thông tin về bài thơ nói trên, một số bản dịch khác, và đặc biệt, một bản dịch của chính cô. 

Đúng là buồn ngủ gặp chiếu manh, bởi tuy bản dịch của tôi xong từ lâu nhưng tôi thấy vẫn còn một cái gì đó chưa trọn, và điều chưa trọn đó đã trọn hơn một chút sau khi tôi đọc xong các bài được gởi tới.Hai câu điệp khúc trong bài thơ :Vienne la nuit sonne l’heure / Le jours s’en vont je demeure, là khó nhằn nhất, nhưng có hai câu dịch này mà tôi cho là tín – đạt – nhã nhất trong tất cả các bản dịch mà tôi có được : Đêm thong thả đồng hồ gõ nhịp / Tháng ngày qua, còn đây mình tôi … xin đố các bạn hai câu này là của dịch giả nào ? 

Tôi cũng đặc biệt cám ơn hai tác giả Phạm Anh Tuấn và Hà Thủy đã có bài phân tích rất sâu về  bài thơ Le Pont Mirabeau, và về tác giả của nó, Guillaume Apollinaire. Tôi đọc xong và “ hốt nhiên ” ngộ ra nhiều điều. Vậy là bản dịch lại được chỉnh lần thứ ba, đúng vào ngày này 12 năm trước. Quý vị cũng thấy ,có một điểm đặc biệt trong bản dịch Tiếng Việt của tôi, cũng như trong nhiều bản dịch Tiếng Anh của các dịch giả khác : không đặt dấu chấm, dấu phẩy, bởi bản nguyên tác cũng vậy. Với lối này thì lối ngắt câu của các bạn đôi khi tạo ra cho câu thơ có ý nghĩa khác, rất bất ngờ. 

Tôi mượn một câu nói quảng cáo thường nghe trên TV  để kết thúc bình luận này : Hãy thử một lần xem sao ! Có thể bạn sẽ thích đấy ! 

HOÀNG ANH DŨNG      

Những dòng sông, những cây cầu và những cuộc chia ly

Tôi chẳng hiểu tại sao mình lại yêu những dòng sông đến thế. Mặc dù tuổi thơ của tôi chẳng gắn với một dòng sông nào để có thể gọi là dòng sông tuổi thơ, và suốt cả cuộc đời cũng chẳng sống gần một dòng sông hay thậm chí chỉ là một con rạch nào.

Ngược lại, thời nhỏ tôi có sống gần biển một thời gian, ở Phan Thiết, cho đến khi gia đình tôi dọn vào Sài Gòn lúc tôi 5 tuổi. Nhưng những năm gắn bó với miền biển hồi ấy lại chẳng để lại cho tôi ấn tượng thân thương gì cả. Chỉ thấy biển hoàn toàn xa lạ và quá dữ dội, đáng sợ.

Tôi vẫn còn nhớ lúc còn bé, bố tôi hay dẫn tôi ra bờ biển chơi, nhưng tôi chỉ ở trên bờ chứ không bao giờ dám xuống nước. Tôi sợ những con sóng cứ ập đến rồi lại cuốn ra, sợ nước biển mặn chát khi bị sặc nước, và cũng rất sợ biển nước khổng lồ màu xanh xám và mênh mông tít tắp không bờ bến. 

Lần đầu tiên tôi tự mình cảm nhận một dòng sông thực sự là năm tôi 18 tuổi, trên chiếc phà qua bắc Mỹ Thuận để về miền Tây, qua dòng sông Cửu Long mênh mông, lúc ấy khoảng 5 giờ chiều. Dòng sông thật êm, mặt sông cũng rộng mênh mông nhưng cho tôi một cảm giác êm đềm chứ không hề đe dọa như mặt biển  đối với tôi ngày còn bé. Lúc ấy là trời chiều, xa xa có những đám khói tỏa ra từ những túp nhà be bé, mặt trời chiều còn vương ít sợi nắng, mây chiều pha ráng đỏ ... Một cảnh tượng đối với tôi sao đẹp tuyệt vời, và thực sự làm tôi xúc động. 

Xúc động đến độ tôi đã thốt ra được mấy câu thơ - và sau đó được viết thành nguyên một bài, nhưng giờ thì chỉ còn nhớ láp nháp vài câu - như sau:

"Chiều buông trên dòng sông Cửu Long"
Nghe câu hát từ bao lâu thân thiết
Dòng sông xanh lần đầu ta biết
Vời vợi chiều về trên sông ...

Chiều ơi chiều về chiều buông trên dòng sông
Êm êm trôi dòng nước biếc
Cánh buồm ai lẻ chiếc
Chập chùng trôi trên sông bao la ...

...

 Chầm chậm trôi thời gian, ôi thời gian
Trên dòng sông mênh mang...

Đọc lại mấy câu này bây giờ tôi thấy mình viết hơi "sáo", nhưng quả thật lúc ấy tôi có cảm giác vô cùng xúc động, chẳng rõ tại sao. Chợt nghĩ, phải chăng tình cảm mà tôi dành cho những con sông dù chẳng có gì gắn bó thực sự với chúng, có lẽ chính là vì văn thơ nhạc họa của VN cũng như của thế giới dành quá nhiều thiện cảm cho chúng đó chăng. 

Thì rõ ràng câu đầu tiên trong bài thơ của tôi chính là được lấy trong bài hát "Chiều về trên sông" của Phạm Duy chứ còn gì nữa. Một bài hát thật hay mà ca sĩ Thái Thanh đã trình bày hết sức xuất sắc, với những ca từ thật đẹp. Xin chép ra đây vài câu để các bạn thưởng thức nhé. Còn bạn nào muốn nghe bài hát và lời đầy đủ, xin vào đây: http://www.nhaccuatui.com/nghe?M=0kJ14qRMTT.

Chiều buông
Trên dòng sông Cửu Long
Như một cơn ước mong
Ơi chiều

Về đâu
Ơi hàng cây gõ rong
...

Chiều buông 
Trên dòng sông cuốn mau
Thương đời thương lẫn nhau trong chiều

Về đây 
Bọt bèo vương khắp nơi
Vui buồn cho có đôi
Không nhiều

Ngày mai sông về quê mến yêu
Cho trùng dương cũng theo hương chiều
Bể sầu không nhiều
Nhưng 
cũng
đủ 
yêu ...

Nói đến sông, thì rõ ràng không thể không nhắc đến cầu, như một cặp đôi không thể thiếu. Vì không có nó thì người ở hai bên bờ không thể qua lại được dễ dàng, và sẽ rơi vào tình trạng hai đầu cách trở. Dòng sông Cửu Long - mà ở miền Tây ta thường nhắc đến nó theo từng nhánh Sông Tiền và Sông Hậu vào lúc ấy - năm 1978 - thì chưa có cầu, còn phải đi phà. Những chiếc phà nặng nề, già cỗi, chăm chỉ làm phận sự như những con ngựa thồ già, cặm cụi đóng vai chiếc cầu di động ngày ngày nối hai bên bờ ngăn cách. Suốt cả trăm năm, hình như thế, chúng đã tròn vai, và nhiệm vụ lịch sử của chúng đã kết thúc khi cây cầu Mỹ  Thuận được khánh thành năm 2000.

"Cây cầu của tình hữu nghị", cây cầu ấy được gọi như vậy vì nó là do Úc viện trợ cho VN. Tôi nhớ năm đó tôi còn ở Khoa Anh Trường ĐH KHXH-NV, lúc ấy có ông thầy hướng dẫn ở Úc đang ở VN, sang dạy chương trình cao học thì sự kiện thông xe cầu Mỹ  Thuận diễn ra. Thế là ông cũng lặn lội đi xuống đó xem, rất thích thú, như một sự kiện lớn đánh dấu quan hệ hai nước. Và mãi mấy năm sau, khi đi qua cây cầu ấy trong một chuyến công tác miền Tây, ông "sếp" của tôi vẫn còn quay phim, chụp hình cây cầu ấy, như một kỳ quan nho nhỏ của VN.

Trong văn học nghệ thuật của VN, cây cầu cũng có một vai trò quan trọng. Có một bài hát mà tôi rất thích - và người bạn thơ chưa biết mặt của tôi cũng thế; việc này sẽ rõ hơn trong entry sau - là bài Bên cầu biên giới của Phạm Duy. Phần mà tôi thích nhất trong bài hát là mấy câu này:

Nhưng đường quá xa vời
Hương trời vẫn mê mải
Lòng tôi sao vẫn còn biên giới
Hồn tôi sao vẫn dừng nơi đây ...

Dòng nhạc đỏ, nhạc "cách mạng" của VN cũng có một bài hát về cây cầu mà tôi cũng rất thích, mặc dù bài này không buồn buồn như gu của tôi (một cái gu rất "tiểu tư sản"), mà reo vui, lạc quan "cách mạng", đó là bài "Nhịp cầu nối những bờ vui", có thể tìm thấy ở đây: http://www.nhaccuatui.com/nghe?M=SQerQnppB_

Câu đầu tiên của bài hát này, có lẽ cũng là câu hay nhất (và hay duy nhất?) của câu này, hoặc ít ra là câu mà tôi thích nhất, là câu:

Chiếc cầu là nơi hò hẹn của đôi ta. Đêm trăng sáng trên cầu anh thổi sáo, đêm trăng sáng chân cầu em giặt áo. Nhịp cầu nối những bờ vui ....

Hay, vì nó đụng chạm đến tình cảm mang tính phổ quát nhất của nhân loại, không phân biệt tiểu tư sản với vô sản, cách mạng với ... phản cách mạng, đó là tình yêu đôi lứa. Hẹn hò. Gặp gỡ. Nhịp cầu nối những bờ vui....

Kết nối. Rồi gặp gỡ, hò hẹn. Và kết cuộc có thể sẽ rất vui, như bài hát cách mạng ấy: "Anh lại về đây sau ngàn ngày chiến đấu (!)/Ngồi trên cầu thổi sáo đón em".

Nhưng, cuộc đời mà, không phải mọi việc đều có kết cục vui. Mà, theo cái nhìn ủy mị tiểu tư sản của những đứa như tôi, thì kết cục sẽ thiên về sự xa cách, chia ly nhiều hơn. Và những cây cầu, vốn là biểu tượng cho sự hẹn hò gặp gỡ của hai kẻ yêu nhau khi cuộc tình chưa chấm dứt, lại trở thành một vật gợi những nhớ nhung, day dứt, muộn phiền....

Như trong bài thơ bất hủ của Apollinaire, bài Le Pont Mirabeau (cầu Mirabeau), mà tôi cũng đã có lần bon chen dịch ra tiếng Việt vì thích quá, không nhịn được. Bản dịch của tôi là dựa trên bản tiếng Anh, đã đăng trên blog này vào năm 2010 sau khi dịch xong, xin chép lại ở đây. (Bản dịch gốc, và lời dẫn thì ở đây: http://bloganhvu.blogspot.com/2010/11/thang-ngay-qua-con-ay-minh-toi.html.)

 Tôi đã đặt cho bài thơ một cái tựa khác, lấy từ trong một câu điệp khúc của bài thơ: "Tháng ngày qua, còn đây mình tôi"

Sông trôi dưới cầu Mirabeau
Người xa trên cầu Mirabeau
Ai có quên cho tôi nhắc nhớ
Đớn đau rồi sẽ được yên vui

Đêm thong thả đồng hồ gõ nhịp
Tháng ngày qua, còn đây mình tôi

Em bên anh ta tay trong tay
Dưới chân cầu dòng sông lặng trôi
Hờ hững nhìn, những con mắt sóng
Nụ hôn kia rồi mai tàn phai

Đêm thong thả đồng hồ gõ nhịp
Tháng ngày qua, còn đây mình tôi

Dòng sông trôi, tình ta cũng trôi
Tình trôi đi, còn đây mình tôi
Đời mệt nhoài, tình xa vời vợi
Dữ dội chi tiếng sóng lòng ơi!

Đêm thong thả đồng hồ gõ nhịp
Tháng ngày qua, còn đây mình tôi

Ngày ngày qua và tuần tuần qua
Thời gian qua không buồn trở lại
Tình yêu qua thôi đành vuột mất
Dòng sông xưa mãi lững lờ trôi

Đêm thong thả đồng hồ gõ nhịp
Tháng ngày qua, còn đây mình tôi ...

Nếu có ai đọc entry trước của tôi, "Thơ dịch, dịch thơ" thì sẽ thấy tôi thuộc trường phái dịch ... ẩu, dịch theo ý mình, miễn sao mình thấy hay, thấy đẹp, chứ không câu nệ dịch sát từng câu, từng từ của tác giả. Dịch như thế, có thể sẽ có nhiều người không đồng ý, nếu người ấy thuộc trường phái dịch trung thành ("tín" là yêu cầu trên hết). Nhưng kệ nó, tôi dịch cho tôi thôi mà, và, vì tôi là tôi, nên tôi thấy bài thơ tôi dịch ra cũng ... rất được, vì hợp ý tôi (!!!).

Lúc dịch bài thơ ấy, một người bạn (tôi hay gọi đùa là "bạn già") của tôi vừa chia tay với chồng chị ấy, và đang rất buồn. Nỗi buồn ấy rất thật, rất rõ ràng, nhưng cũng rất riêng tư, và mỗi khi nghe về chuyện buồn của người khác thì thực sự tôi không thể nào chịu nổi. Vì tôi rất muốn làm một cái gì đó, nhưng lại không biết phải làm gì. Vì an ủi thì nghe nó giả dối - phải chăng người ta có thể dễ dàng vơi đi một nỗi buồn chỉ sau khi nghe vài lời an ủi của mình, nhất là khi mình thực ra cũng không thể cảm nhận nổi mức độ trầm trọng của nỗi đau của người đang chịu nỗi đau ấy? Nhưng không nói gì, không làm gì thì lại có vẻ lạnh lùng, thản nhiên, mà thực ra không phải thế.

Vì vậy, khi chị ấy kể cho tôi, thì tôi chỉ hỏi những câu hỏi rất lý trí, rất ... factual, đại loại như "ông D. đã nói gì?", "ổng phản ứng ra sao?", "rồi chị làm gì?", mà không thốt ra được câu an ủi nào cho ra hồn hết. Nhưng câu chuyện ấy, và nỗi buồn ấy cứ theo tôi suốt mấy ngày.

Nên khi đọc thơ, thấy tâm trạng của một người mới chia tay người yêu, nhìn đâu cũng thấy kỷ niệm, nhìn đâu cũng đau đớn (như tâm trạng trong một câu hát hình như là trong bài hát của Phạm Duy: "khi rượu uống không hề say/mà chỉ là đắng cay"), thì tôi bỗng ... xuất thần dịch ra được bài thơ như trên. Nói một cách nào đó (như có nhiều người đã nói), tôi lấy bài thơ của tác giả làm một cái cớ để thả tâm sự của tôi (nói đúng hơn là của bạn tôi) vào đấy.

Viết xong, đăng lên blog, rồi gửi cho người bạn già, rồi quên mất. Cho đến khi tôi nhận được bài thơ dịch rất kỹ lưỡng, cẩn trọng của người bạn thơ của tôi. Tôi nhớ ra mình cũng đã dịch nên ... đỡ quá, đây là dịp để khoe bản dịch của mình (thực ra là để chia sẻ một điều mình thích). Được chia sẻ điều mình thích đã là một niềm vui tự nó, thế mà tôi còn lại còn được khen nữa chứ. Mà khen đúng ngay  2 câu điệp khúc mà tôi rất thích ấy: "Đêm thong thả đồng hồ gõ nhịp/Tháng ngày qua, còn đây mình tôi".

Hai câu ấy, tôi tin rằng nó thật đúng tâm trạng của người bạn tôi lúc ấy. Cho nên bài thơ có hay, và bản dịch có hay (nếu có ai nghĩ thế) thì trước hết là vì nó chạm vào đúng tâm trạng của người ta. Chạm vào nỗi đau của sự chia ly, và nỗi buồn da diết dù lặng lẽ của việc trải qua những ngày dài mà không có tình yêu của mình ở bên cạnh. Nỗi buồn ly biệt.

Tôi chợt nhớ đến một bài hát khác, cũng có sông, có biệt ly, có cả tiếng còi tàu:

Biệt ly
Sóng trên dòng sông
Ôi còi tàu như xé đôi lòng
Và mây trôi, nước trôi 
Ngày tháng trôi ...

Vâng, những dòng sông, những cây cầu, và những cuộc chia ly .... Nên không lạ là tại sao tôi lại thích sông đến thế. À, nhắc đến sông, tôi lại nhớ tác phẩm mới của Nguyễn Ngọc Tư có đúng cái tên ấy: Sông. Thế nào tôi cũng phải đi mua về mà đọc mới được.

Còn bản dịch rất hay của người bạn thơ của tôi, cùng lời dẫn của anh bạn ấy, và cả những bản dịch khác của bài thơ Le Pont Mirabeau nữa, tôi sẽ đăng lên trên entry sau. Các bạn chờ và đọc nhé. Vì entry này đã quá dài rồi, đọc nữa thì loãng mất.
------
Viết thêm: Phải ghi chú thêm mấy dòng nữa cho hết ý. Bài thơ dịch tôi, nếu có ai chú ý sẽ thấy có rất nhiều vần bằng. Tôi cố tình như thế, vì vần bằng trong thơ sẽ gợi lên nỗi sầu man mác, âm thầm nhưng sâu sắc. Như khi quá đau thì ta không kêu lên được nữa, mà lặng đi. Câu thơ nhiều vần bằng là một thủ pháp mà một nhà thơ tiền chiến là Xuân Diệu hình như cũng hay sử dụng, như trong mấy câu này:

Tôi yêu Bao Tự mặt sầu bi
Tôi mê Ly Cơ hình nhịp nhàng
Tôi tưởng tôi là Đường Minh Hoàng
Trong cung nhớ nàng Dương Quý Phi.

(Trong tất cả các câu trên, trong 7 chữ chỉ có 1 hoặc 2 chữ có vần bằng thôi. Nghe buồn buồn, trầm trầm, hay lắm phải không các bạn?)

Thứ Sáu, 5 tháng 10, 2012

Thơ dịch, dịch thơ ...

Tôi lại mới nhận được một bài thơ dịch của người bạn mới quen, anh Hoàng Anh Dũng (HAD) mà tới nay tôi đã giới thiệu vài bài thơ trên blog này của tôi rồi. Một bài thơ rất nổi tiếng (nhưng tôi sẽ nói đến nó sau) mà rất tình cờ là bài ấy tôi cũng đã từng dịch.

Đọc bản dịch của anh HAD, rồi lại lên mạng tìm những bản dịch khác của cùng bài thơ ấy, tự nhiên tôi lại suy nghĩ lan man về việc dich và đặc biệt là dịch thơ, là việc tôi đã đeo đuổi một thời gian dài khi còn ở Khoa Anh của ĐH Tổng hợp, nay là ĐHKHXH-NV. Nên viết lăng nhăng ở đây một ít giòng trước khi giới thiệu bài thơ vô cùng nổi tiếng kia cùng những bản dịch khác nhau ở VN.

Đã có nhiều người đã cho rằng dịch chính  là phản. Có lẽ không sai, vì đã có khá nhiều ví dụ về bản dịch làm thay đổi ý nghĩa của nguyên tác, thậm chí làm sai ý gốc hoàn toàn. Một ví dụ kinh điển và rất thú vị của việc "dịch là phản" rất hay được nhắc đến là một câu dịch Kinh Thánh do máy dịch (phản) như sau:

Nghĩa của câu gốc: "The spirit is willing, but the flesh is weak." (Tinh thần thì vững vàng nhưng thể xác thì yếu đuối.)
Câu dịch (phản): "The vodka is good, but the meat is rotten." (Rượu thì ngon nhưng thịt thì thối.)

Thật là thú vị, phải không các bạn? Thật đúng là ... "Dịch nhau như thế bằng mười hại nhau", các bạn nhỉ?

Vì dịch rất dễ trở thành phản nên một trong những nguyên tắc đầu tiên của việc dịch là phải bám sát bản gốc và trung thành với nguyên tác, mà người ta thường gọi là "tín" trong 3 nguyên tắc của dịch. Hai nguyên tắc còn lại là "đạt" và "nhã". Tín là trung thành, đạt là ngôn ngữ đích viết ra phải làm cho người ta hiểu được (vì nếu dịch quá trung thành thì rất có thể trở thành ngây ngô hoặc bí hiểm, người đọc không hiểu nổi), và nhã tức là đẹp - như trong cụm từ tao nhã, thanh nhã, nhã nhặn.

Nếu đạt được cả 3 nguyên tắc trên thì rõ ràng là không còn gì để nói nữa. Nhưng cũng rõ ràng là thực sự quá khó để đạt cả 3 yếu tố trên phải không các bạn? Thường thì người ta chỉ đạt được một hoặc cùng lắm là 2 trong số 3 nguyên tắc nói trên mà thôi. Và mỗi dịch giả  thường sẽ phải chọn cho mình nguyên tắc nào là tối cần thiết và nguyên tắc nào có thể bỏ qua không cần phải giữ bằng mọi giá.

Vậy nên mới có đến hai trường phái dịch. Trường phái thứ nhất xem tín là yếu tố quan trọng nhất trong một bản dịch, và họ thường cố gắng đạt được chữ "tín", rồi sau đó là chữ "đạt". Còn nhã thì có thể bỏ qua. Trường phái thứ hai lấy yếu tố "nhã" làm quan trọng nhất. Mà đã nhã, thì chắc chắn là phải đạt rồi, vì nếu không làm cho người ta hiểu được thì khó lòng được xem là nhã. Còn tín thì không phải là không quan trọng, nhưng ở đây người ta quan niệm tín theo một cách khác. Không phải là trung thành với lời văn, với cấu trúc câu, với hình thức diễn đạt, mà là trung thành với ý tứ của bài viết và tạo ra được một cảm xúc tương tự với bản gốc trên người đọc. Tất nhiên, làm thế nào để đo được độ trung thành về ý tứ hoặc cảm xúc của người đọc thì lại là một chuyện khác.

Nhưng nói như trên lại cũng chưa phải là hoàn toàn chính xác, vì có những người lúc thì thuộc trường phái này lúc lại thuộc trường phái khác. Có lẽ điều đó còn tùy vào từng nội dung, từng thể loại của bài viết, và cả cảm hứng và tâm trạng của dịch giả nữa. Tôi nghĩ, riêng đối với dịch thơ thì tâm trạng và cảm hứng có lẽ là điều quan trọng nhất để tạo ra một bản dịch tốt, tức là đạt đến mức nhã trong 3 nguyên tắc dịch thuật rồi. Đã là tâm trạng và cảm xúc rồi thì ta chỉ có thể đồng cảm hoặc không đồng cảm, xúc động hay không xúc động, chứ ít khi quan tâm bắt bẻ là bài thơ dịch là chính xác hay không chính xác.

Thôi, tản mạn về dịch thế là đủ. Bây giờ, xin nói he hé một chút về bài thơ dịch mà tôi đã đề cập đến ở trên. Đó chính là bài thơ Le Pont Mirabeau của nhà thơ Apollinaire. Một bài thơ rất hay mà tôi mới dịch từ bản tiếng Anh sang tiếng Việt và đã đăng trên blog này cách đây 2 năm, vào năm 2010, khi còn làm việc ở cơ quan cũ.

Tôi dịch nó một mạch trong một buổi họp ở cơ quan, đăng lên blog rồi quên đi. Nhưng khi người bạn của tôi gửi cho tôi bài thơ anh ấy dịch thì tôi mới nhớ ra bài thơ của mình, đồng thời biết rằng bài thơ ấy đã có rất nhiều người dịch từ nhiều năm nay. Nhưng hình như vẫn chưa có ai hoàn toàn hài lòng, và cuộc đi tìm bài thơ dịch hay nhất vẫn còn tiếp tục. Trong cuộc hành trình ấy, có cả anh bạn HAD của tôi nữa.

Và dường như anh ấy đã gần chạm được đến bản dịch hoàn hảo rồi, tôi nghĩ thế. Nhưng entry đã dài lắm rồi, tôi sẽ từ từ giới thiệu bài thơ của anh HAD cùng lời bình của chính anh ấy vào kỳ tới nhé. Sorry vì bắt mọi người phải đợi, nhưng bảo dảm là mọi người sẽ có một bài đọc thú vị.

Còn bây giờ thì mọi người đọc tạm bài viết của anh Phạm Anh Tuấn, một dịch giả cũng có tiếng ở VN, viết về bài thơ này nhé. Ở đây: http://phamanhtuanhn.wordpress.com/2011/08/19/d%C6%B0%E1%BB%9Bi-chan-c%E1%BA%A7u-mirabeau/.

Chủ Nhật, 30 tháng 9, 2012

Mưa, mưa mãi ...

Mấy ngày nay trời SG cứ mưa, mưa mãi ...

Mưa rả rích suốt buổi sáng, ngồi nhà chờ mưa tạnh để đi làm nhưng "trời chẳng chiều người", đợi mãi mà mưa không tạnh, chắc chắn là rồi sẽ đành phải chui vào chiếc áo mưa còn ướt từ chiều tối hôm trước, để đến nơi làm trong cơn mưa rả rích thôi.

Tôi sợ đi xe gắn máy khi trời mưa, vì đường trơn, kiếng (mắt, không phải kiếng xe hơi) ướt, mắt mờ, rất dễ bị tai nạn. Mà đối với tôi tai nạn không chỉ đến từ bên ngoài, mà còn từ bên trong: những đi trong mưa, dù là đi xe gắn máy, cái đầu óc lơ mơ, thi sĩ nửa mùa của tôi lại hay chạy đi vơ vẩn, nhìn đường phố trong mưa.

Nhìn những bà cụ già ướt lóp ngóp ngồi dưới tấm bạt căng để che mưa, bên dưới là mấy củ khoai, mấy nải chuối ... để bán cho người qua đường. Nhìn những chiếc áo mưa đủ  màu sắc trên đường, đa số là những màu tối, trung tính như màu xanh đen, màu "đỏ đô", nhưng đôi khi cũng có những chiếc áo màu vàng chanh rực rỡ, màu hồng/hường (?) hay màu đỏ của thuốc đỏ mà có người gọi là màu đỏ máu (!) chói cả mắt.

Nhìn, và quên đi là mình đang chạy xe, cứ để chiếc xe đưa mình tới trong giòng người, đầu óc tê dại đi, cho đến khi có một chiếc xe vọt qua mặt để dành đường, chạy sát đến suýt quẹt vào xe mình, tôi mới giật mình tỉnh dậy khỏi cơn mơ ngắn ấy. Nguy hiểm thực sự.

Nên thường là tôi không đi trong mưa, dù đi như thế cũng có cái thú của nó (thú, cho nên mới nguy hiểm). Và sáng nay cũng vậy, Trong khi chờ trời mưa tạnh, tôi viết lăng nhăng vài giòng lên blog cho qua thời gian.

Và nhớ bài thơ Mưa, mưa mãi của Lưu Trọng Lư mà tôi rất thích, nên đăng lên đây cho mọi người cùng đọc lại.


Mưa mãi mưa hoài
Lòng biết nhớ thương ai
Trăng lạnh về non không trở lại


Mưa chi mưa mãi
Lòng nhớ nhung hoài
Nào biết nhớ nhung ai


Mưa chi mưa mãi
Buồn hết nửa đời xuân
Mộng vàng không kịp hái


Mưa mãi mưa hoài
Nào biết trách ai
Phí hoang thời trẻ dại


Mưa hoài mưa mãi
Lòng biết tìm ai
Cảnh, tưởng đầy nơi quan tái.

Mưa ở SG, như vậy đó. Nhưng thực ra, ở miền Trung ngoài kia, là bão lụt, là nguy cơ động đất ở gần sông Tranh, thảm cảnh chết người, màn trời chiếu đất. Hết năm này sang năm khác. Trong khi dọc bờ biển miền Trung bây giờ cơ man là resort sang trọng. 

Ai ở trong các resort đó nhỉ? Và những thành quả của phát triển kinh tế bao nhiêu năm nay ai là người hưởng nhỉ? Chắc không phải là những người dân ở vùng thủy điện xả lũ hàng năm, không phải những người dân ở gần thủy điện Sông Tranh vốn được khẳng định là an toàn nhưng giờ đây  người dân đang phải hối hả dựng nhà bằng tre nứa để ở để sống chung với động đất! 

Và danh sách những lo âu, những hiểm họa đang rình rập người dân vẫn còn có thể tiếp tục kéo dài mãi.

Trời SG thì cứ mưa. Mưa, mưa mãi ....

Thứ Bảy, 29 tháng 9, 2012

Rudyard Kipling và lá diêu bông

Lá diêu bông thì chắc chắn là ở VN ai cũng biết. Đó là bài thơ của thi sĩ tiền bối Hoàng Cầm, nói về tình yêu đầu tiên của một cậu bé với một người con gái lớn hơn mình mà cậu gọi bằng chị. Chỉ một câu nói bâng quơ của chị thôi, "đứa nào tìm được lá diêu bông/từ nay tao sẽ gọi là chồng (lời của Phạm Duy) thế là cậu bé tội nghiệp bỏ cả thời trai trẻ để "mình tôi lang thang muôn nơi, đi tìm lá cho em tôi" (lời của Trần Tiến).

Trong khi em mải miết đi tìm lá thì ở quê nhà, khốn thay, chị lại đi lấy chồng mất (mà chẳng cần lá diêu bông gì cả), để cậu em khi trở về với chiếc lá trên tay thì chỉ còn cõi lòng tan nát vói mối tình câm lặng suốt bao năm. Một chuyện tình buồn nhưng rất nên thơ, và bài thơ đã được đến hai nhạc sĩ nổi tiếng phổ nhạc: bản Lá diêu bông do Phạm Duy, và bản Sao em nỡ vội lấy chồng của Trần Tiến mà tôi nhắc đến ở đoạn trên.

Cả hai bài hát đều rất hay, nhưng bài thơ theo tôi vẫn hay hơn rất nhiều, vì nó toát lên được sự vụng về, câm lặng nhưng rất lớn lao và sâu sắc của mối tình đầu không may và không bao giờ quên được của nhân vật xưng tôi trong bài thơ. Ai chưa đọc, xin google mấy từ "bài thơ Lá diêu bông của Hoàng Cầm", chắc chắn sẽ ra ngay.

Còn Ruyard Kipling thì chắc chắn là rất nổi tiếng ở Anh và tất nhiên còn ở cả nhiều nước khác nữa, trong đó có Việt Nam. Tôi đã có đề cập đến ông một chút trong bài "Được mùa thơ" của tôi cách đây vài ngày. Ông rất đa tài, vừa làm thơ vừa viết văn (và còn làm nhiều nghề khác nữa nhưng tôi không nhớ rõ), và là tác giả của bài thơ rất nổi tiếng có tựa là "If" tức là "Nếu". Bài thơ này cũng đã được nhiều người dịch sang tiếng Việt, trong đó có bản khá nổi tiếng mà tôi biết, với 4 câu đầu như sau:

Nếu bỗng thấy tan tành sự nghiệp
Mà nín thinh xây tiếp cuộc đời
Hay trong một ván bạc thôi
Mất hàng trăm tiếng không lời thở than ...

Cả bài thơ Lá diêu bông của Hoàng Cầm lẫn tác giả của bài thơ If đều đã rất nổi tiếng với mọi người rồi, nên chẳng cần giới thiệu thêm nữa. Nhưng liên hệ Rudyard Kipling với Lá diêu bông thì hẳn là chỉ mới có một người đề cập đến thôi. Người ấy chính là người bạn thơ của tôi, anh Hoàng Anh Dũng mà tôi đã giới thiệu trên blog này một lần rồi, và cũng đã úp úp mở mở trong entry "Được mùa thơ" của tôi cách đây vài ngày. Nên tôi cũng sẽ không nói gì thêm nữa. Mời các bạn thưởng thức thôi.

Các bạn đọc dưới đây nhé.
---------

RUDYARD KIPLING
đi tìm diêu bông

Nhiều thân hữu hỏi tôi Ruyard Kipling thì có mắc mớ gì đến cái lá diêu bông bất tử của Hoàng Cầm kia chứ ? Vậy mà có đấy thưa các bạn : Ruyard Kipling thực sự có một bài thơ gần như diêu bông ! Vâng Rudyard Kipling là một tên tuổi lớn của thế giới , và khi nói đến ông người ta thường nhắc đến bài thơ  If .Đây là bài thơ Anh được bình chọn hay nhất mọi thời đại. ( theo khảo sát của BBC năm 1995 ).Cũng bởi danh tiếng If quá dữ, nên đôi khi người ta quên rằng Ruyard Kipling còn nhiều bài thơ nổi tiếng khác nữa, và một trong số đó là Blue Roses :

Blue Roses

Roses red and roses white
Plucked I for my love's delight.
She would none of all my posies
Bade me gather her blue roses.

Half the world I wandered through,
Seeking where such flowers grew.
Half the world unto my quest
Answered me with laugh and jest.

Home I came at wintertide,
But my silly love had died,
Seeking with her latest breath
Roses from the arms of Death.

It may be beyond the grave
She shall find what she would have.
Mine was but an idle quest—
Roses white and red are best.

Tôi biết bài thơ này khá lâu , nhưng bỏ qua liền .Chỉ là một chuyện tình buồn : chàng trai, cô gái quen nhau rồi xa nhau, rồi một người bệnh chết, rồi một người đứng bên mộ ...  Tôi cho rằng mô típ cổ điển này thua xa lắc Những Đồi Sim của Hữu Loan, hay Bài Thơ Lá Diêu Bông của Hoàng Cầm. Nhưng trong một lần về quê , chiều ngồi bên mộ thầy tôi,  tôi thấy một chiếc lộc bình đất cũ cắm đơn sơ mấy cánh hồng trắng và mấy cánh hồng đỏ héo úa, tự nhiên tôi nhớ tới bài Blue Roses, và phát hiện ra một chi tiết khá lạ là chàng trai đem tặng cô gái có đủ cả hồng trắng,hồng đỏ. Lạ là bởi vì thường thấy những người yêu nhau tặng toàn hồng đỏ thôi !

Từ cảm xúc đó, về sau tôi lại thấy Blue Roses thực sự hay và thú vị, nhưng thực sự quá khó diễn đạt, bởi vậy phải gần hai năm, bản dịch mới hoàn thành :

NHỮNG NỤ HỒNG XANH

Nhớ thuở hoa hồng hái tặng nhau, 
những màu trắng đỏ gợi mai sau,  
rồi em hờ hững màu hoa cũ,
em thích hồng xanh ở tận đâu !

Từ đó trầm luân cuộc bể dâu, 
tôi đi dường bốn bể năm châu,
tìm nơi có mọc loài hoa ấy, 
năm tháng thêm đầy những nỗi đau…

Một mùa Đông tôi trở lại bên cầu,  
người yêu dấu năm xưa không còn nữa, 
phút cuối em vẫn nhìn ra phía cửa, 
đợi anh về với những nụ hồng xanh !

Này em hỡi, dưới suối vàng hoang lạnh,
nguyện cầu em thấy cánh hoa mơ,
điều tôi tìm giờ vẫn hư vô, 
trần thế vẫn rực rỡ những màu hoa dạo nọ…

Ruyard Kipling
Hoàng Anh Dũng dịch
tháng 10/ 2006

Người dẫn chuyện : Tâm hồn thì không thể dịch được, nhưng mỗi lần đọc lại bài thơ này, tôi vẫn thấy dâng lên cái cảm giác bâng khuâng. Tôi vẫn như thấy hình ảnh một đóa hồng xanh. Tôi vẫn thấy một cách sinh động, hình ảnh nhỏng nhẻo, phụng phịu của cô gái đòi nụ hồng xanh, cái hình ảnh co ro của một gã trai đi trong mịt mùng rét mướt để tìm một cái Ảo cho một Tình Yêu Thực, thế nên đời mới có cái bi tráng uy mãnh của những gã Kinh Kha trong tình yêu :

 Đời vẫn nhớ
 những  gã Kinh Kha
khóc dưới hoàng  hôn.
một lá diêu bông
khóc trong chiều tiễn biệt !
( HAD)

Tôi thầm nghĩ , nếu gã trai trong Blue Roses còn sống tới giờ này thì anh có thể ra phố rồi : hoa hồng xanh bán đầy luôn ! Nhưng như thế thì không còn diêu bông ! Nghĩa là chúng ta sẽ không bao giờ biết tới những chuyện tình diêu bông đầy nước mắt như trong chính Blue Roses, và trong chính cuộc đời cát bụi này .
Liệu chúng ta có cần một chút diêu bông ?

HOÀNG ANH DŨNG
     Cuối Thu 2012
 ---------------
Cả bài thơ lẫn lời dẫn của dịch giả ở trên đều rất hay và hoàn toàn không cần tôi can thiệp vào nữa phải không các bạn. Nhưng tôi vẫn muốn thêm một chút ở đây: Anh HAD không chỉ dịch bài Blue roses một lần như ở trên, mà đã dịch đến mấy lần cơ. Dưới đây là một bản dịch khác, thơ ngũ ngôn. Theo dịch giả thì các bạn trẻ thích bản dịch này hơn vì thấy bài thơ 8 chữ ở trên khá nghiêm trang. Thơ ngũ ngôn thì bao giờ cũng đơn giản hơn, dễ đọc hơn mà. Và tôi, tôi cũng thích bài này hơn dù bài ở trên cũng rất hay. Các bạn đọc nhé.


CHUYỆN ĐÓA HỒNG XANH

Thuở nào hồng đỏ trắng,
tặng nhau mình bâng khuâng !  
chợt một ngày em bảo,
hái hồng xanh cho em !

Từ đó tôi đi tìm, 
đóa hồng xanh mơ ước,
khắp tinh cầu lưu lạc,
đời cười một gã ngông…

Tôi trở về mùa Đông,
em ra người thiên cổ
phút cuối bên khung cửa,  
em có đợi hồng xanh?

Em ơi chốn u linh,   
hẳn có loài hoa ấy,
trần gian thì vẫn vậy,  
đỏ trắng sắc hoa xưa …

Blue Roses
Ruyard Kipling
Hoàng Anh Dũng dịch
          ( 2010)
--------
Bông hồng xanh, bông hồng xanh.... Tôi bâng khuâng tự hỏi, chẳng biết trên cuộc đời này có gã trai khờ khạo nào đã từng đi tìm một bông hồng xanh vì những câu nói bâng quơ của tôi chưa nhỉ? Ai biết đâu đấy?