Hiển thị các bài đăng có nhãn researchmethodology. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn researchmethodology. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 13 tháng 12, 2009

Đôi điều về Nhận thức luận (epistemology)

Nhận thức luận là gì?

Nhận thức luận, có nơi còn gọi là khoa học luận, theo tôi, có thể định nghĩa như thế này: Đây là một loại lý luận giúp ta trả lời câu hỏi "Làm sao ta biết được điều đó? Tri thức về điều đó có được bằng cách nào?"

Theo định nghĩa kể trên thì hiểu biết về nhận thức luận là một yêu cầu cơ bản của một người tự xem mình là một nhà khoa học. Vì như thế mới có thể phân biệt được đâu là tri thức thật, và đâu là tin đồn nhảm, hoặc mê tín.

Quan trọng như vậy, nhưng hầu như ở VN không có nơi nào dạy cái căn bản triết lý về nhận thức này cho sinh viên. Cần nói thêm, thật ra, ở các nước khác, không phải ai cũng hiểu những điều này; và lại càng không mong đợi ai cũng biết những thuật ngữ "ghê gớm" này. (Mà thật ra cũng đâu có mấy ai cần hiểu - cũng giống như chúng ta ai cũng đều sống trên trái đất này, với vũ trụ nọ, trăng sao kia, nhưng đâu phải ai cũng cần phải học thiên văn, hoặc địa vật lý - geophysics?)

Nhưng cái khác giữa VN và các nước là ở chỗ này: ai không biết thì thôi, mà ai biết, thì biết đến nơi đến chốn. Biết thì biết mình biết, mà không biết thì biết mình không biết (ấy là biết vậy!). Còn ở VN thì hình như ai cũng có vẻ biết (thì ai cũng được học thật nhiều cái gọi là triết học mà lại), mà thật ra thì hình như chẳng ai biết!

Vậy thì đây. Trước hết là nguồn để đọc về epistemology, đáng tin cậy (sorry nó bằng tiếng Anh).

Link: http://www.iep.utm.edu/category/m-and-e/epistemology/
Cập nhật T3.2014: http://www.iep.utm.edu/epistemo/
--
Dưới đây là một ít trích dịch, diễn giải của tôi, may ra có thể giúp mọi người hiểu thêm một chút về nó.

Epistemology is the study of knowledge. Epistemologists concern themselves with a number of tasks, which we might sort into two categories.

First, we must determine the nature of knowledge; that is, what does it mean to say that someone knows, or fails to know, something? This is a matter of understanding what knowledge is, and how to distinguish between cases in which someone knows something and cases in which someone does not know something. While there is some general agreement about some aspects of this issue, we shall see that this question is much more difficult than one might imagine.

Second, we must determine the extent of human knowledge; that is, how much do we, or can we, know? How can we use our reason, our senses, the testimony of others, and other resources to acquire knowledge? Are there limits to what we can know? For instance, are some things unknowable? Is it possible that we do not know nearly as much as we think we do? Should we have a legitimate worry about skepticism, the view that we do not or cannot know anything at all?

Nhận thức luận nhằm nghiên cứu về tri thức. Các câu hỏi đặt ra cho các "nhà nhận thức luận" có thể sắp xếp thành hai loại.

Trước hết, cần xác định bản chất của tri thức, hay nói cách khác, là làm sao biết ai đó có biết, hoặc không biết, một điều gì đó? Như vậy, ở đây cần có sự hiểu biết cái gì đáng được xem là tri thức, và làm thế nào để phân biệt giữa những người biết và những người không biết một điều gì đó. Mặc dù người ta có đồng ý với nhau một số điểm chung về một vài khía cạnh của vấn đề này, chúng ta sẽ thấy rằng đây là câu hỏi khó khăn hơn so là người ta tưởng.

Thứ hai, cần phải xác định mức độ kiến thức của con người; nói cách khác, chúng ta biết một điều gì đó tới đâu, hoặc thậm chí, chúng ta có khả năng nhận thức được điều đó hay không? Chúng ta có thể sử dụng ra sao trí tuệ, giác quan của chính mình, lời khai của người khác, và các nguồn lực khác để đạt được tri thức? Có giới hạn nào đối với những gì chúng ta có thể biết hay không? Ví dụ, có điều gì được xem là "bất khả tri" hay không? Hoặc, có thể nào chúng ta biết ít hơn như chúng ta tưởng hay không? Chúng ta có nên có một sự lo lắng chính đáng về chủ nghĩa hoài nghi, tức quan điểm rằng chúng ta không thể hoặc không biết gì cả, hay không?

--
Áp dụng nhận thức luận vào thực tế?
Hiện nay, có rất nhiều thứ chúng ta đang làm (với tư cách cả một dân tộc) mà hoàn toàn không dựa trên nhận thức luận. Một ví dụ nổi tiếng mà giờ đây ta đã có câu trả lời chính xác, đó là việc "xây dựng chủ nghĩa xã hội bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa".

Tôi nhớ khi mới vào đại học, khi học chính trị và thảo luận chính trị (lúc ấy là năm 1978, năm mà việc cải tạo tư sản công thương nghiệp đang diễn ra, cùng một lúc với phong trào hợp tác hóa nông nghiệp), với tư cách lớp phó học tập tôi đã rất hăng hái "tuyên truyền" cho việc xây dựng một chủ nghĩa xã hội nơi không có người bóc lột người, mọi người vì mình mình vì mọi người, nơi bản chất là tốt đẹp (đương nhiên) còn nếu có gì chưa tốt thì nó chỉ là hiện tượng, vả lại, chúng ta đang xây dựng một xã hội chưa có tiền lệ trong lịch sử loài người nên những vấp váp, khó khăn đó cũng là dễ hiểu và hoàn toàn có thể chấp nhận được!

Để chỉ hơn 10 năm sau, năm 1989, chúng ta chứng kiến sự sụp đổ của toàn bộ hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu - lúc ấy, tôi đang ở Mỹ! Và đã được đọc, và xem trên TV, rất nhiều các cuộc phỏng vấn, các tranh luận và biện giải, về lý do sụp đổ của chủ nghĩa xã hội tại Đông Âu lúc ấy. Trên tinh thần của nhận thức luận, tôi tin rằng thế.

Bây giờ cũng vậy, có nhiều việc chúng ta đang làm mà hoàn toàn không dựa trên nhận thức luận. Ví dụ, làm sao biết đến năm 2020 chúng ta có thể có một trường đại học trong top 200 thế giới? Và làm sao biết điều đó có thể làm được theo cách làm hiện nay, đó là xây dựng 4 trường, trong đó có một trường ĐH Việt Đức đã bắt đầu hoạt động, 3 trường khác sẽ hoạt động vào năm sau, mỗi trường được đầu tư 100 triệu đô?

Vậy nên mọi việc phải bắt đầu từ đầu. Bằng cách học hành cho tử tế. Nghĩa là, người biết thì phải biết là mình biết, và người không biết thì biết mình không biết. Và, cái nào biết thì làm, cái nào không biết, và không thể biết, thì không nên thử! Và nhất là, đừng thí nghiệm trên con người, và trên cả dân tộc!

Nhân dịch từ "research paradigm", nghĩ vẩn vơ về ngôn ngữ, tư duy, triết học và khoa học

Research paradigm dịch sang tiếng Việt là gì nhỉ?

Tôi viết entry này vì đang tìm cách dịch từ research paradigm để tiếp tục một cuộc trao đổi nho nhỏ thú vị với bạn bè. Và viết với nhiều mục đích, trong đó trước hết là một mục đích "vị kỷ". Tôi vốn là dân humanities (nhân văn), thích văn chương, sáng tác, và cũng thích ngôn ngữ, lý luận hàn lâm, nghiên cứu.

Nói thế để chuẩn bị giải thích về việc tôi sắp làm, đó là câu nệ câu chữ khi dịch tài liệu tiếng nước ngoài ra tiếng Việt. Tôi biết nhiều người không phải dân văn chương ngôn ngữ sẽ thấy mất thì giờ khi chúng tôi bẻ câu bẻ chữ như thế này. Nhưng đối với bọn tôi, thì ngôn ngữ có lẽ là tất cả: là công cụ tư duy, là đối tượng và khách thể nghiên cứu, và là công cụ bày tỏ, diễn đạt kết quả nghiên cứu của mình. Là alpha và omega!

Ngoài mục đích vị kỷ, làm vì mình thích làm, tôi cũng có một mục đích "vị tha" hơn, là giúp mọi người, ít ra là sinh viên của tôi, hiểu đúng, nói đúng (khi cần chuyển ngữ giữa 2 tiếng Anh và tiếng Việt), và tư duy đúng (tôi tin thế, vì tư duy mạch lạc bắt đầu bằng việc có các định nghĩa rõ ràng - cái này có liên quan đến bản thể luận phải không bác Hải?)

Nhiều sinh viên của tôi sau khi học môn Phương pháp (luận) nghiên cứu (khoa học) (research methodology) nói với tôi rằng, chẳng hiểu gì ráo, cuối cùng chỉ còn nhớ có gặp hai từ là qualitative (định tính) và quantitative (định lượng) mà thôi. Còn tại sao 2 từ này lại quan trọng thế, thì hoàn toàn không hiểu!

Còn tôi, thì khi giảng bài, hoặc hướng dẫn luận văn, vẫn luôn kêu la rằng, các bạn thiếu nhiều quá, nhiều quá! Nói như thế, có lẽ là hơi vô trách nhiệm, vì nói theo kiểu VN, thì có dốt mới đi học, chứ giỏi rồi còn đi học gì nữa. Nhưng mà ... thực sự là các bạn thiếu rất nhiều! Mà cái thiếu lớn nhất, theo tôi, là thiếu hiểu biết về triết học!

Cái gọi là triết học mà các bạn học chỉ tập trung vào có một chủ thuyết duy nhất thôi, đó là triết học của Marx. Mà như thế thì rất chưa đủ. Đó là chưa kể việc dạy triết học của Marx trong trường hiện nay cũng chưa phải là hoàn hảo. Về việc này các bạn đọc một số bài trên blog của BS Hồ Hải thì rõ. Địa chỉ blog: http://www.bshohai.blogspot.com.

Quay trở lại câu hỏi ban đầu: research paradigm dịch là gì?
Câu trả lời đây - xin lỗi đã bắt các bạn chờ lâu: có thể dịch nó là "trường phái nghiên cứu" các bạn ạ! Và đây là một yêu cầu cơ bản khi bắt đầu nghiên cứu: ít nhất bạn cũng phải nói được là mình thuộc trường phái nào chứ, phải không?

Có lẽ sẽ có rất nhiều cách phân loại, nhưng tôi thích cách phân loại này (link: http://www.celt.mmu.ac.uk/researchmethods/Modules/Selection_of_methodology/index.php).

Dưới đây tôi xin tóm tắt và diễn giải thêm một vài điểm:

- Nghiên cứu cần bắt đầu bằng cách chọn một trường phái nghiên cứu (tức research paradigm - như trong bài viết trước của tôi, thì trường phái nghiên cứu, hay hệ thuyết nghiên cứu, bao gồm 3 yếu tố: bản thể luận, hay quan điểm về bản chất của các hiện tượng nghiên cứu; khoa học luận hoặc nhận thức luận, tức quan điểm về việc làm sao có thể hiểu biết về các hiện tượng cần nghiên cứu; và phương pháp luận, tức kế hoạch về con đường cụ thể dẫn mình đến câu trả lời hoặc giải pháp cần có)

- Hai trường phái nghiên cứu cơ bản, đại diện cho 2 lãnh vực khoa học ở hai cực đối lập với nhau là khoa học (science) và nghệ thuật (art), là positivism (thực chứng luận, hay chủ nghĩa thực chứng) và anti-positivism hoặc constructivism mà tôi tạm dịch là phi thực chứng luậnkiến tạo luận, hay thuyết kiến tạo.

- Cốt lõi tư tưởng của thực chứng luận có thể tóm tắt trong một câu là "ngoài kia có một thế giới khách quan, độc lập với kinh nghiệm của con người, và ta có thể nhận thức ra nó bằng cách quan sát, đo đạc, hoặc sờ vào nó". Ngược lại với nó là quan điểm kiến tạo, tức sự vật không tồn tại khách quan mà phụ thuộc vào sự trải nghiệm và tư duy của con người, theo kiểu "con người tạo ra thượng đế" (vì mình nghĩ là có thượng đế, nên mới có cái gọi là thượng đế).

- Từ hai quan điểm trên, ta có hai cách tiếp cận nghiên cứu (research approach) chính là định lượng (dành cho quan điểm thực chứng) và định tính (dành cho quan điểm phi thực chứng, hay quan điểm kiến tạo).

- Mỗi cách tiếp cận nói trên (mà theo tôi hiểu thì nó chính là vấn đề nhận thức luận, phải không bác Hải) sẽ có nhiều phương pháp cụ thể (methods) khác nhau. Ví dụ theo cách tiếp cận định lượng thì sẽ làm điều tra (survey), thực nghiệm (experimental), hoặc phương pháp tương quan (correlational). Và rất cần hiểu biết về thống kê để làm cho đúng! Còn làm định tính thì thường là case study (tôi dịch là điển cứu), phương pháp dân tộc học (ethnographic) - tức cùng ăn cùng ở cùng làm, quan sát, trao đổi tuơng tác, ghi chép rồi sau đó diễn giải ra các ý nghĩa, và phương pháp hiện tượng học (cái này tôi không rành, phải tìm hiểu thêm, và học hỏi ở các bạn bè đồng nghiệp khác).

- Riêng khoa học xã hội (social sciences) thì nó nằm giữa art và science, nên nó có khi sử dụng trường phái này, có khi sử dụng trường phái kia. Nói thêm: ngày nay người ta có khuynh hướng kết hợp cả hai trường phái trong nghiên cứu khoa học chứ không còn sử dụng đơn thuần một trường phái nào. Và khoa học xã hội bao gồm: kinh tế, giáo dục, xã hội học (sociology), và một số ngành khác. Khoa học nhân văn, hay là art, bao gồm triết học, văn chương, ngôn ngữ, mỹ thuật, vv. Cũng nói thêm: hiện nay có hiện tượng xóa nhòa ranh giới giữa khoa học xã hội và khoa học nhân văn.

--
Wow! Tôi cũng không ngờ mình có hứng để viết một mạch được dài như thế. Hứng này có được do trao đổi, tranh luận với bạn bè, cho nên rất cám ơn các người bạn của tôi đã cho tôi cảm hứng.

Tôi muốn nói thêm một chút để giải thích cái tựa của entry này. Tôi nghĩ, muốn tư duy tốt trước hết phải có năng lực ngôn ngữ, mà quan trọng nhất là trong việc sử dụng thuật ngữ. Ví dụ triết học là triết học, mà chính trị học là chính trị học. Hối lộ là hối lộ, chứ không phải là "quà biếu trên mức tình cảm". Khi có ngôn ngữ chính xác, và tư duy tốt rồi, thì học triết chắc không có gì khó khăn lắm. Và có nền tảng triết học tốt, thì làm việc gì cũng sẽ tốt, và chắc chắn là nghiên cứu tốt. Mà tất cả những điều này bắt đầu ở trong trường, ngay từ những lớp nhỏ. Có phải vậy không bác Hải?

Còn phần ở trên là tóm tắt và diễn giải của tôi với cái Table 1 ở trong bài viết bằng tiếng Anh mà tôi giới thiệu ở trên, hy vọng giúp ích cho các bạn sinh viên ít nhiều khi đọc sách và làm nghiên cứu. Tôi cũng biết tật của mình là nói lằng nhằng khó hiểu. Có lẽ một phần do tôi nghĩ nhanh quá. Hoặc cũng có thể do đầu óc rối rắm quá ;-).

Và hy vọng các bạn đọc xong không bị nhức đầu! Nhưng nếu nhức đầu, thì ... cũng ráng chịu thôi! ;-)

Còn bạn nào không nhức đầu mà vẫn thích thú thì nên đọc thêm cái này.
Link: http://diendankienthuc.net/diendan/showthread.php?t=5553.
Enjoy!

Lại nói chuyện dịch: Ontology, epistemology, methodology, phenomenology, research paradigm, and other terms

Gửi các bạn sinh viên cao học của tôi

Mấy từ tôi mới viết ra là những từ mà một sinh viên cao học nào (well, ít ra trong lãnh vực social sciences and humanities) cũng sẽ gặp khi đọc tài liệu bằng tiếng Anh về phương pháp nghiên cứu khoa học. Nó cũng là những từ mà GS Fran Hoffmann đưa vào list vocabulary mà bà ấy dạy cho lớp Nghiên cứu khoa học mà tôi đang tổ chức tại ĐHQG.

Và chắc chắn là những từ này rất là threatening đối với sinh viên! Nên để cho nó student-friendly (!), trước hết là phải dịch nó ra tiếng Việt. Vây thì đây, dịch theo những cái tôi đã biết (cũng chẳng rõ học từ đâu, vì đa số là tự học mà!):

Ontology = bản thể luận;
Epistemology = nhận thức luận (có nơi gọi là khoa học luận)
Methodology = phương pháp luận
Phenomenology = hiện tượng học
Research paradigm = mô thức nghiên cứu


Nhưng tất nhiên dịch xong thì ... vẫn như không, vì vẫn chưa hiểu những bản thể luận, nhận thức luận, hiện tượng học, mô thức nghiên cứu ấy nó là cái gì. Vậy thì xin đọc bằng tiếng Anh tại đây.

Link: http://www.ul.edu.lb/fthm/papers/3rd%20Axis/Methodology%20greece.doc

Nếu vẫn không hiểu, có thể đọc bằng tiếng Việt, đã được viết cho người bình dân (!), ở đây. Link: http://bshohai.blogspot.com/2009/12/noi-chuyen-triet-hoc-cua-nguoi-ngoai-ao_12.html

Còn dưới đây thì xin cung cấp thêm một vài phần trích dịch từ bài viết bằng tiếng Anh mà tôi cho là đã rất rõ ràng dễ hiểu lắm rồi, nếu không hiểu có lẽ là do nhai chưa kỹ, cố gắng nhai rồi sẽ thấy nó ngon các bạn ạ!

Đây:
Abstract
There is a great number of issues related to the philosophical design and methodological approach that the researcher has to take into consideration beginning a research [...]. The nature of reality and the nature of knowledge have significant impacts in the research design. Such philosophical issues need to be addressed explicitly since they shape the choice of research instruments.

Tóm tắt
Có khá nhiều vấn đề liên quan đến khía cạnh triết lý của thiết kế và cách tiếp cận về phương pháp luận mà một nhà nghiên cứu cần phải quan tâm trước khi bắt đầu một đề tài nghiên cứu [...]. Bản chất của hiện thực và bản chất của tri thức có ảnh hưởng lớn đến thiết kế nghiên cứu. Những vấn đề triết học như vậy cần được đề cập đến một cách tường minh vì chúng sẽ quyết định việc lựa chọn công cụ nghiên cứu.


(đọc xong, chẳng hiểu gì hết phải không các bạn?)

Vậy thì tiếp nữa:
According to Denzin and Lincoln (1994), paradigm is the basic set of beliefs that guide action that can be viewed as consisting of three main elements: ontology, epistemology and methodology.

Theo Denzin và Lincoln (1994), mô thức là một bộ các niềm tin hướng dẫn hành động mà ta có thể xem là bao gồm 3 yếu tố: bản thể luận, nhận thức luận, và phương pháp luận.

Epistemology refers to the question of how we know the world. It looks at the relationship between the inquirer and what can be known by direct observation at the external world to uncover knowledge or when the observer and the subject of inquiry must interact to create knowledge.

Nhận thức luận nói về việc chúng ta hiểu biết thế giới này bằng cách nào. Nó nhìn vào mối liên hệ giữa người nghiên cứu và cái mà người đó có thể biết được thông qua quan sát trực tiếp thế giới bên ngoài để khám phá ra tri thức, hay khi người quan sát phải tương tác với khách thể nghiên cứu để tạo ra tri thức.

(Phần trên là dịch chữ, word-for-word translation, khó hiểu quá phải không. Xin dịch lại ra ngôn ngữ bình dân cho dễ hiểu:

Nhận thức luận là một quan điểm giúp ta trả lời câu hỏi "làm sao mình biết được điều đó?". Có phải chỉ cần quan sát rồi sẽ biết, hay là phải tương tác với nó rồi mới biết?

Chẳng hạn, để trả lời câu hỏi "anh ấy có yêu mình không?", có cô gái sẽ tin rằng "cứ chờ xem đến ngày sinh nhật của mình anh ấy có tặng hoa không, đi chơi chung anh ấy có trả tiền không, anh ấy có chiều mình không" là biết ngay. Còn có cô thì tin rằng những cái ấy chỉ là làm màu mà thôi, chưa thể biết được, phải "sống lâu mới biết đêm dài"! Đại khái thế.)


Tạm thời thế. Sẽ viết tiếp cho các bạn sau nhé, bây giờ bắt đọc nữa chắc là hết "dzô" rồi!
--

Viết tiếp một chút:

Về từ paradigm, nếu dịch là "mô thức" thì có lẽ chưa tốt lắm (các bạn xem comment của BS Hồ Hải bên dưới), nên có lẽ sẽ nghĩ lại. Một từ khác đã được dùng để dịch paradigm là hệ thuyết; từ này có vẻ rõ nghĩa hơn (hệ thuyết = hệ thống lý thuyết), nhưng "hệ thuyết nghiên cứu" nghe "hàn lâm, kinh viện", tối tăm quá. Tôi đang nghĩ đến từ "trường phái nghiên cứu", không biết dùng ở đây có phù hợp không (trong tiếng Anh, "trường phái" được dịch là "school").

Sẽ nghĩ thêm. Chân lý là một cuộc hành trình bất tận. Nên cô PA viết sách mãi có bao giờ xong đâu ;-). Công trình nào cũng thành Cầu Giần Xây hết (tức là xây dần dần ấy các bạn ạ - cái này là ông xã tôi nói đấy!)