Thứ Hai, 6 tháng 7, 2015

Tư liệu: Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh họa (Nguyễn Minh Châu 1987)


HÃY ĐỌC LỜI AI ĐIẾU  CHO MỘT GIAI ĐOẠN VĂN NGHỆ MINH HỌA


NGUYỄN MINH CHÂU
Văn nghệ, Hà Nội, số 49 & 50 (5-12-1987)
 Là một người sáng tác, chắc tôi cũng giống như nhiều anh em sáng tác khác, có thói quen vừa viết vừa tự quan sát, nhìn theo cái ngòi bút của mình có lúc đầy hào sảng có lúc lại đầy đắn đo hồi hộp lẫn e ngại chạy trên mặt tờ giấy định mệnh.
Chao ôi, để bụng không nói ra thì thôi chứ nói ra cái chuyện này nó vui lắm, mà nó cũng buồn lắm, có đôi khi buồn đến thối ruột! Thú thật chừng ba bốn năm trở lại đây tôi cứ nổi lên nhũng cơn ngán giấy bút, hay so sánh mình với những anh em bạn bè cầm bút một cách suôn sẻ bình thản, được trời đất ban cho một cái tạng nhà văn luôn luôn sẵn sàng thích nghi với mọi thứ lý luận và luật lệ văn học, họ thật sướng, viết ra trang giấy mà trong bụng chẳng bao giờ có điều gì phải sợ sệt, lo lắng, như một người bao giờ cũng sống đĩnh đạc, cứ thẳng đường chính rộng lớn mà đi; còn mình thì y như một kẻ gian phi lúc nào cũng như đang lén lút thu giấu cái gì quốc cấm trong cạp quần hay dưới áo. Nghĩ mà buồn quá, nghề giấy bút nó chẳng nuôi gì được mình mà chỉ thấy nó hành mình.
Có lúc - nói ra thật lẩm cẩm - tôi lại hay đem so sánh mình với các nhà văn của những đất nước hàng trăm năm bình ổn, các nhân vật của họ phải chịu đựng nỗi đau khổ dằn vặt thật là sang trọng, chứ đâu như cái đám nhân vật của mình, không những cái đau khổ, hoạn nạn mà cả cái vui, cái hạnh phúc của họ nó cũng nhem nhuốc, nhớn nhác, tội nghiệp quá! Hỡi ôi, bao giờ nhân vật của mình mới được sang trọng, để cho mình cũng sang trọng lây!
Có lúc tôi lại đem công việc của chúng ta so sánh với công việc của các nhà tiền chiến cầm bút trước cách mạng, gọi là các nhà văn hiện thực phê phán. Ví dụ như ông Nam Cao chẳng hạn. Có lần ông ấy la lối, hô hoán ầm lên rằng thiên hạ bít hết lối của ngòi bút ông ấy. Viết cây chuối hay con chó hoặc kẻ say rượu đều phạm húy, đều có người đe đánh, đe đốt nhà. Bị o ép đến vậy tưởng không viết được gì, thế mà cuối cùng, cả một đời cầm bút của Nam Cao trước cách mạng số năm có là bao nhiêu đâu, vậy mà đủ để lại khá nhiều, nhất là có thể có cái quyền viết rất thực, bao nhiêu lẽ đời, sự đời, bao nhiêu khuôn mặt người đời thực đến thế. Chí Phèo thực đến thế. Thật là vừa được viết vừa được nói. Chứ như đám chúng tôi, từ nhà văn trẻ đến lớp nhà văn già được chăm sóc chăn dắt kỹ lưỡng quá đi mất. Sao lại như vậy nhỉ, sau bốn chục năm nhìn trở lại những nhà văn tiêu biểu của nền văn học phần đông nếu không phải là tất cả, đều có tì vết trong lịch sử đời cầm bút? Rồi thì từ đấy bắt buộc sinh ra một cái thói quen không biết bắt đầu từ lúc nào mà tôi nghĩ nó rất thảm đối với tư cách của một người nghệ sĩ, hễ cầm bút là phải nghĩ đến né tránh, che chắn, rào đón, đối phó. Có vẻ tuồng như mỗi nhà văn mỗi khi ngồi trước trang giấy là cùng một lúc phải cầm hai cây bút: một cây bút để viết cho người đọc bình thường, cho đời, một cây bút khác viết cho đạo, lo việc che chắn, viết cho lãnh đạo văn nghệ đọc. Mà cái ngòi bút thứ hai này – buồn thay – các nhà văn cầm lâu ngày để tự bảo vệ mình cho nên cũng lắm kinh nghiệm, mà cũng tài hoa lắm!
Quả thật tôi không có tài rào đón, che chắn nhưng cầm bút viết văn đến một lúc ngồi nghĩ lại cũng tự nhiên sinh ra giận mình đến phát chán mình, chán cả cho đồng nghiệp, bè bạn. Điều đáng buồn nhất là những người phải xoay trở, vặn vẹo cây bút, phải làm động tác giả nhiều nhất là những nhà văn có tâm huyết, có tài, muốn văn học phải có cái gì của văn học, chứ không muốn văn học chỉ là một sự minh họa. Trong khi đó những cây bút minh họa, những tác phẩm minh họa hoặc ca ngợi một chiều thì lại thoải mái, người viết cầm bút thoải mái mà chẳng có gì phải luồn lách, phải đắp đậy, rào đón, chỉ phải cái nó công thức và sơ lược, nó nhạt, và càng ngày người đọc càng thấy nó giả, mỗi ngày người đọc càng thấy rõ ở những tác phẩm minh họa và ca ngợi một chiều một sự giả dối không thể nào bào chữa nổi, đắp đậy nổi, so với cuộc đời thực bên ngoài.
Tôi không hề nghĩ rằng mấy chục năm qua nền văn học cách mạng – nền văn học ngày nay có được là nhờ bao nhiêu trí tuệ, mồ hôi và cả máu của bao nhiêu nhà văn – không có những cái hay, không để lại được những tác phẩm chân thực. Nhưng về một phía khác, cũng phải nói thật với nhau rằng: mấy chục năm qua, tự do sáng tác chỉ có đối với lối viết minh họa, văn học minh họa, với những cây bút chỉ quen với công việc cài hoa, kết lá, vờn mây cho những khuôn khổ đã có sẵn mà chúng ta quy cho đấy đã là tất cả hiện thực đời sống đa dạng và rộng lớn. Nhà văn chỉ được giao phó công việc như một cán bộ truyền đạt đường lối chính sách bằng hình tượng văn học sinh động, và do nhiều lý do từ những ngày đầu cách mạng, các nhà văn cũng tự nguyện tự giác thấy nên và cần làm như thế (thậm chí có phần nào các nhà văn mới đi theo cách mạng và kháng chiến còn coi đó là cái mới, là hoàn cảnh "lột xác"). Từ đấy rồi trở thành thói quen. Thói quen của một người vốn quen đi trong một hành lang hẹp, vừa hẹp vừa thấp. Lần lượt bắt đầu là các nhà văn tiền chiến rồi hết lớp người cầm bút này đến lớp người cầm bút khác, với một khả năng thích nghi hết sức ghê gớm, các nhà văn đã thích nghi với văn học minh họa như thích nghi với cách sống gian khổ, thiếu thốn trong chiến tranh. Những nhà văn tuy đều cảm thấy thiếu thốn và bức bối nhưng lại tự dụ dỗ mình và khuyên nhủ lẫn nhau tự bạt chiều cao cho thấp đi khỏi chạm trần, tự ép khuôn khổ chiều ngang lại để khỏi kềnh càng, để đi lại được thoải mái trong cái hành lang kia.
Tuy vậy, cứ mỗi lần hết chiến tranh chuyển sang hòa bình hoặc cứ lâu lâu sau một số năm, đường hướng minh họa và tình hình mất dân chủ trong văn nghệ lại làm dấy lên những vụ này vụ khác. Những người "lính gác" lại có dịp "khép lại" và không rời mắt khỏi từng người, đặc biệt là những người có tài hay có tật và không ngừng thuyết phục với tất cả cũng như với từng người rằng cái hành lang kia là tất cả thế giới của văn nghệ cách mạng. Không khí để thở, bầu trời để ngắm, đất dưới chân để đi lại chỉ có thế và đấy là tất cả thế giới minh họa, ở trong đó nhà văn tha hồ vùng vẫy, sáng tạo và phát huy tài năng. Trong nghệ thuật hội họa châu Âu chẳng đã từng để lại những tác phẩm danh họa về lịch sử tôn giáo và đời các thánh, thực sự những tác phẩm hội họa cổ điển sẽ sống đời đời ấy là những tác phẩm minh họa. Tôi nghĩ rằng đường lối chính sách của Đảng, kể cả những cái sáng suốt đúng đắn cũng như cái sai lầm đang được điều chỉnh trong từng thời kỳ bao giờ cũng có thể soi rọi, giúp nhà văn nhìn thấy những vấn đề thực tế rất sâu xa của đất nước, gợi ý cho nhà văn những suy nghĩ, chiêm nghiệm quý báu. Nhà văn như một người trinh sát cuộc đời, vậy thì việc tìm hiểu sự hình thành những đường lối chính sách chính là sự tìm hiểu việc đời từ trong quá trình.
Ý nghĩa tác dụng của đường lối, chính sách đối với văn nghệ là như vậy. Tôi nghĩ rằng khi nhà nghệ sĩ đứng trước một sự vật, nảy ra ý tưởng minh họa khi tìm thấy ở nó tràn ngập cảm xúc về cái chân lý và cái đẹp.
Thất thiệt to lớn nhất của văn nghệ minh họa của ta là từ đấy những nhà văn đánh mất cái đầu và những tác phẩm văn học đánh mất tính tư tưởng, – nghĩa là những tư tưởng mới và độc đáo mang tính khái quát cuộc đời của riêng từng nhà văn. Như một người đánh mất phần hồn chỉ còn phần xác, hoặc chỉ còn cái phần hồn do nhà nước bao cấp. Chúng ta không thiếu những nhà văn có lòng và có thực tài nhưng cũng không vì thế hàng chục năm qua có khi họ phải ôm hai thứ đó trong người như hai thứ tội nợ, vì thế mà đâm ra sợ chính mình. Sau một vài lần viết ra bị vấp váp, bị thổi còi, bị phê phán trên báo, được tập thể góp ý xây dựng, nhà văn ngồi một mình giữa vắng vẻ ngâm nga: "Chút lòng trinh bạch từ nay xin chừa", nhưng làm sao mà chừa được. Con người nghệ sĩ là thế đấy, dù cho rằng anh ta hèn đớn vẫn không chừa được thói quen khao khát sáng tạo, lời nói thật và chút lòng với đời. Nó như một thứ bản chất thiên phú, hay một thứ bản chất giời đày?
Rồi vẫn được viết, vẫn cầm bút, vừa muốn phô diễn tư tưởng, chõ miệng ra giữa hai hàng chữ để cảnh tỉnh với đời một cái điều gì đó tiên cảm thấy trong đời sống nhưng lại muốn giấu đi, gói nó trong bao lần lá, rào nó sau bao tầng chữ. Văn chương gì mà muốn viết một câu trung thì phải viết một câu nịnh? Hèn, hèn chứ? Nhà văn nước mình tận trong tâm can ai mà chẳng thấy mình hèn? Cái sợ nó làm mình hèn. Vì thế mà từ xưa tới nay có bao nhiêu nhà văn nhà thơ đã đi ở ẩn ngay trong tác phẩm? Chúng ta vắng thiếu những cây thông đứng sừng sững. Có một nhà văn đàn anh nâng chén rượu lên giữa đám đàn em: "Tao còn sống, còn cầm bút được đến bây giờ là nhờ biết sợ!", nói rồi ngửa mặt lên trời cười rung giường, nước mắt tuôn lã chã, giọt đổ xuống đất, giọt đổ vào lòng. Có người cầm bút đến lúc sắp bước sang thế giới bên kia vẫn chưa dám thốt lên một lời nói thật tự đáy lòng, không dám viết hồi ký thực, vì sợ để liên lụy đến đời con cái. Có người lại biến cái sợ cái hèn thành một thứ vật trang sức và thách thức, vật biểu hiện của sức sống dai dẳng. Giữa chồng sách trước mặt tôi lúc này là hai tập Các nhà thơ cổ điển Việt Nam của nhà thơ Xuân Diệu. Một nhà thơ lớn như Xuân Diệu làm một công việc rất công phu là bình giá và giải thích những giá trị văn học cổ điển của nước nhà, mà sao Xuân Diệu phải rào đón, dựng lên bao nhiêu là lớp phên giậu để tự che chắn? Sao mà khổ vậy? Rồi thì dù không muốn tôi cũng phải nói rằng sự độc đoán và chế áp của lãnh đạo văn nghệ trong nhiều năm qua đã khiến cho những nghệ sĩ chân chính luôn luôn gắn bó với cách mạng, với Đảng, suốt đời cảm thấy phạm tội.
Cũng trong một con người cầm bút, có khi cái phần bất tài nhảy lên bục tao đàn để múa may, còn cái phần tài năng thì trùm chăn nằm chờ ngày xuống mồ!
Con đường của một cây bút trẻ hăm hở phấn đấu hết mình để trở thành nhà văn cũng là con đường phải giết đi cái phần nhà văn trong con người mình, con đường tự mài mòn đi mọi cá tính và tính trung thực trong ngòi bút!
Chúng ta phải nhìn lại kỹ càng cái hành trình văn học đã đi qua bằng con mắt thông minh, không phiến diện và thực sự cầu thị, để một mặt không phủ định tất cả, một mặt khác, với một tinh thần tự phê phán thấy cho được rằng: có thể đôi khi với động cơ tốt chúng ta đã trói buộc lẫn nhau trong một thời gian hơi quá dài của mấy lớp người cầm bút, trong khi lại đòi hỏi phải có những tác phẩm lớn. Thật là mâu thuẫn. Chả khác nào trói lại rồi bảo đố mày bay lên!
Muốn có tác phẩm lớn, nhưng liệu chúng ta có chấp nhận nổi những tính cách ngòi bút của một nghệ sĩ với tầm tư tưởng lớn mà tôi nghĩ bao giờ nó cũng quá chói sáng, với những điều nói thật không phải bao giờ cũng dễ nghe, thậm chí có thể làm đảo lộn mọi quan niệm với những nỗi dằn vặt, băn khoăn lớn chung quanh cái bề mặt nhãn tiền và tận chín tầng đất sâu của cuộc sống con người trên dải đất này.
Và tác phẩm lớn là gì?
40 triệu dân của đất nước Tây Ban Nha được nhân loại biết đến và kính trọng bằng một lão gàn vĩ đại vì mang trên mình tất cả tính ảo tưởng muôn đời của toàn thể nhân loại.
Và gần một tỷ người của đất nước Trung Hoa được nhân loại thấu hiểu sâu sắc bằng một anh chàng nông dân A.Q.
Cả Don Quichotte lẫn A.Q chẳng hề làm xấu Tây Ban Nha lẫn Trung Quốc, mà làm đẹp cho cả hai đất nước này.
Tài năng, nhất là những thiên tài bao giờ cũng như là của bắt được, của trời cho, ai mà biết được bao giờ thì họ đến, nhưng cũng như một Nguyễn Du, họ đến cũng trong khắc khoải nhân sinh, chỉ có điều đau đớn hơn mọi chúng ta, và cũng trong lầm lũi cát bụi cuộc đời thường. Nhiệm vụ của chúng ta là chuẩn bị bầu không khí cho họ thở, cho họ sống, đừng giết chết họ, đừng ghen tỵ với họ, đừng làm họ sống dở chết dở mà vẫn phải nở nụ cười, đừng làm cho họ thui chột trí tuệ lẫn tình cảm, đừng khiến họ cuối cùng trở thành chúng ta.
Công việc chuẩn bị cho thế hệ trẻ của Hội Nhà văn hôm nay không phải là chuẩn bị cái lò ấp hàng trăm hàng ngàn quả trứng gà trứng vịt, mà là chuẩn bị cho những tư cách nghệ sĩ và tài năng lớn ra đời.
Nói thế có bốc đồng chăng, cao vọng quá chăng? Nhưng chúng ta phải đốt lên ngọn lửa cao vọng! Chẳng lẽ mãi mãi thế hệ nhà văn Việt Nam chúng ta vẫn cứ yên tâm sản xuất ra toàn những sản vật không bao giờ được ngó đến trong nền văn học thế giới. Chẳng lẽ Việt Nam ngày nay chỉ hưởng của thiên hạ mà không làm ra được cái gì góp vào của chung của thiên hạ? Chẳng lẽ các nhà văn Việt Nam đi ra ngoài mãi mãi chỉ có chung một cái tên riêng là nhà văn Việt Nam? Để rồi quay trở về, con hát mẹ khen hay? Và đàn con cứ mãi mãi suốt đời tự hào được người mẹ ở trong nhà khen ngợi!?
Tôi nghĩ rằng trước hay sau, ai cũng trở thành bảo thủ, lạc hậu, cũ kỹ cả. Bảo thủ về già là một quy luật. Trong khoa học, đến một bộ óc mới mẻ như Einstein về già còn bảo thủ cơ mà! Cái mới nào mà chả cũ đi, – trên dòng thác biến đổi qua thời gian? Cái chính là chúng ta biết cười xòa chợt nhận ra mình đã sai lầm, đã bảo thủ. Chúng ta sẽ trở nên sáng suốt hơn sau cái tiếng cười ấy. Bởi vì sau đó chắc chắn chúng ta sẽ không bao giờ giơ tay ngăn cản cái mới, cái tiến bộ, mà sẽ xuất hiện một quyết tâm làm mới lại mình với thái độ chân thành, xởi lởi, cởi mở, để cùng nhau xây dựng một giai đoạn văn học và văn nghệ mới.
Vừa qua chúng ta có in lại tuyển tập của các nhà văn đàn anh. Giở những bản tổng kết những đời văn như còn đẫm mồ hôi ấy, điều khôn ngoan cuối cùng rút ra là không chừa một ai, tất cả chúng ta phải biết lễ phép trước quy luật đào thải. Những cái gì đích thực văn chương thì nó còn, không tái bản, không tuyển tập, báo chí không đề cao lên nó cũng còn. Nó còn như đất cát, cây cỏ, như ca dao, tục ngữ, như cuộc sống bình dị và bền vững luôn luôn còn đó. Còn những gì phe phẩy, ưỡn ẹo hoặc cứ nhảy cẫng lên thì ngược lại, nó mất, cát sỏi lại trở về cát sỏi. Tôi đọc những tuyển tập thấy rất tiếc cho những tài năng. Giá mấy chục năm qua văn nghệ không chủ yếu lấy minh họa làm đường hướng, đừng có cái hành lang hẹp và thấp ấy, cả cái bầu không khí nghi ngờ lơ lửng trên đầu các văn nghệ sĩ, mà chủ trương khuyến khích cá tính, khuyến khích sáng tạo và chấp nhận đa dạng, chấp nhận sáng tối, hoàn toàn đặt lòng tin vào lương tri của các nhà văn, không nửa tin nửa nghi ngờ và đề phòng, để cho văn nghệ một khoảng đất rộng rãi hơn nữa thì các nhà văn và những nghệ sĩ sáng tạo đến nay đã đầu bạc phơ, kẻ còn người mất, họ còn để lại cho chúng ta nhiều hơn thế này. Và không khéo những cái gì và những người mà lâu nay chúng ta kêu ca, lên án hoặc cố tình quên đi lại là những cái, những người còn lại, còn để lại.
Sự còn lại mất đi của số phận những tác phẩm văn học cũng như những đời văn trong độ lùi thời gian bao giờ cũng ngầm chứa đựng một sự lựa chọn đầy huyền diệu và công bằng.
Hình như nhân dân, cái nhân dân Việt Nam đầy trầm tĩnh và kỳ tài mà hình ảnh đã được nghệ thuật điêu khắc từ hàng trăm năm nay chạm khắc lên khối gỗ thành bức tượng ngàn mắt ngàn tay, đến hôm nay vẫn không ngừng sáng suốt lựa chọn giúp cho chúng ta những cái gì đích thực của nghệ thuật, giữa những đồ giả, để bỏ vào cái gia tài văn hóa của đất nước để lại từ Đinh, Lê, Lý, Trần. Và cũng nhân dân, cái nhân dân Việt Nam dũng cảm sau mỗi lần đánh giặc xong lại lặng lẽ và lầm lụi làm ăn đang giơ bàn tay chai sạn vẫy chúng ta lại, kể cho chúng ta nghe về cái nhất thời ở trong cái muôn đời, cái độc ác nằm giữa cái nhân hậu, cái cực đoan nằm giữa tinh thần xởi lởi, cởi mở, cái nhẩy cẫng lên lấc láo giữa cái dung dị, thái độ bình thản chịu đựng và tinh thần trách nhiệm đầy suy nghĩ.
Nguồn: Văn nghệ, Hà Nội, số 49 & 50 (5-12-1987)
 

Chủ Nhật, 28 tháng 6, 2015

Bài viết mà mọi người Việt đều phải đọc

"Quý quốc chớ lo không có ngày độc lập, mà chỉ nên lo quốc dân không có đủ tư cách độc lập." 

Lương Khải Siêu khuyên Phan Bội Châu  


NỖ LỰC CÓ THỂ THAY ĐỔI ĐƯỢC THIÊN MỆNH

Đã là con người thì dù là người giàu hay người nghèo, kẻ mạnh lẫn kẻ yếu, nhân dân hay chính phủ, tất cả đều bình đẳng về quyền lợi. Tôi đã viết rõ ở Phần hai về vấn đề này.

Chữ “Quyền lợi”, tương ứng với chữ “Right” trong tiếng Anh.

Bây giờ, tôi thử luận từ này rộng ra, ở góc độ quốc gia với quốc gia xem sao.

Quốc gia là nơi người dân xứ sở đó ở. Nhật Bản là nơi dân Nhật ở. Anh quốc là nơi dân Anh ở.  Người Nhật cũng như người Anh, đều là con người, được tạo hoá sinh ra trong cùng trời đất. Nên không có đạo lý nào cho phép dân hai nước chà đạp lên quyền lợi của nhau. Không một đạo lý nào cho phép người này làm hại người kia. Cũng không có lý lẽ nào dung thứ cho một nhóm người này xâm phạm quyền lợi của một nhóm người kia. Đạo lý đó đúng với mọi trường hợp, không phụ thuộc vào đa số hay thiểu số. Kể cả có là một triệu người hay một trăm triệu người cũng vậy.

Trên thế giới hiện nay, có quốc gia giàu mạnh, văn minh tiến bộ, giáo dục phát triển, quốc phòng vững mạnh thì cũng có quốc gia còn nghèo khổ, man rợ hoang sơ,giáo dục lạc hậu, quốc phòng yếu kém. Nhìn chung thì châu Âu, châu Mĩ giàu mạnh,còn châu Á, châu Phi nghèo yếu. Thế nhưng, sự giàu nghèo, mạnh yếu ở mỗi quốc gia là do thực trạng của từng quốc gia và do điều kiện của mỗi nước nên mới có sự khác nhau. Nhưng sẽ ra sao, nếu có quốc gia viện cớ giúp đỡ các nước nhỏ yếu phát triển giàu mạnh như nước mình để áp đặt những điều vô lý lên các nước đó.Làm như vậy có khác nào một đô vật Sumo lực lưỡng cứ đòi vật nhau với một người đau ốm lẻo khoẻo. Cho dù họ có biện minh cho hành động của mình là vì quyền lợi quốc gia, nhưng đó là những hành động bạo ngược không thể dung thứ.

Nước Nhật Bản chúng ta hiện nay yếu kém, hoàn toàn không thể sánh vai với các cườngquốc Âu Mĩ giàu mạnh. Nhưng về quyền lợi,với tư cách là một quốc gia, thì chúng ta hoàn toàn ngang hàng với họ. Trường hợp nếu các cường quốc phương Tây đi ngược lại đạo lý Quốc tế, xâm phạm đến lãnh thổ của chúng ta thì cho dù có phải biến cả thế giới này thành kẻ thù, chúng ta cũng quyết không sợ. Như tôi đã nói ở Phần một, khi đất nước bị làm ô nhục thì tất cả người Nhật Bản chúng ta sẵn sàng xả thân để bảo vệ đến cùng thanh danh của Tổ quốc.

Nhưng còn tình trạng giàu nghèo, mạnh yếu dứt khoát không phải do mệnh Trời hoặclà do ý Trời mà ta đành phải cam chịu. Mà đó là do con người có nỗ lực hay không chịu nỗ lực mà thôi. Nhờ nỗ lực như thế, không biết chừng mới hôm qua còn là kẻ ngu dốt, nhưng ngày mai đã trở thành người tài giỏi; mới hôm qua còn tự vỗ ngực giàu mạnh, nhưng ngày mai trở nên hèn kém. Từ xa xưa, lịch sử đã nhiều lần minh chứng cho điều này.

Quốc dân Nhật Bản chúng ta phải xắn tay ngay vào học tập, hun đúc chí khí. Trước hết mỗi cá nhân, từng con người hãy kiên quyết tự chủ, độc lập. Có như vậy, đất nước mới giàu mạnh. Có như vậy chúng ta mới hết mặc cảm, hết sợ hãi trước các thế lực phương Tây.

Nói tóm lại, nước Nhật Bản chỉ có một con đường là phải mở rộng quan hệ ngoại giao với các quốc gia tôn trọng đạo nghĩa. Còn đối với các nước không tôn trọng đạo nghĩa chỉ muốn dùng sức mạnh thì chúng ta phải can đảm tranh đấu để xoá bỏcác cuộc thương lượng bất bình đẳng.

Mỗi người tự chủ, độc lập thì đất nước sẽ tự chủ, độc lập, nghĩa là vậy.


THƯỜNG XUYÊN "TÔI LUYỆN CHÍ KHÍTINH THẦN" LÀ RẤT QUAN TRỌNG
Như tôi đã trình bày, quan hệ giữa quốc gia với quốc gia là mối quan hệ bình đẳng. Nhưng người dân nước đó thiếu tinh thần tự chủ, thiếu ý chí độc lập thì khó có thể tranh đấu với thế giới để bình đẳng về quyền lợi với tư cách là một quốc gia độc lập. 

 
Đó là do ba lý do dưới đây.

Thứ nhất, Quốc dân không có tính cách độc lập thì lòng yêu nước cũng hàm hồ, nông cạn, vô trách nhiệm.

Tính cách độc lập là gì? Là tính cách không dựa dẫm hay ỷ lại vào người khác.Việc của mình, mình phải tự lo giải quyết. Người có tính cách độc lập là người không bị chi phối hoặc chịu ảnh hưởng của người khác, tự mình biết phân biệt sự thể đúng sai, phải trái, không phạm sai lầm trong hành động. Người độc lập về kinh tế là người có thể sống mà không cần dựa vào sự viện trợ của người khác.

Nếu như toàn thể quốc dân, ai nấy đều chỉ tìm cách dựa dẫm hay ỷ lại vào ngườikhác, không có tính độc lập thì khi ra xã hội cũng sẽ lại trở thành những kẻ chuyên ăn bám đục khoét tiền của của đất nước, của các tổ chức xã hội. Giữa cá nhân với cá nhân có lẽ cũng chẳng còn ai sẵn lòng giúp đỡ ai. Tất cả đều dửng dưngvới nhau, có nhìn thấy người mù loà qua đường cũng không một ai chìa tay ragiúp đỡ.

Cổ nhân có câu: "Dân thì phải tuân theo sự cai trị. Còn cai trị thế nào thì dân không cần phải biết." Câu này có nghĩa là ở trên đời, những ngườ hiểu được đạo lý không nhiều. Chi bằng thiểu số người đó lên nắm chính trị, cai trị nhân dân, bắt dân phải tuân theo chính sách vạch ra là được. Không cần phải thông báo hay giải thích gì cả. Như thế tốt hơn là việc cái gì cũng phải giải thích, phải cắt nghĩa, mà có giải thích xong, cắt nghĩa xong thì đâu lại vào đấy, cứ như nước đổ đầu vịt vậy.

Đây là lời răng dạy của Khổng Tử. Nhưng lời răng dạy này thật phi lý, hoàn toàn xa rời thực tế.

Người có năng lực để có thể cai trị được dân chúng thật ra rất ít ỏi. Trong cả ngàn người may ra mới có được một người. Giả dụ, dân số của một quốc gia nọ là một triệu người. Trong số đó chỉ có một nghìn người có tri thức. Chín trăm chín mươi chín nghìn người còn lại là những kẻ một chữ cắn đôi cũng chịu. Cứ cho rằng một nghìn người có trí tuệ đó, cai trị số dân ngu bằng tất cả lòng yêu thương, chăm bẵm họ như chăm bẵm bầy cừu. Và chín trăm chín mươi chín nghìn ngưòi mù chữ này cũng một mực tuân theo lời răng dạy của "cha mẹ dân", sống trong cảnh ngu si hưởng thái bình. Cứ như thế, dần dần quan hệ giữa người cai trị và nhân dân sẽ trở thành quan hệ chủ nhân và khách ăn nhờ ở đậu. Mà đã là thân phận ăn nhờ ở đậu thì nhân dân (khách) cứ chỉ biết dựa vào chính phủ (chủ nhân). Ngườidân đâu cần màng tới việc nước, càng không chút mảy may lo lắng tới vận mệnh quốcgia. Việc quốc gia đại sự đã có chủ nhân lo rồi.

Và cũng giả dụ, quốc gia này bị nước ngoài gây hấn, chiến tranh bùng nổ. Và cứ giả sử là không có một người dân nào phản bội, bán mình cho nước ngoài. Vậy thì sự thể sẽ ra sao?

Từ trước tới nay, dân chúng như bầy cừu ngoan ngoãn nghe theo chính phủ và họ cũng chẳng có điều gì phải phàn nàn về chính phủ cả, nhưng khi bảo họ phải hi sinh tính mạng để bảo vệ đất nước thì đừng tưởng rằng họ cũng sẽ một mực tuân theo. Tôi chắc rằng phần lớn sẽ tìm cáchthoái thác, tìm cách bỏ trốn. Tức là khi có việc đại sự như lúc đất nước lâm nguy thì người dân chỉ biết lo cho sự an toàn của bản thân, không có lòng yêu nước. Và như thế khó mà giữ được độc lập cho đất nước.


LÀM THẾ NÀO ĐỂ HUN ĐÚC VÀ GÌN GIỮ ĐƯỢC CHÍ KHÍ ĐỘC LẬP VÀ TỰ DO
Để bảo vệ độc lập cho đất nước trước hiểm họa ngoại bang, toàn thể quốc dân phải ý thức được tinh thần Độc lập và Tự do, trên dưới một lòng, coi vận mệnh Tổ quốc như vận mệnh của bản thân, đem hết tinh thần và trách nhiệm với tư cách là người Nhật Bản ra phục vụ.
Người Anh coi nước Anh là Tổ quốc thì người Nhật chúng ta cũng phải coi Nhật Bảnlà Tổ quốc. Đất đai của Tổ quốc là đất đai của mình, phải giữ gìn nó như giữgìn nhà mình vậy, sẵn sàng dâng hiến tính mạng và tài sản. Như thế mới là đại nghĩa để báo đáp cho đất nước.

Đương nhiên, chính trị là công việc của chính phủ, nhân dân sống trong nền chính trị ấy. Nhưng chính phủ hay nhân dân, chẳng qua là sự phân chia vai trò, phân chia vị trí để mỗi bên gánh vác, chỉ khác nhau trong công việc mà thôi.

Không có đạo lý nào cho phép chúng ta với tư cách là con người lại khoanh tay ngồi nhìn, bỏ mặc hay phó thác cho chính phủ giải quyết vận mệnh đất nước trước nguy cơ trọng đại liên quan tới sự tồn vong của Tổ quốc.
Tên, họ của chúng ta là "người Nhật Bản". Chức trách của chúng ta là "chức trách của người Nhật Bản". Với tư cách đó, chúng ta mang trên mình bổn phận của quốc dân - quốc dân Nhật Bản. Hơn thế nữa, chúng ta đang đượcquyền tự do sinh sống, tự do hành động tại Nhật Bản. Vậy thì, đi đôi với quyền lợi đó, đương nhiên chúng ta phải có nghĩa vụ và trách nhiệm.


"DÂN" CỦA IMAGAWA YOSHIMOTO VÀ"DÂN" CỦA NAPOLEON ĐỆ TAM
Vào thời Chiến quốc (5), Imagawa Yoshimoto, lãnh chúa của vùng Suruga (6) thống lĩnh một đội quân lên tới hàng vạn người tiến đánh Nobunaga Oda, lãnh chúa vùngAichi. Nobunaga đã tổ chức mai phục tại khe núi Oke tỉnh Aichi, rồi bất ngờ tập kích đánh thẳng vào đại bản doanh và chém đầu Imagawa. Quân sĩ của Imagawa mất chủ tướng, hoảng loạn chạy như "ong vỡ tổ". Sự nghiệp lẫy lừng một thời của Imagawa bỗng chốc tan thành mây khói.

Trái lại, trong cuộc chiến tranh Pháp - Phổ (1870-1871) xảy ra cách đây vài năm, lúc đầu quân Pháp thua trận, Napoleon Đệ tam bị quân Phổ bắt làm tù binh. Thế nhưng quốc dân Pháp không vì thế mà tuyệt vọng. Họ tiếp tục chiến đấu với lòng quả cảm, tử thủ bảo vệ Paris bằng mọi giá, cuối cùng buộc quân Phổ phải chấp nhận ký Hoà ước. Nhờ thế mà nước Pháp giữ được lãnh thổ toàn vẹn, không bị mất vào tay người Phổ.

Quả là khập khiểng nếu so sánh tinh thần binh sĩ của Imagawa với binh sĩ của Napoleon. Bởi người dân xứ Suruga chỉ là những kẻ ăn nhờ ở đậu, mọi việc đều ỷ lại, trông cậy vào một mình chủ tướng Imagawa Yoshimoto. Không một ai trong số họ, coi xứ sở Suruga là nơi "chôn nhau cắt rốn" của mình. Họ suy nghĩ nông cạn và tin tưởng rằng xứ Suruga có làm sao thì đã có tướng Imagawa rồi.

Trong khi đó ở Pháp, có nhiều quốc dân mang trong mình tinh thần báo đáp cho Tổquốc. Họ coi nguy cơ của đất nước cũng là nguy cơ của chính mình, vì vậy họ sẵn sàng xả thân chiến đấu vì Tổ quốc. Nhờ tinh thần xả thân của nhân dân nên đã cứu được nước Pháp.

Sự khác nhau căn bản của hai nước là vậy.

Từ thực tế trên, để bảo vệ nước mình trước họa xâm lăng, lòng yêu nước của nhân dân sẽ tăng lên khi trong con người họ có tinh thần, có chí khí độc lập mạnh mẽ. Nói đến đây chắc các bạn sẽ hiểu như tôi rằng: người Nhật chúng ta, nếu thiếu chí khí độc lập thì lòng yêu nước cũng hàm hồ, nông cạn.

Lý do thứ hai là tự bản thân không giác ngộ về tính độc lập, thì khi thương lượng với ngoại bang cũng không thể tranh đấu cho quyền lợi của mình được.
Người không có tính độc lập thì thường phải dựa dẫm vào kẻ khác. Người dựa dẫm vào kẻ khác thì lúc nào cũng phải thăm dò ý tứ, trông vào thái độ của người khác thì nhất định phải tìm cách lấy lòng người đó. Luôn phải lấy lòng thành ra chịu ơn, lâu dần trở nên xu nịnh và luồn cúi người mình dựa dẫm. Chẳng mấy chốc, tính xu nịnh, luồn cúi trở thành thói quen. Một khi đã quen xu nịnh, quen luồn cúi thì mặt phải "trơ" ra và "dây thần kinh" xấu hổ cũng mất. Điều muốn nói không dám nói, gặp ai cũng phải xum xoe, khúm na khúm núm. Và cuối cùng thói quen xu nịnh, thói luồn cúi trở thành bản chất, tính cách. Nên người xưa mới có câu "Thói hư thành tật" cũng là vậy. Đã là tật, là bản chất, là tính cách thì khó sửa.

Hiện nay, ở nước Nhật chúng ta, thường dân đã được phép mang họ, được phép cưỡi ngựa. Toà án cũng đã thay đổi. Việc xét xử công bằng hơn, chính trực hơn. Và nhất là luật pháp ít ra cũng đã quy định thường dân ngang hàng với sĩ tộc. Tuy vậy,để thay đổi lề thói cũ, tập quán cũ cũng cần phải có thời gian, không thể một sớm một chiều mà gột bỏ hết được. Ý thức của người dân chúng ta vẫn như xưa. Văng tục khi nói, bỗ bã khi ăn, nhu nhược trong thái độ, gặp cấp trên thì run sợ, bảo đứng thì đứng, bảo ngồi thì ngồi, bảo múa cũng phải múa, cứ y như lũ chó nuôi mãi mà cứ ốm nhom, chỉ biết xun xoe trước mặt chủ. Thật là khí lực không có, hổ thẹn cũng không.

Nếu là xã hội phong kiến Mạc phủ - một xã hội hoàn toàn mất tự do - trong thời kỳ "bế quan toả cảng" thì người dân càng mất sinh khí lại càng tốt cho chính quyền. Vì tầng lớp cai trị khi đó chỉ muốn dân ngu để dễ bề dạy bảo.

Nhưng thời thế giờ đây đã đổi khác. Cứ kéo dài mãi tình trạng này thì chỉ mang lại tổn hại cho quốc gia trong thời buổi phải giao thương với ngoại quốc.


NỖI HỔ NHỤC CỦA BẢN THÂN CŨNG LÀ NỖI HỔ NHỤC CỦA QUỐC GIA
Giả dụ, có một số thương nhân địa phương muốn kiếm lời bằng cách buôn bán vớingười ngoại quốc, bèn khăn gói lên đường tới những đặc khu ngoại kiều (7) nhưYokohama chẳng hạn. Lần đầu tiên trong đời đi gặp "ông Tây" để tínhchuyện làm ăn. Vừa thấy cái dáng to lớn lừng lững của họ thì thương nhân ta đã hồn xiêu phách lạc. Lại càng khiếp vía khi thấy trong ca-táp của"Tây" hàng xấp giấy bạc. Được "Tây" đưa vào văn phòng bónglộn nằm trong những toà nhà lộng lẫy thì thương nhân ta lại càng lúng túng, không biết đứng ngồi ở đâu, chân tay cứ lóng ngóng, không biết để đâu đặt đâu."Tây" mời lên tàu hơi nước chạy một vòng biểu diễn, thương nhân ta cứ chóng hết mặt mày vì con "quái vật" đen xì này chạy nhanh quá. Và thế là ngay từ đầu, cái "gan" làm ăn của thương nhân ta teo hết cả lại.

Có thương nhân đánh liều giao dịch thử thì trong bụng thán phục sao"Tây" cái gì cũng thông thạo, nhưng cũng lại sờ sợ vì thấy họ thật lắm thủ đoạn, thương thảo lúc cương lúc nhu thật khó lường. Cuối cùng bị ép ký hợp đồng, dù biết là thiệt mà vẫn phải nhắm mắt đặt bút ký, vì run sợ trước thái độ hung hăng xấn xổ của "Tây". Kết cuộc là phải nhận phần thua thiệt vềmình.

Ví dụ trên đây cho thấy không chỉ người thương nhân ấy thiệt hại mà phải xem đólà thiệt hại của cả quốc gia và không chỉ người thương nhân đó chịu sỉ nhục mà phải coi đó là sự sỉ nhục của cả quốc gia.

Xét cho cùng, có lẽ từ bao đời nay, tầng lớp Thị dân (8) luôn sống khom lưng luồn cúi, không có tính độc lập nên mục rỗng từ trong ruột mục ra. Trong xã hội Nhật Bản, Thi dân bị Samurai chèn ép đầy đoạ. Tại các phiên toà họ cũng luôn bị xử ép, xử oan nên phần hồn của họ khó mà vực lại được. Đã không vực lại được cả phần xác lẫn phần hồn thì cũng đừng mong giao dịch, quan hệ bình đẳng với nước ngoài.

Nói tóm lại bản thân mỗi người chúng takhông có tính độc lập thì cũng không thể giành được độc lập với nước ngoài.

Lý do thứ ba là người không có tinh thần độc lập là người dựa dẫm vào quyền lực của người khác, chạy theo cái xấu.

Dưới thời phong kiến Mạc phủ, có một kiểu tín dụng được goị là "tín dụng mượn danh chúa". Đây là hình thức nhà giàu đứng tên lãnh chúa cho vây lấy lãi. Khi con nợ chậm trả, chủ nợ lợi dụng "cái ô" quyền uy của lãnh chúa đểkhiếu kiện và bao giờ cũng được toà xử cho thắng kiện kèm theo những điều kiện bắt bí con nợ. Vì sợ lãnh chúa, nên con nợ cũng phải tìm cách trả trước cho chủ nợ nếu không muốn bị rầy rà. Đây là cách làm đê tiện. Lẽ ra, người vây chưa trả được thì người cho vay phải kiện lên chính phủ nhờ chính phủ can thiệp đòi giúp. Đằng này họ lại cứ mượn oai của lãnh chúa đe dọa người cho vay. Đươngnhiên chắc cũng biết biếu xén hối lộ cho lãnh chúa. Thật là quá quắt.

Bây giờ không còn nghe nói về kiểu tín dụng ấy nữa, nhưng biết đâu đấy vẫn có nhà giàu cấu kết với ngoại quốc có quyền thế, mượn danh họ để cho vay và bắt chẹt dân.

Những thói quen xấu, tập quán xấu như vậy vẫn còn tồn tại. Sau này, người phương Tây được quyền tự do cư trú ngoài khu vực kiều dân thì các tập quán đó gặp thời chắc lại nổi lên lúc nào không hay. Cứ như thế thì quốc gia sẽ chịu tổn thất. Các tập quán đó cũng có thể coi là hành vi bán nước. Lợi dụng, cậy thế người có quyền lực làm bậy là như vậy.

Tôi phải nói như trên, vì xuất phát từ thực tế là người Nhật Bản chúng ta không có tinh thần độc lập nên mới sinh ra đủ thứ xấu xa. Hiện nay, với tư cách là người Nhật Bản, nếu có lòng yêu nước thì mỗi người chúng ta đều phải suy nghĩ trước hết về độc lập cho bản thân mình, rồi hãy giúp đỡ người khác cùng độc lập. Cha mẹ phải khuyên dạy cho con cái, thầy giáo phải khuyên dạy cho học trò về tinh thần độc lập. Toàn thể nhân dân cùng phải giữ gìn độc lập, phải bảo vệ đất nước.

Các chính trị gia, thay vì trói buộc nhân dân, chỉ biết tự mình khổ tâm động não lo chuyện quốc sự, chi bằng biết kết gắn nhân dân thành một khối, mang lại tự do cho nhân dân, dựa vào dân, sướng khổ cùng dân, có như vậy mới mong vượt qua được nguy cơ cho cả dân tộc.

Tháng 2 năm Minh Trị thứ sáu (tức năm 1873)


Trích Khuyến học. Tác giả: Fukyzawa Yukichi.Chuyển ngữ:  Phạm Hữu Lợi  
__________


Chú thích:

5. Thời Chiến quốc: Đây là thời đại loạn tại Nhật Bản, bắt đầu từ năm 1507 đến mãi năm 1615 mới chấm dứt.

6. Ngày nay là tỉnh Sizuoka, Nhật Bản.

7. Khu kiều dân: Theo hiệp ước ký với các cường quốc phương Tây, chính quyền phong kiến Mạc phủ phải để cho các nước phương Tây thiết lập các khu định cư cho người nước ngoài trên lãnh thổ Nhật Bản. Người phương Tây được quyền tự trị, quyền cư trú vĩnh viễn và quyền tự do buôn bán với các thương nhân Nhật Bản trong khu vực cư ngụ đó.

8. Thị dân: Tiếng Nhật gọi là chonin, chỉ hai thành phần dân buôn bán và thợ thủcông sống ở các thị trấn hình thành vào thời Cận đại ở Nhật Bản. Dưới thời phong kiến Mạc phủ với chính sách "trọng nông, ức thương", hai thành phần này luôn bị khinh miệt.

Thứ Bảy, 30 tháng 5, 2015

BÀI THƠ CỦA CHÚA (Tập san GHXHCG số 17)

Bài đã đăng trên Tập san GHXHCG số 17, có thể tải tại đây: https://songductin20.files.wordpress.com/2015/05/so-17-web.pdf 

--------------
Có một bài thơ tôi đã đọc khi còn là sinh viên năm thứ nhất khoa Ngữ văn nước ngoài của trường Đại học Tổng hợp TP Hồ Chí Minh, cách đây đã gần 40 năm. Nó có cái tựa chỉ một từ ngắn ngủn:  Trees (cây), mà khi dịch sang tiếng Việt chắc chắn người ta phải thêm vào một chữ để nghe khỏi cộc lốc: Cây xanh.

Bài thơ ấy đã được viết cách đây hơn 100 năm rồi, chính xác là vào năm 1913. Tác giả của bài thơ là Joyce Kilmer, một nhà thơ người Mỹ, một chiến sĩ đã từng chiến đấu trong thế chiến thứ nhất và hy sinh trước khi cuộc chiến kết thúc không lâu. Ông viết không nhiều, và thơ của ông không được đánh giá quá cao về giá trị nghệ thuật. Ngay cả Trees, bài thơ được biết đến nhiều nhất của ông, cũng bị các nhà phê bình chê là ngô nghê, đơn điệu, và mang quan niệm "văn dĩ tải đạo" quá lộ liễu. Thậm chí, tên nhà thơ còn được đặt cho một cuộc thi thơ ... dở hàng năm tại trường đại hoc Columbia nơi ông đã theo học lúc sinh thời. Cuộc thi có tên là Joyce Kilmer Memorial Bad Poetry Contest (Cuộc thi thơ dở để tưởng niệm Joyce Kilmer), tồn tại đã gần 30 năm, từ năm 1986 đến nay. Và để tưởng niệm nhà thơ đã sáng tạo ra bài thơ ... dở nhất, người ta luôn kết thúc cuộc thi bằng việc đọc bài thơ Trees mà hầu như bất cứ người Mỹ nào cũng biết.

Bài thơ ấy dở như thế nào? Hãy xem những giòng nhận định về bài thơ Trees viết từ năm 1935 của Heywood Broun, nhà báo người Mỹ cùng thời với tác giả bài thơ. Broun viết:

Bài thơ Trees làm cho tôi phát cáu, bởi nó có những câu thơ sáo rỗng nhất đã từng được con người viết ra. Khi Kilmer viết câu "thơ được tạo ra bởi những kẻ ngu dốt như tôi", hẳn nhà thơ chẳng tin chút nào vào điều mình nói. [http://www.nytimes.com/1987/12/05/nyregion/about-new-york-no-not-a-curse-but-a-jersey-prize-for-worst-verse.html]

Câu thơ mà Broun nhắc đến trong nhận định trên thuộc hai câu thơ cuối của bài thơ Trees. Hai câu thơ ấy trong tiếng Anh là "Poems are made by fools like me/But only God can make a tree" ("thơ được tạo ra bởi những kẻ ngu dốt như tôi, nhưng chỉ có Chúa mới tạo ra được một cái cây). Hai câu thơ ấy vọng lại ý tưởng của hai câu đầu, cũng bị chê là không kém phần sáo rỗng, như thế này: "I think I shall never see/A poem as lovely as a tree" (tôi nghĩ mình sẽ chẳng bao giờ được thấy /một bài thơ đẹp như một cái cây). Hai câu thơ này không những sáo, mà còn ngô nghê nữa, vì sự so sánh quá khập khiễng: Làm gì có sự tương đồng nào giữa thơ và cây cối mà tác giả lại so sánh như vậy?

Nếu chỉ có 4 câu thơ ấy thôi thì có lẽ tác giả của bài thơ cũng không đến nỗi bị chọn để đặt tên cho giải thưởng thơ ... dở. Bài thơ còn có những lỗi về nghệ thuật khác, đặc biệt là về cách dùng phép so sánh, ẩn dụ và nhân hóa. Trong bài thơ, những cái cây được tả bằng những hình ảnh đứa trẻ há miệng ngoạm lấy bầu vú căng tròn của bà mẹ đất để hút sữa, tàn cây cả ngày nhìn lên trời với những cành lá như những cánh tay vươn lên trời cao như trong giây phút nguyện cầu. Những hình ảnh ấy đã bị các nhà phê bình chỉ ra một cách chế diễu rằng cái cây của Kilmer hẳn phải là một tạo vật kỳ quái khi cùng một lúc vừa có thể cúi mặt xuống ngậm bầu vú của mẹ đất lại vừa có thể ngước nhìn trời giơ tay cầu nguyện.

Quả là khi phân tích như trên thì bài thơ vô lý thật. Vậy mà khi vừa ra đời bài thơ Trees ngắn và đơn giản ấy đã được đón nhận rất nồng nhiệt. Bài thơ ngắn, chỉ gồm 6 khổ, mỗi khổ là 2 câu vần với nhau theo kiểu liên vận (hai câu liên tiếp có vần với nhau), tổng cộng chỉ có 12 câu. Nhiều nhà phân tích cho rằng bài thơ thành công phần lớn là vì nó gợi lên tình cảm tôn giáo vốn rất phổ biến tại nước Mỹ vào thời đầu thế kỷ 20. Chính những hình ảnh ước lệ, thiếu sáng tạo, thậm chí có thể bị xem là vô lý (đứa bé ngậm bầu sữa mẹ, người tín đồ ngửa mặt lên trời giơ tay cầu nguyện) bị các nhà phê bình chê bai ấy lại làm cho những người bình dân thấy dễ hiểu và dễ rung động. Bài thơ thường xuyên được đưa vào sách giáo khoa cho trẻ em học vì sự đơn giản, dễ hiểu, dễ nhớ của nó, và đã làm rung động con tim của biết bao thế hệ người Mỹ vì, theo lời của Holliday, nó "ngỏ lời bằng những giai điệu chân tình đến những tấm lòng đơn sơ nhất". Và, nói gì thì nói, Trees vẫn cứ là một trong những bài thơ nổi tiếng nhất ở nước Mỹ và đem lại tên tuổi cho tác giả của nó.

Bài thơ Trees nổi tiếng ấy hầu như chưa bao giờ được nhắc đến tại Việt Nam, kể cả trong chương trình văn học Anh - Mỹ của các sinh viên chuyên ngữ tại các trường đại học. Tôi biết đến bài thơ này cũng chỉ do tình cờ đọc một tuyển tập thơ dành cho trẻ em Mỹ trong những ngày còn rảnh rang khi học năm thứ nhất đại học. Đọc bài thơ thấy thích ngay, nhưng khi đọc những bài phân tích phê bình rất có lý về bài thơ, tôi cũng cảm thấy giá trị (ít ra là giá trị nghệ thuật) của bài thơ có giảm đi đôi chút. Nhưng dù sao thì tôi cũng rất thích hai câu cuối, mà tôi đã từng dịch ra thành "Gã khờ cũng biết làm thơ/Cây xanh lá thắm phải chờ Chúa thôi". Dịch xong, cảm thấy sung sướng và hãnh diện lắm, vì vừa giữ được ý nghĩa của câu thơ, lại chuyển sang được thành câu thơ lục bát thuần Việt. Thậm chí còn tự nhủ, khi có dịp sẽ cố gắng dịch cả bài thơ ra để chia sẻ cho mọi người thưởng thức.

Tự nhủ như vậy, rồi quên đi. Đời sống bộn bề, bận rộn quay cuồng khiến tôi chẳng còn thời gian để ngắm nhìn bầu trời xanh hay tha thẩn  dưới những tán cây tìm những bông hoa dại xinh xinh như thời còn bé. Tuy vậy, mỗi lần đi đến đâu mà nhìn thấy một cây cổ thụ cao lớn, thân đen nhám xù xì, lá xanh um vươn cao lên  đến tận trời thì tôi lại nhớ đến hai câu thơ kia và thấy trong lòng dâng lên một niềm yêu mến và cả sự kính sợ nữa. Mặc dù tôi chẳng rõ tình cảm ấy là do đâu.

Nhưng hôm nay thì tôi đã hiểu rõ rồi. Hiểu tình cảm của tôi, và hiểu vì sao bài thơ lại được yêu thích, mến chuộng đến thế, mặc cho những lỗi nghệ thuật của bài thơ mà các nhà phê bình uyên bác đã chỉ ra. Tôi hiểu ra khi thấy sự phẫn nộ của dân chúng cả nước trước việc chính quyền Hà Nội quyệt định chặt bỏ nhiều ngàn cây cổ thụ trên gần 200 tuyến đường ở Hà Nội. Tôi cảm nhận sự đau đớn của mọi người - và cả chính tôi - khi nhìn thấy những hàng cây xanh xum thẳng đứng vươn cao giờ bị chặt ngang trơ gốc, thân tóe máu và tóc xanh rơi rụng khắp nơi. Đau như chính người thân của tôi bị chém. 

Tôi bỗng hiểu ra tại sao bài thơ bị các nhà phê bình chê là thô thiển và sáo rỗng mà vẫn được mọi người yêu mến như vậy. Tình yêu thiên nhiên có lẽ đã được cài sẵn trong mỗi chúng ta như một bản năng, cũng như mỗi người sinh ra đều yêu mến mẹ cha và những người ruột thịt của mình Tôi hiểu ra rằng cũng như tôi, tác giả bài thơ Trees thực sự nhìn những cây xanh như những người anh em ruột thịt, và chẳng hề giả dối khi viết hai câu thơ "Gã khờ cũng biết làm thơ/Cây xanh lá thắm phải chờ Chúa thôi". Chẳng phải cây cối, cũng như con người, đều do Thiên Chúa tạo dựng đó sao? Nếu bảo vệ người thân là trách nhiệm đương nhiên của từng người, thì sao ta có thể thản nhiên khi thiên nhiên bị phá hủy? 


"Một Ki-tô hữu mà không bảo vệ thiên nhiên, không để cho thiên nhiên phát triển, là một Ki-tô hữu không quan tâm đến sự sáng tạo của Thiên Chúa - sự sáng tạo sinh ra từ tình yêu của Thiên Chúa dành cho nhân loại" - Đức Thánh cha Phan-xi-cô đã dạy như vậy trong một bài giảng vào tháng Hai vừa qua. [http://www.religionnews.com/2015/02/09/pope-francis-christian-not-protect-creation-not-care-work-god/]

Có một điều lâu nay tôi vẫn ngờ ngợ về tác giả của bài thơ, và  tôi cần đi tìm lời khẳng định. Giờ thì tôi đã có thể khẳng định được rồi, vì tôi vừa đọc tiểu sử của tác giả: Joyce Kilmer là một người Công giáo.

Tôi cũng vừa tìm ra mối liên hệ trong phép so sánh của hai câu thơ "I think I shall never see/A poem as lovely as a tree" (tôi nghĩ mình sẽ chẳng bao giờ được thấy /một bài thơ đẹp như một cái cây) mà tôi mới vừa dịch thoát ra:như thế này: "Kẻ khờ chỉ biết làm thơ/Câu thơ ngơ ngẩn bao giờ [đẹp] như cây". Câu thơ ấy bị các nhà phê bình chê là so sánh khập khiễng vì giữa hai vật được so sánh chẳng có mối liên hệ nào cả.

Rất rõ ràng, mối liên hệ ấy đây:

Mỗi cái cây là một bài thơ của Chúa.


Thứ Sáu, 29 tháng 5, 2015

5 triệu đồng yen, Bphone và hình ảnh của người Việt

Vụ 5 triệu đồng yen hẳn là ai cũng biết, vì nó đã được báo chí đề cập om xòm suốt bao lâu nay. Nói vắn tắt cho ai chưa biết, có một chị ve chai nhặt được 5 triệu đồng yen trong mớ đồ ve chai của mình cách đây cả năm trời, và chị đã báo công an. Công an đã tạm giữ để xem có người nào cớ mất tiền thì sẽ trả lại cho họ, còn nếu không ai nhận thì chị ve chai sẽ được hưởng.

Một năm đã trôi qua, gần đến thời hạn trả lại số tiền đã nhặt được thì có một phụ nữ xuất hiện và nhận số tiền ấy là của chồng mình. Tuy nhiên, công an khi xác minh thì thấy người mà phụ nữ kia nhận là chồng có khá nhiều điểm không rõ ràng, thậm chí khả nghi, về giấy tờ và nhân thân, nên đã không giao tiền cho người phụ nữ ấy. Tóm lại, số tiền giờ đây sắp thuộc về chị ve chai.

Tưởng rằng mọi việc đến đây là kết thúc, thì vụ việc lại nóng lên khi có một ông giám đốc doanh nghiệp viết thư cho chị Hồng (chị ve chai), khuyên chị hãy trả lại số tiền cho chính phủ Nhật để xây dựng hình ảnh đẹp của người VN trong mắt người Nhật và các bạn bè quốc tế. Việc ấy xảy ra cách đây đã vài ngày, và chị Hồng đã từ chối (hoàn toàn hiểu được), nhưng vụ việc chưa đóng lại mà vẫn còn được mọi người bàn tán. Không ít người đã đặt vấn đề về động cơ của ông giám đốc doanh nghiệp kia, tạo nên một cuộc tranh luận mới khiến vụ 5 triệu đồng yen vẫn tiếp tục là một chủ đề "hot" để báo chí khai thác viết bài, bán báo.

Chẳng hạn, trên Vietnamnet sáng nay 30/5/2015 mới có bài viết với tựa đề như sau:

"Khuyên chị ve chai trả tiền vì muốn XD [sic] hình ảnh người Việt". Xem bài ấy ở đây: http://vietnamnet.vn/vn/xa-hoi/240149/khuyen-chi-ve-chai-tra-tien-vi-muon-xd-hinh-anh-nguoi-viet.html

Lẽ ra, tôi đã chẳng quan tâm đến bài viết này, hay ông giám đốc kia. Có ý kiến khác lạ là quyền của ông ấy, và nghe hoặc không nghe ý kiến ấy là quyền của chị Hồng ve chai, chẳng có gì đáng nói. Mà chửi ông giám đốc vì ý kiến khác lạ kia thì cũng là quyền của các độc giả, chẳng có lý do gì mà tôi quan tâm "xía mồm" vào đấy làm gì.

Tuy nhiên, khi lang thang trên mạng tôi lại tình cờ nhìn thấy vài bài báo khác, về một vụ scandal khác mà tôi vừa đề cập đến hôm qua, vụ Bphone của anh chàng Quảng nổ. Và bỗng thấy có một sự liên hệ giữa hai vụ việc này.

Trước hết, xin giới thiệu vài bài viết mới về Bphone mà tôi đọc được sáng nay.

Bài viết "mắng nhiếc" sự thiếu ủng hộ "gà nhà" của người Việt so với người Nhật: "Dìm Bphone, 10 người Việt không bằng 1 người Nhật". Ở đây: http://tccl.info/vn/thoi-cuoc/goc-nhin/30321/dim-bphone-10-nguoi-viet-khong-bang-1-nguoi-nhat-.html

Một bài khác cũng liên quan đến người Nhật. "Người Nhật nói gì về 'siêu phẩm' Bphone sau màn PR của Nguyễn Tử Quảng". Ở đây: http://kenh13.info/nguoi-nhat-noi-gi-ve-sieu-pham-bphone-sau-man-pr-cua-nguyen-tu-quang.html

 Và đây, tự hào quá. "Bphone lên báo Mỹ". Ở đây: http://kenh13.info/bphone-len-bao-my.html

Nhưng, Bphone thì liên quan gì đến chị Hồng ve chai hay 5 triệu đồng yen hoặc hình ảnh của người Việt chứ? À à, có liên hệ đấy.

Liên hệ ở chỗ, ông Long (giám đốc doanh nghiệp) đã cố công viết thư để khuyên chị Hồng một điều mà khá nhiều người cho là vô lý là trả tiền lại cho chính phủ Nhật, thậm chí đã hứa vận động đóng góp hỗ trợ chị để chị không bị thiệt khi trả tiền cho chính phủ Nhật. Vâng, ông Long mất bao công sức, thậm chí bị hiểu lầm, bị chê trách ném đá, chẳng qua là vì quá yêu nước, yêu dân tộc VN, muốn xây dựng một hình ảnh đẹp cho VN mà thôi.

Chỉ có điều, ông ấy yêu nước Việt  và muốn chị Hồng làm một cử chỉ để tạo ra hình ảnh đẹp cho người Việt - trong đó có ông và doanh nghiệp của ông - nhưng lại không nghĩ đến cái thiệt của chị Hồng khi làm nghĩa cử đó. Nếu chị ấy giàu có, rủng rỉnh tiền bạc, hoặc ít ra cũng có điều kiện như ông thì may ra chị ấy mới có thể nghĩ đến, còn đằng này chị ấy nghèo, và cũng đã rất đàng hoàng chờ cả năm nay rồi, sao lại có thể đơn giản bắt chị ấy hy sinh như vậy được?

Cũng tương tự như vậy, các bài báo có liên quan đến Bphone lâu nay không tập trung vào mô tả những ưu thế vượt trội của Bphone so với các sản phẩm tương tự, mà chỉ tập trung vào một thứ mang tên là "niềm tự hào VN", dù tôi nghĩ mãi vẫn chưa thấy tại sao lại phải tự hào.

Thậm chí, nhiều bài báo (như những bài báo tôi đưa link ở trên) lại còn lớn lối chê trách người Việt rằng chỉ thích "dìm" nhau, không chịu ủng hộ hàng Việt, tóm lại chúng ta là một dân tộc kém cỏi, không được như người Nhật, nên các bài báo ấy phải đưa người Nhật ra để dạy dỗ chúng ta.

Nhưng quả tình là tôi không thể hiểu tại sao tác giả của các bài báo ấy lại phải lớn lối như vậy. Một sản phẩm vừa ra đời đã được quảng cáo rất kêu, tất nhiên sẽ được công chúng quan tâm. Và từ sự quan tâm ấy thì những bàn tán về nó, có người khen có người chê, rõ ràng là điều dễ hiểu.

Và nếu Bphone có bị chê nhiều hơn khen, thì tác giả của nó cũng nên nghĩ xem tại sao lại như thế.

Riêng tôi thì tôi thấy, nếu xét về kỹ thuật, hình như Bphone chẳng có gì mới, mà chỉ sao chép những sản phẩm có sẵn. Nếu xét về mỹ thuật hoặc sự tiện lợi cho khách hàng, tôi cũng không thấy nó có gì là mới mẻ. Nói cách khác, với tư cách một người sử dụng điện thoại tôi chẳng thấy có lý do gì phải đổi chiếc điện thoại mà trước đây tôi vẫn đùng quen để sử dụng một chiếc Bphone mà tôi chưa rõ chất lượng ra sao.

Tất nhiên, sẽ có người bảo: Chúng ta là nước nghèo, kém phát triển, chúng ta bắt chước được người khác cũng đã là giỏi lắm rồi. Còn thì phải từ từ học lên nữa chứ.

Đúng. Nhưng nếu thế, thì ít ra sản phẩm ấy cũng phải làm được mấy việc nho nhỏ sau đây, trước khi đòi hỏi được ủng hộ và vinh danh.

Mấy việc ấy có thể là:
- Tạo công ăn việc làm cho người Việt. Sinh viên VN đang thất nghiệp quá chừng chừng kia kìa, vậy nhà máy sản xuất của Bphone đang đặt ở đâu, và đang sử dụng bao nhiêu công nhân VN ấy nhỉ?

Và/hoặc:
- Có giá bán mềm hơn các sản phẩm của đối thủ cạnh tranh, để người VN có thể mua được.

Bphone chưa hề nghĩ đến những điều này, rõ  ràng là thế. Nhưng, nếu anh là sản phẩm mới vào thị trường, chưa có uy tín, chưa có thương hiệu, thì anh phải có chiến lược cạnh tranh nào đó để người tiêu dùng Việt có thể tin dùng được chứ?

Thế còn hình ảnh của người Việt, còn niềm tự hào VN thì sao nhỉ? Well, tôi nghĩ đơn giản thế này: Hình ảnh ấy, niềm tự hào ấy không thể có được chỉ qua một cử chỉ hoặc chỉ một sản phẩm (chưa được khẳng định về chất lượng). Mà ngược lại, hình ảnh ấy được xây dựng hàng ngày, hàng giờ, bởi từng cử chỉ, lời nói, hành động nhỏ nhặt của mỗi con người VN.

Nếu bạn muốn xây dựng hình ảnh VN, hãy bắt đầu bằng việc bớt vứt rác ra đường, bớt chen lấn nơi công cộng, bớt nói dối, làm dối, bớt ăn cắp, đặc biệt là ăn cắp ở nước ngoài (và được báo chí truyền thông nước ngoài bêu xấu khắp nơi), bớt đâm chém nhau vì những xung đột lặt vặt, bớt phá hoại môi trường, đốn bỏ cây xanh, phá hủy các di tích lịch sử vv và vv. Well, có nhiều việc cần làm ngay lắm lắm.

Cũng vậy, muốn có niềm tự hào VN, hãy làm từ những điều nhỏ nhất. Hãy thôi nhập từ cây tăm, từ đôi đũa, từ cục gôm, cây viết chì trở đi, mà hãy sản xuất những sản phẩm ấy một cách chăm chút, cẩn thận, có chất lượng và giá thành rẻ ngay từ trong nước. Hãy làm ăn đàng hoàng, có uy tín, hãy có trách nhiệm trong mỗi việc mình làm, để khi nói đến VN, là người ta nghĩ ngay đến những con người với những đức tính nào đó, hoặc những sản phẩm - dù nhỏ - nhưng lẫy lừng thế giới và không nước nào có thể thay thế.

Ví dụ, chúng ta là một đất nước chủ yếu là nông nghiệp, chúng ta những nông dân rất giỏi và những nông phẩm độc đáo; vậy chúng ta đang phát triển nông nghiệp của VN ra sao, hay chỉ loay hoay giúp nông dân hết bán dưa hấu lại đến thanh long rồi trái vải vv. Hãy nhỉn vào một nước láng giềng cũng dựa vào nông nghiệp để phát triển là Thái Lan, và thử nghĩ xem chúng ta có gì hơn họ để tự hào.

Vâng, nếu muốn xây dựng hình ảnh người Việt, chúng ta đừng mất thời gian lên án nhau, tranh cãi với nhau, lên lớp hoặc chụp mũ nhau như hiện nay nữa. Ngược lại, mỗi người hãy im lặng và bắt đầu từ những việc rất nhỏ mà mỗi người đều có thể làm, và chấp nhận cách làm, cách nghĩ của người khác.

Tôi chân thành tin rằng mọi việc sẽ đổi thay từ đó.

Phải không các bạn?

Người Việt Nam, dùng hàng gì?



"Người VN, dùng hàng VN" là một slogan (khẩu hiệu) mà hầu hết mọi người VN đều quen nghe, và chấp nhận như một chân lý. Tất nhiên, trong đó có tôi.

Nhưng hóa ra, "chân lý" không phải lúc nào cũng đúng. Ý tôi muốn nói là, những gì được (một số người) xem là chân lý ở lúc này, chỗ này, thì không phải sẽ luôn luôn đúng ở chỗ khác, lúc khác.

Điều này có lẽ không có gì là khó hiểu đối với mọi người (trong đó, tất nhiên có tôi, vâng đúng thế). Nhưng thường khi chúng ta lại chẳng nhớ đến, cho đến khi có một sự cố nào đó nhắc cho chúng ta nhớ lại điều ấy.

"Sự cố nào đó" vừa xảy ra với tôi hôm qua. Nó liên quan đến chiếc điện thoại Bphone của anh chàng tác giả phần mềm BKAV Nguyễn Tử Quảng, một người đã quá nổi tiếng ở VN nên tôi chắc chắn là không cần giới thiệu thêm. Cũng vậy, về chiếc điện thoại Bphone của anh ta, mà báo chí lề phải lề trái, mạng xã hội các kiểu vv đang bàn tán xôn xao cả tuần nay. Nghe nói, nó còn lên cả truyền thông nước ngoài nữa.

Và tất nhiên, nó cũng chui vào các cuộc trao đổi trong các gia đình, giữa bạn bè, người thân vv. Và chui vào cả các cơ quan nữa. Ví dụ, nó đã chui vào trong cơ quan của tôi hôm qua, trong bữa ăn trưa.

Mẩu chuyện ấy tôi đã đăng lên trên fb, nay chỉ chép lại thôi. Nguyên văn như sau:
-------------
Hôm qua, tại cơ quan của tôi, mọi người nhắc đến cái điện thoại Bphone  này. Một bạn bảo: "Sẽ để dành tiền mua điện thoại này, để ủng hộ hàng VN."

Đa số hồ hởi đồng ý. Thì, người Việt Nam nào chẳng yêu nước. Và "yêu" đối với đa số người VN thì đồng nghĩa với "bênh", với "bỏ qua những khiếm khuyết", với "chấp nhận toàn bộ" vv và vv. Ai cũng bảo, sẽ mua để ủng hộ, dù giá của điện thoại này không mềm một chút nào. Và cũng chưa biết nó có tốt hay không....

Bỗng nhiên có một bạn trẻ hỏi: "Nếu vừa đắt vừa không biết có tốt không thì tại sao lại phải mua?"
Câu hỏi làm mọi người ớ ra. Rồi cô bạn đã khởi xướng vụ ủng hộ Bphone trả lời: "Thì, người VN dùng hàng VN mà."

Và bạn trẻ kia lắc đầu, nhún vai: "Tại sao lại phải như vậy? Tại sao không là: Người VN dùng hàng tốt?"
Cuộc đối thoại dừng ở đó. Tôi chẳng rõ mọi người nghĩ gì.

Có lẽ mọi người nghĩ: "Ừ nhỉ?"
---------------
Vâng, nguyên văn câu chuyện mà tôi đã kể lại trên fb của tôi là như thế. Còn bạn, bạn nghĩ gì?

Tôi thì đang nghĩ: Ở nước ngoài (tôi muốn nói các nước tiên tiến), một trong những chiến lược dạy học mà người ta áp dụng ngay từ tiểu học, là khuyến khích trẻ em lật ngược lại mọi vấn đề, và hỏi: Tại sao? Bất cứ điều gì mà ta tin là đúng không cần chứng minh đều bị lật ngược lại và buộc người có niềm tin ấy phải chứng minh.

Nếu chứng minh được, thì đó là một niềm tin có căn cứ, có cơ sở, có lập luận, và sẽ được tiếp tục củng cố. Hoặc nếu không chứng minh được, thì người có niềm tin ấy phải xem lại niềm tin của mình, hiểu rằng niềm tin ấy chỉ là "tin theo" người khác chứ chưa phải là niềm tin của riêng mình. Và càng tìm hiểu, thì niềm tin càng được củng cố nếu nó có cơ sở, hoặc sẽ bị gạt bỏ khi thấy nó là một niềm tin vô căn cứ.

Có phải vì như thế mà nền giáo dục của họ, và con người của họ, tốt hơn chúng ta hay không?

(Đó chỉ là một câu hỏi, chưa phải là niềm tin của tôi đâu, các bạn nhé. Nào, chúng ta hãy cùng tìm hiểu!)

----------
Có một bạn đọc nhận xét: Chưa thể trả lời câu hỏi của tác giả vì chưa biết tác giả nói "tốt" ở đây có nghĩa là gì. Vậy xin được trả lời như sau:

- Một hệ thống tốt là một hệ thống có cơ chế tự sửa sai, để loại dần những điều bất hợp lý sẵn có trong hệ thống, hoặc những điều mới phát sinh mà hệ thống ban đầu chưa lường trước được. Ví dụ, chủ nghĩa tư bản là một cơ chế tự sửa sai, vì nó đã từng có lúc đáng lên án khi nó dựa trên quy luật cạnh tranh mạnh được yếu thua, nhưng đã dần dần hoàn thiện cho đến ngày nay.

- Một con người tốt cũng là một con người biết tự nhận ra những điều chưa hoàn thiện ở bản thân mình hoặc ở hệ thống mà mình là một phần, và tìm cách hoàn thiện dần bằng cách học hỏi từ những người khác. Có như vậy thì con người mới có thể tiến bộ. Thực tế cho thấy, người VN khi sinh sống ở nước ngoài đa số đều có thể phát triển các tiềm năng của họ cao hơn nhiều so với chính họ nếu họ phải sinh sống ở trong nước.

Người ta hay nói rằng người VN thiếu tư duy phê phán. Tôi muốn nói thêm, người Việt không hề thiếu tư duy phê phán. Chỉ có điều, họ chỉ áp dụng cái tư duy phê phán ấy cho người khác, mà quên rằng đối tượng của sự phê phán ấy trước hết phải là chính họ. Và đó là nguồn gốc của rất nhiều vấn đề tại VN, đôi khi dường như không thể có cách giải quyết - that is, nếu người VN không chịu thay đổi những thói quen và tính cách của mình.

Không hiểu tôi viết thêm như vậy đã rõ chưa nhỉ?

Thứ Bảy, 2 tháng 5, 2015

Du lịch miền Tây 30/4 - 1/5/2015


Entry này sẽ không có chữ, chỉ có hình. Một tấm hình hơn vạn lời nói cơ mà, thế mà entry này của tôi sẽ rất nhiều hình, có nghĩa là nó rất là dài đấy nhỉ!

Các bạn xem hình và tự đoán ra nhé! Có thể xem thời gian chụp hình để biết tôi đang ở đâu. Lịch trình của tôi: xuất phát từ SG lúc 6 giờ sáng 30/4, về lại SG lúc 5 giờ chiều 1/5. Đi cũng là một cách để trốn lễ! :-)