Thứ Sáu, 12 tháng 12, 2014

Nhà thơ Hoàng Lộc: “Tôi sẽ về lại quê...” (Luân Hoán)

http://www.luanhoan.net/gocchung/html/gc-12-17b.htm

Nhà thơ Hoàng Lộc:
“Tôi sẽ về lại quê...”
Đặng Ngọc Khoa
thực hiện
                           

Đã lâu, nhà thơ Hoàng Lộc vẫn nhớ như in: sau 1975, Thanh Niên là tờ báo đầu tiên in thơ ông, thi sĩ từng đoạt giải thưởng thi ca miền Nam 1970. Đó là bài Bữa say, ghé chùa Ông Hội An, viết năm 1987. Mới đây, về nước thọ tang cha, ông bộc lộ ý định hồi hương.

* Ở xứ người, chắc ông thường nghĩ về quê nhà và anh em bằng hữu...?

Đúng là khi đi xa - điều tôi ray rứt nhất là quê nhà. Quê nhà trong tôi là cha mẹ, bà con, anh em bằng hữu và người tình của thơ tôi - cùng những địa danh đã là máu thịt của tôi: Hội An - Quảng Nam - Đà Nẵng... Những địa danh thân thương ấy đã sinh tôi ra và cuối cùng luôn réo gọi tôi về!

* Đời sống văn nghệ nơi ông định cư có lẽ thiếu vắng không khí Việt Nam?

Nơi tôi đang định cư có rất ít người Việt. Đời sống văn nghệ của tôi thật sự cô đơn vì nơi này không có ai biết đọc thơ. Người ta thường nghĩ cô đơn là nguồn mạch của sáng tạo. Với tôi, cô đơn là túng quẫn - là tự khô cạn. Điều này tôi chiêm nghiệm được khi có dịp về Cali hay Dallas, Houston, những nơi đông đúc đồng hương và bạn văn. Những dịp đó giúp tôi viết được đôi bài. Rồi thôi.

Bạn văn với những gặp gỡ tình thân - như là chất xúc tác của thơ tôi. Và có lẽ ở xứ người lâu năm - tôi cũng như nhiều bạn văn cùng thế hệ - hình như dần dần không còn đề tài để viết, ngoài nỗi hoài hương và những... người tình cũ! Tôi có ý định sẽ in Thơ Tình Hoàng Lộc ở quê nhà. Tôi nghĩ tập thơ sẽ dày 300 trang gồm gần 200 bài thơ tình của tôi qua các thời kỳ tôi đã “lưu lạc những hiên nhà gái đẹp”. Có thể coi đây là một tập tuyển thơ tình Hoàng Lộc. Bè bạn khắp nơi và độc giả ở Quảng Nam luôn khuyến khích tôi thực hiện điều này.

Ông có một website cá nhân do thân hữu vì lòng yêu mến mà thực hiện. Tôi đã vào nhưng không thể để lại lời cảm nhận và cũng không thấy những bài thơ mới. Gặp mặt, mới biết đã lâu ông quên mật khẩu để vào trang web rồi! Ông tiết lộ bên dưới ký họa chân dung ở trang chủ do họa sĩ Phan Ngọc Minh vẽ tặng là thủ bút của ông. Chi tiết này ít ai biết ngoại trừ thân hữu. Mới đây một nhà văn nữ ở TP.HCM có đưa bài thơ Bữa say, ghé chùa Ông Hội An lên blog của cô, nhiều bạn đọc yêu thích thơ ông đã để lại một số lời nhắn. Ông rất vui, vì “xa xôi vậy mà răng gần gũi, tôi sờ tay lên màn hình như chạm tới quê nhà”. Điều đó rất khích lệ tinh thần người sáng tạo và thế là ông lại làm thơ. Bài mới nhất ông viết hôm 11.3 sau khi về nước thọ tang cha: “Cha mẹ trên bảy mươi mà tôi còn long đong/ cha mẹ trên tám mươi tôi đành lạc xứ/ mẹ tôi yên nằm khi tôi cuối bể/ cha ngoài chín mươi, tôi không kịp về!/ mất mẹ cha rồi tôi có còn quê?/ tôi có còn em mịt mù thị xã?/ mồ côi - ơi mồ côi - sao tôi đến thế?/ gió hút chiều nghiêng con mắt hỏi trời...”.

* Một trong những bi kịch của sáng tạo là đứt lìa ký ức do xê dịch quá lâu. Ông có dự định hồi hương để tiếp tục mạch thơ từng góp phần làm nên một Hoàng Lộc thi sĩ?

Vài ba năm tới, tôi sẽ nghỉ hưu nhưng chuyện hồi hương thì đã đặt ra! Tuổi già nơi đây, với những người như tôi thật là dễ sợ. Tôi sẽ về lại quê. Tôi sẽ được gặp và sống lại cái không khí bằng hữu và độc giả thân thiết một thời. Tôi lại làm thơ, cho đến khi bằng hữu và độc giả bảo thơ tôi không còn hồn vía nữa thì tôi ngưng nghỉ. Với tôi, thơ tình là sở trường - nhưng nếu thế sự làm tôi xúc động, tôi cũng viết. Miễn sao xúc động phải là xúc động thật cho thơ.

*Thơ, nói chung với ông là gì? Nói riêng, thơ tình có phải là cảm xúc đỉnh của thi ca Hoàng Lộc?

Có lẽ câu hỏi này có nhiều cách trả lời. Tôi thường tự nhận tôi chỉ là gã làm thơ cuối thế kỷ 20. Thời điểm của thế kỷ 21 là của những thi sĩ khác. Cái học, cái đọc của tôi có khi đã cũ - nên quan niệm về thơ cũng như thế chăng? Với tôi, thơ là cảm xúc được nói lên bằng chữ nghĩa. Mỗi người làm thơ đều có cách nói riêng của mình từ cảm xúc của chính họ.

Tôi không hề nghĩ thơ tình mới là “đỉnh cao” của cảm xúc và sáng tạo. Nghĩ thế thì “lớn lối” quá. Ấy nhưng, theo tôi - thơ tình dễ đọc, dễ cảm hơn bởi vì tình yêu chính là... nguồn sống miên viễn của nhân loại.

*
Cuộc phỏng vấn này được thực hiện qua e-mail từ Mỹ sau ngày tôi gặp lại ông ở Việt Nam. Trong ông vẫn lóe lên bao nhiêu kỷ niệm một thời ở Hội An, Vĩnh Điện. Trên hành trình đơn độc, nhiều khi ngã lòng ông đã “vịn câu thơ mà đứng dậy”, để bây giờ khi xa xứ rồi, ông quay quắt nỗi hoài hương: “sáng dậy anh thường nhìn phương đông/ khi quê nhà đang ở đầu hôm/ em với anh hai trời hai nỗi/ như vì sao có tên Sâm, Thương.../ em phía hoàng hôn anh bình minh/ hai bìa trái đất gió chênh vênh/ một sao lấp lánh đôi bờ lệ/ từng sớm hôm soi một chữ tình”.

Nghĩ gì về thơ Hoàng Lộc? Xin chép lên đây một vài chia sẻ của thân hữu ông ghi ở bìa cuối tập thơ Qua mấy trời sương mưa. “Thơ Hoàng Lộc vẫn y nguyên cái phong thái ngày xưa nhưng đậm hơn thời anh viết cho Bách Khoa” (Nguyễn Mộng Giác). “Ít ỏi câu thơ thời trai trẻ, còn sót lại trong ký ức tôi, là của Hoàng Lộc và Vũ Hữu Định. Nay một người đã ra thiên cổ. Người còn lại lưu lạc xứ người, vẫn còn cho tôi những vần thơ hay...” (Hồ Minh Dũng). “Hoàng Lộc đến với đời này bằng trái tim không bình yên. Cõi thơ anh tưởng như là thế giới rất riêng tây. Thế giới ấy dù mở ra thăm thẳm chiều sâu nhưng bằng ngôn ngữ bình dị đời thường, lại khiến ta dễ rung động gần gũi” (Nhật Nguyễn).


Khi rời xa Boston

gửi Q.

rồi tôi trở lại bên trời
rồi em trở lại bên đời người ta
bóng sương chìm mấy giang hà
ngó nhau có chút lệ nhòa không em?
khổ chi rồi cũng đôi miền
buồn chi cũng mặt trời lên tháng ngày
em về áo lạnh chùng vai
bỏ đau phù thế rơi ngoài dặm tôi
dỗ nhau đâu dễ bằng lời
dỗ nhau đâu chỉ một đời mà xong!





Hoàng Lộc
Quê quán Thăng Bình, lớn lên tại Hội An (Quảng Nam).
Giải thưởng thi ca miền Nam 1970. Hiện nay định cư tại Hoa Kỳ.
Từ năm 1960 đến nay, có thơ trên các báo trong và ngoài nước.

Thơ đã in:
- Thơ Học Trò (1965)
- Trái Tim Còn Lại (1971)
- Qua Mấy Trời Sương Mưa (1999)













Đặng Ngọc Khoa

Bình giảng bài thơ Tống biệt hành của Thâm Tâm (Tri thức 18/5/2013)

Bình giảng bài thơ Tống biệt hành

18 Tháng 5 2013
Đời người và đời thơ của Thâm Tâm đều ngắn ngủi. Ngày 18.8.1950, nhà thơ mất trên đường hành quân tham gia chiến dịch Cao Bắc Lạng. Năm ấy, ông mới ba mươi tuổi. Còn nếu tính từ năm 1938, khi Thâm Tâm cùng gia đình lên Hà Nội kiếm sống bằng nghề vẽ tranh, viết văn, làm thơ thì “tuổi nghề” của ông vỏn vẹn chỉ 12 năm.

Đã thế,Thâm Tâm làm thơ ít, số bài thơ bây giờ tập hợp được chỉ độ vài ba chục. Nhưng thơ Thâm Tâm khiến người đời nhớ mãi. Đây là không kể chuyện Thâm Tâm với các bài thơ về hoa ti gôn, màu hoa như tím vỡ, mọc vô vàn trên các bờ giậu nhưng khi có thơ, loài hoa ấy ai cũng phải ngắm nhìn một cách đặc biệt.

 




Tống biệt hành là bài thơ đặc sắc nhất của Thâm Tâm , cũng là bài thơ Mới có nhiều ý kiến, bình giá khác nhau nhất và cơ hồ chưa phải đã kết thúc.

Bài thơ được sáng tác vào năm 1940, không biết đích xác là ngày nào. Năm sau, được đưa vào tuyển thơ Thi nhân Việt Nam, với lời bình của Hoài Thanh:

Thơ thất ngôn của bây giờ thực có khác thơ thất ngôn cổ phong. Nhưng trong bài dưới đây lại thấy sống lại cái không khí riêng của nhiều bài thơ cổ, điệu thơ gấp, lời thơ gắt. Câu thơ rắn rỏi, gân guốc. Không mềm mại, uyển chuyển như phần nhiều thơ bây giờ. Nhưng vẫn đượm chút bâng khuâng khó hiểu của thời đại.

Ý kiến của Hoài Thanh thật xác đáng:Tống biệt hành vừa giống thơ cổ vừa không phải thơ cổ đượm chút bâng khuâng khó hiểu của thời đại. Đó cũng là lí do khiến từ bấy đến nay có biết bao ý kiến khác nhau về Tống biệt hành mà khổ nỗi lại là ý kiến của những người uyên thâm ,hoặc có quan hệ gần gũi với tác giả.

Tên bài thơ:

Tên bài thơ không có gì là khó hiểu, rõ ràng đằng khác: tiễn đưa nhau khi li biệt. Chỗ dễ gây khó hiểu duy nhất ở đây là chữ hành. Hành vừa có nghĩa là đi, dời đi, lại có nghĩa là khúc hát, bài ca. Bởi vậy, khi dịch nghĩa tên một số bài thơ Đường, người ta thường giữ nguyên chữ ấy như Trường Can hành (Thôi Hiệu), Lũng Tây hành (Trần Đào)… mặc dù Trường Can, Lũng Tây đều là địa danh. Xa hơn nữa , người ta thấy , hành là thể thơ vốn thịnh hành ở Trung Quốc thời Hán Nguỵ , Lục Triều, có cội nguồn từ trong Nhạc phủ , tức những bài thơ có thể phổ nhạc , nhưng chỉ để dùng trong cung cấm. Do đó, Trường Can hành là một khúc Nhạc phủ , song cũng là tên một bài thơ của Đỗ Phủ . Nội dung hai bài hoàn toàn khác nhau. Khi thoát khỏi cung cấm, thể thơ hành trở nên phóng túng về hình thức để thể hiện rõ tình ý của người viết . Các bài thơ hành đời Đường viết về nhiều đề tài : tình yêu nam nữ , về chiến tranh , loạn lạc , chia li… Thời Đương , các bài thơ hành thường viết theo thể thất ngôn (Tì bà hành – Bạch Cư Dị, Trương Can hành – Lí Bạch), hoặc ngũ ngôn (Trường Can hành –Thôi Hiệu), nhưng cũng có trường hợp dài , ngắn tuỳ ý (Binh xa hành – Đỗ Phủ).

Sau đời Đường, trong văn học các nước phương Đông, thơ hành không thiếu. Ở Việt Nam , có bài khá nổi tiếng như Sở kiến hành của Nguyễn Du. Tuy nhiên ,nhìn chung , số lượng vẫn khá ít ối với những bài thơ khác. Bẵng đi thời gian khá dài , ở nước ta những năm cuối của phong trào Thơ mới bỗng xuất hiện nhiều bài hành của các nhà thơ Thâm Tâm (Tống biệt hành, Can trường hành, Vọng nhân hành). Nhiều bài thơ của các ông dù không có chữ hành ở tựa đề nhưng vẫn cùng chung một giọng điệu. Cả ba vốn là bạn bè thân thiết nên có người gọi đây là trường phái thơ hành, bên cạnh các trường phái thơ Loạn ,thơ Say,thơ Đạo …thời ấy.

Sau năm 1954, ở miền Nam ,cũng có một vài nhà thơ trẻ làm thơ hành như Hoàng Lộc, Duynh Trầm Ca… Thơ của họ, tuy nội dung có khác, nhưng gần gũi với các bậc “tiền bối” ở cái giọng kiêu bạc, khinh đời:

- Chẳng lẽ giận đời đi uống rượu
Mà say chưa chắc đã quên đời
Và chưa chắc ấm sầu xa xứ
Đỏ mặt hoàng hôn cũng hổ người
(Hoàng Lộc)

Rượu cuối năm gió lọt lòng ly
Vọng tiếng hú ma Hời buồn quê cũ
Đêm viễn xứ vang vang pháo nổ
Giao thừa giao thừa hề ta lăn quay
Rượu hết làm sao chết giữa cơn say…
(Đuynh Trầm Ca)

Nói mông lung như vậy đẻ thấy không thể đơn giản khẳng định Tống biệt hành của Thâm Tâm là bài thơ theo thể hành thời trước ,bởi nào ai chỉ ra thi pháp của thể thơ ấy như kiểu thơ luật Đường hay văn biền ngẫu …Có giống chãng chỉ là nhà thơ mượn chữ hành thường tỏ ra khá phóng túng ,như muốn nói cho bằng hết ý mình ,mà đó thường là những điều khó nói,khó được chấp nhận .Ví như bài Lũng Tây hành của Trần Đào là một mặt trái của chuyện đời:

Quên mình, thề giết Hung Nô
Năm ngoái tướng sĩ bụi Hồ vùi thân.
Bên sông Vô Định xương tàn,
Vẫn người trong giấc mộng xuân khuê phòng.
(Trần Trọng San dịch)

Hay Nguyễn Bính, nhà thơ đồng quê nhưng với Hành phương Nam lại tỏ ra khá ngang tàng, kiêu bạc:

Rãy ruồng châu ngọc, thù son phấn
Mắt đỏ lên rồi cứ chết ngay
Hỡi ơi nhiếp chính mà băm mặt
Giữa chợ ai khóc mà nhân thay

Rõ ràng, thơ hành của Thâm Tâm, Nguyễn Bính, Trần Huyền Trân là thơ hành của chính các ông, những nhà thơ Mới bởi vậy mới đượm chút bâng khuâng khó hiểu của thời đại.



Chuyện Tống Biệt

Tống biệt là chuyện muôn thuở , đề tài quen thuộc của văn chương. Nhưng với Thâm Tâm ,chuyện tống biệt chừng như khác . Đấy không phải là chuyện Lưu Trần và Nguyễn Triệu rời Thiên Thai có Suối tiễn oanh đưa tiễn ngậm ngùi ( Tản Đà -Tống biệt ).Cũng không phải là sự ra đi vì Non sông đã chết thêm nhục ,Hiền thánh còn đâu học cũng hoài ( Phan Bội Châu – Lưu biệt xuất dương ) ,hay ra đi mà lòng hẹn quyết : Đấng trượng phu tuỳ ngộ nhi nan…Non sông ấy chờ ta thêu đặc dệt.Kìa tụ tán chẳng qua là tiêu biểu ( Huỳnh Thúc Kháng-Bài ca lưu biệt ) .Người ra đi ở tống biệt hành có phần gần gũi với khách chinh phu trong Tiếng gọi bên sông của Thế Lữ:

Ta đi theo đuổi bước tương lai,
Đẻ lại bên sông kẻ ngậm ngùi
Chí nặng bốn phương trời nước rộng,
Từ nay thêm bận nỗi thương ai.

Những chỉ gần mà không giống. Cách nhau độ năm, mười năm mà đã thế, làm sao bảo li khách có “họ hàng” với chàng Kinh Kha ở nước Yên cả ngàn năm trước?

Ra đi là một mô típ không chỉ trong văn chương mà trước hết là trong đời sống của không ít thanh niên Việt Nam thời kỳ 1930-1945. Đi đã trở thành nhu cầu .Vì lí do gì ư? Nhiều lắm ! Ngay ở một nhà thơ của Hoa niên vẫn không hiếm những câu:

Những ngày nghỉ học tôi hay tới
Đón chuyến tàu đi đến những ga
Tôi đứng bơ vơ xem tiễn biệt,
Lòng buồn đau xót nỗi chia xa.

( Tế Hanh -Những ngày nghỉ học )

Vì sao có chuyện kỳ cục ấy? Người trong cuộc giải thích:

Kẻ về không nói bước vương vương…
Thương nhớ lan xa mấy dặm trương.
Lẽo đẽo tôi về theo bước họ
Tâm hồn ngơ ngẩn nhó muôn phương.

Những năm 40 của thế kỷ trước , đi càng trở nên bức bách khi mà bao câu hỏi cứ xoáy mãi trong lòng họ:

Ôi ! Ta đã làm chi đời ta?
Ai đã làm chi lòng ta ?
……………………………………
Ta đã làm chi đời ta xưa?
Ta đã dùng chi đời ta chưa?
Thiên thu? ngờ sự nghiệp!
Chiều mưa rồi đêm mưa;
Gió lùa gian gác xép,
Đời tàn trong ngõ hẹp.

( Vũ Hoàng Chương – Đời tàn trong ngõ hẹp )

Với các nhà thơ trường phái thơ hành, nỗi đời còn bức bách hơn. Trần Huyền Trân gào thét:

Thế rồi thí bỏ rủi may
Đưa giam cõi bụi, đứa đày rừng sâu
Vai cày chẳng kẻo làm trâu
Giong xe chẳng kẻo tóc râu làm bờm
Nẻo về chật chội áo cơm
Dặm đi lại đông từng cơm lá rừng…

(Độc hành ca )

Đi không đòng nghĩa với sung sướng. Nhưng là sự giải thoát với khỏi thực tại: Kinh thành mây đỏ như son, Cái lồng chật chội giam con chim trời (Trần Huyền Trân-Vô đề). Người đi có phần bất chấp:

Mơ gì Áp tiết thiên văn tự,
Giày cỏ gươm cùn ta đi đây.

(Nguyễn Bính –Hành phương Nam )

Sau này, khi nhiều người thắc mắc về người đi trong bài thơ của mình (cũng là một cuộc ra đi từ trước năm 1945), Nguyễn Đình Thi giải thích: Người ra đi này cũng không phải là tác giả hoặc một người cụ thể -người ấy ra đi ,có thể đi làm cách mạng, hoặc vì một lẽ khác , vì một bi kịch riêng… Dù sao đấy cũng là một người bỏ nơi ở, bỏ nơi mình đang quen sống để ra đi, người ấy có nhiều nông nổi, nhiều tâm trạng… (Đỗ Tiến Bảng -Về bài thơ Đất Nước ,Văn nghệ ,số 53/1994).

Trường hợp Thâm Tâm ,trong số những bài thơ ít ỏi trước năm 1945, chuyện ra đi không chỉ nói ở Tống biệt hành . Ở Tráng ca (1994), có Bọn ta một lớp lìa nhà. Ở Can trường hành (1944), có chàng là bậc trẻ không biết sợ… Vợ con thí tất cho thiên hạ… Ta lênh đênh hoài sâu biết mấy! Còn trước đó, vào năm 1940, người ra đi với bao quyết tâm:

Trời hỡi ! Mai này tôi phải đi
Thơ này rồi chẳng đọc ai nghe
Đời nhiều nhưng có dăm người bạn
Thì viễn li không có đường về
……………………………………………
Ngày mai ngược gió tôi đi ngược
Ai có quan tâm gọi trở về
Trời hỡi ,ngày mai ngày mốt thôi
Ngày mai cay đắng nhất li bôi…
( Ngược gió )

Đến năm 1944, chuyện ra đi lại đặt ra ở một bài thơ mang tên Lưu biệt hẳn hoi mà người đi lại rất cụ thể:

Tiệc này đêm cuối mai chia li
Anh cố lưu tôi có ích gì
………………………………….
Đất trời rộng quá tôi không chịu
Cắm chặt sông đây một cánh bè
……………………………………………
Sáng mai qua bến Ninh Cơ lạnh
Sẽ thấy se lòng trận gió tê
Giọng đàn lưu luyến làm chi nữa
Tôi quyết đi rồi tôi phải đi .

Cách đây không lâu, nhiều người đã tìm các tư liệu khá cụ thể về cuộc chia li và li khách ở bài thơ Tống biệt hành. Rất tiếc, các tư liệu ấy, có độ tin cậy cao (một người bạn thân của Thâm Tâm, một người là nhà văn cùng thời), nhưng lại trái ngược nhau. Tôi đồ rằng, sẽ còn những phát hiện như thế nữa. Song tất cả các phát hiện ấy càng khiến việc tiếp cận bài thơ thêm khó khăn. Giả dụ rằng, không có cuộc chia tay với những con người cụ thể kia thì thế nào vẫn có Tống biệt hành, bởi muốn đi, quyết ra đi thật sự không ai khác là chính nhà thơ Thâm Tâm!

Sao có tiếng sóng ở trong lòng?

Chuyện ra đi là thế ,nhưng người ta bàn luận nhiều về Tống biệt hành có lẽ vì đây là bài thơ hay nhất của Thâm Tâm .

Bài thơ mở đầu theo lối trực tiếp, như một thông báo, không nhiều lời:

Đưa người, ta không đưa qua sông.

Song, đây lại là câu mở đầu,khiến người ta liên tưởng rất xa. Đây là chuyện Kinh Kha ,người nước Tề , thời chiến quốc . Chàng vốn là kiếm khách nổi tiếng. Khi Tần sắp đem quân uy hiếp nước Yên , thái tử Đan nhờ Kinh Kha có làm bài dịch thuỷ (Bài ca sông Dịch) ,tỏ rõ quyết tâm của mình:

Phong tiêu tiêu hề Dịch thuỷ hàn,
Tráng sĩ nhất khứ hề bất phục hoàn.

(Gió vi vu ,sông Dịch lạnh ,
Tráng sĩ một đi không trở về).

Việc hành thích Tần vương của Kinh Kha không thành .Chàng bị đam chết giữa cung điện Tần.Nhưng câu chuyện về Khinh Kha thíống mãi trong cuộc đời và văn chương. Đời Đường, Lạc Tần Vương có bài thơ Dịch thuỷ tống biệt nhắc chuyện Kinh Kha với bao cảm khái:

Tích thời nhân dĩ một,
Kim nhật thuỷ do hàn.

(Người xưa đã khuất rồi.
Nước sông còn lạnh buốt).

Tống biệt hành gợi nhớ chuyện Kinh Kha ,song lưu ý mọi người đây không phải là chuyện xưa : Đưa người ,ta không đưa qua sông .Cuộc đưa tiễn không biết diễn ra tại đâu ,nhưng buồn hiu hắt ,chất đầy tâm trạng :

Sao có tiếng sóng ở trong lòng?
Bóng chiều không thắm ,không vàng vọt,
Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong?

Dường như ngoại cảnh không liên quan gì tới tâm trạng :không có bờ sông dậy sóng nhưng trong lòng lại nổi phong ba ;buổi chiều bình yên nhưng trong mắt đẫm ánh tà dương !Cách diễn tả thật lạ lùng.Thông thường ,người ta hay lấy cảnh vật để tả nỗi lòng ,theo kiểu Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ .Nhà thơ Mới Thâm Tâm thừa biết điều đó, nhưng đã làm theo chiều ngược lại.Trong bức tranh ngược sáng ây , tâm trạng nổi bật hẳn lên ,nỗi buồn ,sự tê tái mang vóc dáng ,hình thù hẳn hoi.

Người ta hay bàn cãi ,nỗi buồn của ai đây ?Theo lô gíc hình thức, chắc chắn đây là nỗi buồn của người đưa tiễn .Người ấy đang nói , đang kể chuyện rành rành ra đó .Bởi vậy ,mới có những câu thơ tiếp theo :

Đưa người ,ta chỉ đưa người ấy,
Một gã gia đình, một dửng dưng…

Chẳng lẽ ở trên nói người rađi rất u buồn ,liền sau đó lại khẳng định: không ,người ấy rất dửng dưng ?Từ đầu đến câu thơ này,tất cả đều diễn tả tâm trạng của người đưa tiễn.Nhưng nhân vật trung tâm lại là người ra đi: vì người ấy mà tôi buồn ;vì người ấy mà tôi đau;chỉ có một người ấy thôi!Khổ nỗi ,người ấy lại nhất quyết ra đi,không gì có thể cưỡng lại đuợc:

- Li khách ! Li khách ! Con đường nhỏ,
Chí nhớn chưa về bàn tay không,
Thì không bao giờ nói trở lại!
Ba năm ,mẹ già cũng đừng mong.

Không ai biết lí do nào khiến người phải ra đi .Song , chắc đấy không là lí do đơn giản ,bình thường.Việc gì người ta phải đánh đuổi, kể cả nỗi lòng chờ mong của người mẹ thiêng liêng để ra đi , nếu đó không là lí do thật cao cả? Câu thơ vẫn theo điệu kể ,nhưng chủ thể lời nói thì chuyển dịch dần từ người đưa tiễn sang người ra đi ,từng lời ,từng lời ,một,thật rắn rỏi , việc ra đi khó lòng thay đổi ý định ở người ra đi :

Ta biết người buồn chiều hôm trước :
Bây giờ mùa hạ sen nở nốt,
Một chị ,hai chị , cùng như sen,
Khuyên nốt em trai dòng lệ sót.
Ta biết người buồn sáng hôm nay:
Giời chưa mùa thu ,tươi lắm thay,
Em nhỏ ngây thơ , đôi mắt biếc,
Gói tròn thương tiếc chiếc khăn tay…

Chỗ dựa ấy là hoàn cảnh và tâm trạng của li kahchs .Về hoàn cảnh, người ấy có mẹ già và “một chị ,hai chị, cùng như sen” mùa hạ. Đông đấy ,nhưng vẫn lẻ loi , đơn chiếc .Người ấy có người “em nhỏ thơ ngây, đôi mắt biếc” đang rất nặng tình với mình ( ). Hoàn cảnh và tình cảm sâu nặng như thế ,ra đi lòng sao không trĩu nặng. Nhưng tình không lớn bằng nghĩa. Năm 1944, trong bài thơ Lưu biệt, Thâm Tâm thêm một lần nói rõ điều đó:

Đời người say tỉnh được bao dịp
Xin cạn chén rượu để tôi đi
Đau tình không xót bằng đau nghĩa
Tay gầy cũng ném chén vô tri
Mắt xanh cùng gửi ngoài mưa gió
Lòng không cùng sống với cầm thi…

Người ấy vẫn cứ đi .Chỗ dựa đẻ níu kéo hoá ra không cầm giữ được
Vì thế ,người trong cuộc ,dù biết rất rõ ,hiểu rất kỹ nhưng lòng vẫn bàng hoàng, ngơ ngác:

Người đi? Ừ nhỉ,người đi thực!
Mẹ già coi như chiếc lá bay,
Chị thà coi như là hạt bụi,
Em thà coi như hơi rượu say.

Khi bàng hoàng, ngơ ngác trước một cuộc chia li thì người ra đi mãi mãi in dấu trong tâm hồn người ở lại và cuộc chia li vẫn như đang diễn ra. Bài thơ Tống biệt hành của Thâm Tâm khiến người đời nhớ mãi vì lẽ đó.

Nguồn: edunet.com.vn

Thứ Bảy, 6 tháng 12, 2014

Tư liệu: Tiếng còi trong sương đêm – Lê Trực (1928-1967)


http://www.dongnhacxua.com/tieng-coi-trong-suong-dem


Tiếng còi trong sương đêm – Lê Trực (1928-1967)


Về với dòng nhạc xưa, chúng tôi rất vui khi mỗi ngày có thêm một phát hiện thú vị. Hôm nay, thật tình cờ, DongNhacXua.com biết được nhạc sỹ Lê Trực của bản ‘Tiếng còi trong sương đêm’ cũng chính là nhạc sỹ Hoàng Việt của những ‘Tình ca’ hay ‘Lên ngàn’.
Nhạc sỹ Lê Trực (hay Hoàng Việt sau này) sinh ngày 26/10/1928 tại Chợ Lớn. Ông tên thật là Lê Chí Trực. Ông là con trai út và cũng là người con trai duy nhất trong một gia đình có 6 người con. Quê cha ở Bà Rịa và quê mẹ ở Cái Bè, tỉnh Tiềng Giang. Trước khi theo Việt Minh đi kháng chiến năm 19 tuổi, ông chơi nhạc ở Sài Gòn và lấy nghệ danh Lê Trực. Và có lẽ bản ‘Tiếng còi trong sương đêm’ là bản nhạc duy nhất còn lưu truyền với bút danh Lê Trực, được nhà xuất bản An Phú phát hành cuối năm 1953 đầu năm 1954. 
Nhạc sỹ Lê Trực, tức Hoàng Việt. Ảnh: TheThaoVanHoa.vn
Nhạc sỹ Lê Trực, tức Hoàng Việt. Ảnh: TheThaoVanHoa.vn

Thời gian rồi sẽ làm xóa nhòa đi ranh giới của chính kiến và bất đồng trong nhận thức nhưng chân giá trị của những bản nhạc bất hủ còn mãi. Qua bài viết này, DongNhacXua.com xin gởi cầu chúc đến linh hồn của nhạc sỹ Lê Trực – Hoàng Việt được bình an nơi chốn vĩnh hằng

tieng-coi-trong-suong-dem--0--le-truc--amnhacmiennam.blogspot--dongnhacxua.com
Tiếng còi trong sương đêm (Lê Trực). Ảnh: AmNhacMienNam.blogspot.com

tieng-coi-trong-suong-dem--1--le-truc--amnhacmiennam.blogspot--dongnhacxua.com
* Xin ghi DongNhacXua.com và các nguồn có liên quan khi trích dẫn.

Thứ Ba, 2 tháng 12, 2014

Trung Quốc thuê đến 300 ngàn dư luận viên trực tuyến để tô vẽ cho Đảng Cộng sản Trung Quốc

Nguồn: http://www.businessinsider.in/China-Hires-As-Many-As-300000-Internet-Trolls-To-Make-The-Communist-Party-Look-Good/articleshow/44859392.cms
---------------

Trung Quốc thuê đến 300 ngàn dư luận viên trực tuyến để tô vẽ cho Đảng Cộng sản Trung Quốc
Nhà cầm quyền Trung Quốc không chỉ kiểm duyệt internet, mà còn bỏ tiền ra thuê các dư luận viên để tham gia ý kiến trên các mạng xã hội nhằm tạo hình ảnh tốt đẹp cho đất nước và chế độ này.

Cuốn sách "Bị chặn trên Weibo" của nhà nghiên cứu Trung Quốc Jason Q. Ng, đã cho chúng ta biết trang mạng Sina Weibo, một phiên bảnTwitter của TQ, đã chặn cụm từ "50 xu". Cụm từ này làm nhắc ta nhớ đến "Đảng 50 xu" ở TQ, là nhóm thường dân được nhà cầm quyền TQ thuê để tạo ra những tin tức trong ngày trên Internet theo hướng có lợi cho chế độ.

Những tay súng bắn thuê này được cho là kiếm được 50 xu (tức là 1/2 đồng nhân dân tệ) cho mỗi bài viết. Nhà cầm quyền TQ không chính thức thừa nhận sự tồn tại của những người này, nhưng thực sự họ hoạt động như một lữ đoàn với ở các cấp độ khác nhau, thậm chí có một số dư luận viên còn được chính các trang web hoặc các nhà cung cấp internet thuê.

Ước tính có khoảng 250.000 đến 300.000 người thuộc về "Đảng 5 xu", theo báo cáo đăng trong Tạp chí Khoa học chính trị Hoa Kỳ năm 2013 của các nhà nghiên cứu từ Đại học Harvard. "Quy mô và độ tinh xảo của chương trình kiểm duyệt mà nhà cầm quyền Trung Quốc đã sử dụng để kiểm duyệt sự thể hiện quan điểm của người dân Trung Quốc quả là chưa từng có trong lịch sử đã từng được ghi lại của thế giới," các tác giả viết. Theo trang China Digital, năm 2011 một chỉ thị nội bộ dành cho thành viên Đảng 50 xu đã bị rò rỉ. Các nhiệm vụ được giao cho thành viên Đảng 50 xu bao gồm việc biến nước Mỹ thành "mục tiêu của những lời chỉ trích", và sử dụng "lịch sử đẫm máu và nước mắt" của Trung Quốc để kích động những tình cảm ủng hộ Đảng. Mục tiêu của việc này là nhằm ngăn chặn làn sóng dân chủ từ hòn đảo nằm kề bên Trung Quốc nhưng có chủ quyền riêng là Đài Loan.

Tạp chí New Statesman của Anh quốc đã thực sự theo dõi một trong những tay tuyên truyền viên viết thuê trong năm 2012. Anh chàng vô danh 26 tuổi này cho biết anh ta có "quá nhiều tên người dùng" đến nỗi không thể đếm xuể, và  mỗi sáng anh đều nhận được một email từ các văn phòng truyền thông trực tuyến ở địa phương nhằm định hướng những tin tức nào cần được chú trọng trong ngày hôm ấy.

"Đó là một đòn tâm lý ... Bạn có thể làm một điều xấu thậm chí còn trở nên tồi tệ hơn, dựng lên một câu chuyện rắc rối, và làm cho mọi người nghĩ rằng đó là một chuyện vớ vẩn khi thực sự họ nhìn thấy nó," anh ta nói với Ngải Vị Vị, cộng tác viên biên tập của tờ Statesman như vậy.


Chương trình kiểm duyệt của Trung Quốc, có tên gọi là Dự án Tấm khiên vàng (Golden Shield), được biết đến ở phương Tây dưới tên gọi "Vạn lý tường lửa" (Great Firewall)" đã tồn tại trong gần một thập niên. Nó chặn các trang web của nước ngoài đưa thông tin bất lợi về cộng sản, đồng thời giám sát và sàng lọc những nội dung từ trong nước.Các nhà báo và cư dân mạng nào không tuân thủ các quy tắc của nhà cầm quyền đều đối mặt với nhà tù - hoặc tồi tệ hơn.

Tuy nhiên, theo tờ The Economist, bên cạnh việc chặn những thông tin bất lợi, nhà cầm quyền TQ cũng bắt đầu đưa thêm ý kiến riêng của mình lên Internet từ năm 2005, khi các cuộc biểu tình chống Nhật nổ ra khắp Trung Quốc. Chỉ kiểm soát internet là không đủ. Đảng cần phải "sử dụng" internet, như lời phát biểu của Chủ tịch TQ lúc ấy là Hồ Cẩm Đào vào năm 2007. Và thế là mạng Sina Weibo của TQ đã ra đời vào năm 2009, khiến cho các "Trung tâm 50 xu" hoạt động nhộn nhịp hẳn lên.


Theo Đài Á châu Tự do (Radio Free Asia), Bộ Công nghiệp và Công nghệ Thông tin Trung Quốc thậm chí còn đẩy mạnh khả năng kiểm duyệt của Đảng thêm một nữa khi họ thiết lập một trung tâm đào tạo trong năm 2014. Dự kiến sẽ có chương trình đào tạo các thành viên tiềm năng để chỉ đạo và kiểm soát các cuộc thảo luận trực tuyến.

"Một hệ thống với sự chuyên nghiệp hóa như thế này chưa bao giờ tồn tại trong quá khứ", Wang Jinxiang, chủ nhân của một trang web độc lập, phát biểu như vậy với RFA. "Dường như đó là những năng lực mới để có thể làm việc."

Và những sáng kiến mới này quả là hiệu quả. Hệ thống kiểm duyệt của Trung Quốc vẫn hoạt động tốt trong cuộc biểu tình gần đây tại Hồng Kông.

Thứ Hai, 24 tháng 11, 2014

Tư liệu: Nhìn lại những nỗ lực của cựu Hoàng Đế Bảo Đại trong cuộc đấu tranh giành độc lập và thống nhất cho đất nước và dân tộc Việt Nam

Nhìn Lại Những Nỗ Lực Của Cựu Hoàng Đế Bảo Đại Trong Cuộc Đấu Tranh Giành Độc Lập Và Thống Nhất Cho Đất Nước Và Dân Tộc Việt Nam

http://www.vietthuc.org/nhin-lai-nhung-no-luc-cua-cuu-hoang-de-bao-dai-trong-cuoc-dau-tranh-gianh-doc-lap-va-thong-nhat-cho-dat-nuoc-va-dan-toc-viet-nam/

Nhân Dịp Căm Bốt Làm Lễ Quốc Tang Cho Cựu Hoàng Sihanouk, Nhìn Lại Những Nỗ Lực Của Cựu Hoàng Đế Bảo Đại Trong Cuộc Đấu Tranh Giành Độc Lập Và Thống Nhất Cho Đất Nước Và Dân Tộc Việt Nam
Bài này được viết theo lời yêu cầu của một số người trẻ trong đó nhiều người là sinh viên đại học nhằm bổ khuyết cho sự hiểu biết của anh chị em này nói riêng và giới trẻ Việt Nam nói chung về vị vua cuối cùng của Nhà Nguyễn nhân dịp 100 năm năm sinh của ông cũng như về một giai đoạn lịch sử có quá nhiều góc tối hay góc khuất luôn cả oan khuất và cũng nhân dịp đầu Xuân Quý Tỵ 2013 sắp tới. Yêu cầu này cũng đến không lâu khi Cựu Hoàng Norodom  Sihanouk của nước láng giềng thân cận nhất của Việt Nam, Vương Quốc Khmer hay quen thuộc hơn, Căm Bốt, vừa mới băng hà và thi thể còn được quàn tại hoàng cung chờ ngày quốc táng. Khi liên lạc với tôi, như để chắc ăn, một trong những vị này đã dùng cả điện thoại lẫn điện thư và để lại lời nhắn. Để đáp lễ, tôi cũng trả lời anh bằng điện thư trước rồi sau đó gọi điện thoại cho anh. Hai chúng tôi thảo luận với nhau rất lâu, không dưới một giờ đồng hồ về đề tài không mấy đơn giản nhưng vô cùng cần thiết này. Câu chuyện phải nói là vô cùng hào hứng giữa hai người không cùng thế hệ. Vì vậy thay vì viết một bài dưới hình thức khảo cứu, tìm hiểu hay bài học dùng trong lớp học như tôi thường làm, tôi xin được tóm tắt những gì chúng tôi đã chia sẻ với nhau cho bài viết bớt khô khan và nhẹ nhàng hơn hầu người bạn trẻ của tôi có thể đăng trên báo xuân của anh và các bạn của anh. Tôi cũng tránh không nêu tên anh và tổ chức của anh để bài viết có thể được dễ dàng phổ biến rộng rãi hơn cho những anh chị em thuộc những nhóm khác.
Nhu cầu cần được xét lại
Cựu Hoàng Bảo Đại, như sau này người ta thường gọi ông kể từ ngày ông thoái vị, thường bị nhiều người, Việt Nam có, ngoại quốc có, tệ hơn trong đó có cả các sử gia, máy móc theo nhau gọi là vua bù nhìn, tay sai của hết Tây đến Nhật, một ông vua chỉ ham ăn chơi đàng điếm, một thứ playboy do người Pháp nặn ra và đặt lên ngôi để dễ sai bảo. Ngay cả Sử Gia Trần Trọng Kim, khi được Học Giả Hoàng Xuân Hãn khuyên là nên gặp ông để tìm hiểu, lúc đầu cũng đã từ chối, gọi ông là “thằng ngốc”- “thằng ngốc, gặp nó làm gi?”- nhưng sau khi đã gặp rồi, nhà học giả kiêm sử gia này đã phải thay đổi hoàn toàn nhận định mà ông đã có từ trước. Ở đây tôi không bàn về chuyện này mà chỉ nói tới những gì Bảo Đại đã làm ngay từ khi vị cựu hoàng này còn là Đương Kim Hoàng Đế hay sau này là Cựu Hoàng và là Quốc Trưởng của Quốc Gia Việt Nam. Đây là những đóng góp tôi nghĩ là không nhỏ, nếu không nói là vô cùng lớn lao so với những đóng góp của những lãnh tụ khác của Việt Nam, trong công cuộc đấu tranh giành độc lập và thống nhất cho quốc gia và dân tộc của ông bằng đường lối hòa bình, phi bạo lực. Cho cá nhân ông, những nỗ lực của ông đã không mang lại được những thành quả mà ông mong muốn. Ông đã không bảo vệ được di sản mà tổ tiên ông để lại, đã không xây dựng được một chế độ quân chủ lập hiến cho đất nước và thần dân của ông, điều ông muốn làm ngay từ đầu, không giữ được sự đoàn kết dân tộc mà ông trịnh trọng ghi trong chiếu thoái vị… Cuối cùng ông đã bị mọi người trách cứ, bỏ rơi và chết ở xứ người. Thần dân cũ của ông không mấy ai để ý tới sự qua đời của ông, trái với cái chết của một quốc vương khác trẻ hơn ông nhưng đồng thời với ông và cũng phải đối phó với vấn đề độc lập của quốc gia giống như ông sau này. Tôi muốn nói tới Cựu Hoàng Norodom Sihanouk của xứ Căm Bốt. Giống nhưng khác với Bảo Đại ở đường lối đấu tranh vì trong đời ông, Sihanouk đã có thời dùng bạo lực để đàn áp đối lập, đã cộng tác với Khmer Đỏ, tổ chức Cộng Sản Căm Bốt chịu ảnh hưởng của Trung Cộng của các lãnh tụ Pol Pot và Ieng Sary, một thời đã mang họa diệt chủng đến cho xứ Căm Bốt khiến cho hàng triệu người dân của xứ này bị tàn sát bằng đủ mọi phương tiện với hàng núi xương được phát hiện, cho đến nay vẫn được bảo tồn coi như di tích của một thời đen tối nhất trong lịch sử của dân tộc Khmer. Còn Bảo Đại thì tuyệt đối không, kể cả việc ông đã từ chối không chấp nhận cho người Nhật đứng ra bảo vệ lãnh thổ, hoàng cung và an ninh cho chính ngôi vị và bản thân ông, chống lại cuộc nổi dậy của Việt Minh và những người Cộng Sản hối Tháng Tám năm 1945 theo trách nhiệm giữ gìn trật tự mà quốc tế giao cho họ. Lý do đơn giản là vì Bảo Đại không muốn dùng ngưới ngoại quốc để chống lại người Việt Nam, đồng bào của ông và thần dân của ông. Sihanouk đã được chính quyền và người dân Căm Bốt thương tiếc bằng những giọt nước mắt nhỏ xuống bên lề đường hay ở trên công viên trước hoàng cung ở Nam Vang hay ở nhiều nơi ở Căm Bốt. Người ta đã long trọng đón thi hài của ông từ Bắc Kinh được đưa về Nam Vang và long trọng làm quốc tang cho ông trong bốn ngày đầu tháng 2 năm 2013, vào lúc người Việt Nam ở trong nước cũng như ở Hải Ngoại sửa soạn mừng đón Xuân Quý Tỵ.
Bảo Đại                               Phạm Quỳnh                             Ngô Đình Diệm
Nỗ lực canh tân đầu tiên với Phạm Quỳnh và Ngô Đình Diệm
Trở về với những cuộc tranh đấu của Cựu Hoàng Bảo Đại. Nhà vua đã bắt đầu sự nghiệp này của mình từ rất sớm, ngay từ khi ông mới từ Pháp trở về nước đế chính thức lên ngôi, sau hơn mười năm du học và hấp thụ được cả hai nền văn hóa Đông Tây qua sự rèn luyện của Cựu Khâm Sứ Charles về phía người Pháp và Cử Nhân Lê Như Lâm với tư cách là giảng tập hồi nhà vua còn ở Việt Nam rồi phụ đạo trong suốt thời gian ông ở Pháp về phía người Việt, chưa kể tới những gì ông học được ở các trường trung học Pháp nhất là ở trường Khoa Học Chính Tri ở Paris trong các năm 1922-1932, rèn luyện để làm vua và làm nguyên thủ quốc gia, điều những nhà lãnh đạo trong lịch sử Việt Nam sau này không có. Tranh đấu này mang tính cách của một cuộc cải cách và đã được khơi mào bởi những vận động của giới trí thức đương thời trước đó, đại diện là học giả Phạm Quỳnh của báo Nam Phong xuyên qua những bài viết của họ Phạm về một chế độ quân chủ lập hiến và về nhu cầu trả lại cho nhà vua quyền nội trị ở hai xứ Bắc Kỳ và Trung Kỳ và trả lại tổ quốc cho ngươòi Việt Nam. Mở đầu, ngay từ tháng 9 năm 1932 Phạm Quỳnh đã được cử làm Ngự Tiền Tổng Lý Văn Phòng hàm Thượng Thư để trực tiếp làm việc với nhà vua. Tiếp theo, ngày 10 tháng 12 năm 1932 bằng một đạo dụ, nhà vua loan báo chính thức cầm quyền qua một chính thể quân chủ lập hiến kèm theo với nhũng dự án cải tổ guồng máy cai trị, hệ thống quan lại, tổ chức giáo dục và tư pháp, Viện Dân Biểu Trung Kỳ… Để thực thi những dự án này, ngày 2 tháng 5 năm 1933, như một biến cố bất ngờ, Bảo Đại lại ký một dụ khác loan báo tự mình chấp chánh và thay thế sáu vị thượng thư già bằng những nhân vật trẻ trong đó có Ngô Đình Diệm giữ Bộ Lại, Phạm Quỳnh giữ Bộ Học, Bùi Bằng Đoàn Bộ Hình…
Những việc làm đầu tiên kể trên của Bảo Đại, mặc dầu đã đem lại những tia hy vọng cho người dân ở hai xứ Bắc và Trung Kỳ về một vận hội mới cho đất nước, đã không tồn tại lâu dài, một phần vì người Pháp cản trở vì trả lại quyền nội trị ở Bắc Kỳ và ở Trung Kỳ là trở lại với Hòa Ước 1884 từ đó sẽ động tới các chức thống sứ Bắc Kỳ và Khâm sứ Trung Kỳ, một phần là do mâu thuẫn nội bộ giữa phe quan lại cũ và những trí thức mới, giữa những người đi vào hoạn lộ qua ngả quan trường và những ngưuời đi vào đường này qua đường tắt cũng như giữa hai nhân vật chủ cốt là Phạm Quỳnh và Ngô Dình Diệm mà nhà vua đặt hết tin tưởng vào coi như đôi xe bổ khuyết, hỗ trợ cho nhau. Cuối cùng Ngô Đình Diệm đã từ chức, lôi cuốn theo một vài nhân vật mà nhà vua tin cậy khác. Thất bại trong cố gắng đầu đời, nhà vua trở thành “cô đơn, chỉ có một mình” để đến khi Hoàng Xuân Hãn nhắc ông là phải làm gì vì giới thanh niên mong đợi, nhà vua đã hỏi lại “Làm gì? Làm với ai?” Có điều ông vẫn không hoàn toàn mất hết hy vọng như sau này ông ghi trong hồi ký của ông: “Dù sao đi nữa, sự có mặt của tôi trên ngôi vẫn làm cho giới trẻ giữ được niềm hy vọng. Những người như Ngô Dình Diệm và Nguyễn Đệ lúc ấy sẽ lại ra giúp tôi theo chiều hướng này”  “Chắc ngưòi Pháp cho rằng tôi đã ngoan ngoãn biết nghe theo lời của họ. Dù họ có tin rằng họ đã thắng một cách dễ dàng, tôi cũng chẳng nên có lý do gì ngờ vực tôi. Tôi tin rằng nhân dân sẽ hiểu các hình thái buông thả bên ngoài của tôi, bởi cái hình thái ấy cho thấy sự thờ ơ, lơ là với nhiệm vụ của tôi…” và ông đã sống sót để chờ thời, không bị rơi vào số phận của các VuaThành Thái và Duy Tân mà ông hiểu rõ hơn ai hết cũng như bị mất tinh thần và trở thành một con người vô dụng.
Cơ hội mới: Nhật đảo chính Pháp, 9 tháng 3 năm 1945 – Chính Phủ Trần Trọng Kim hay là Cuộc Cách Mạng Phi Bạo Lực bị bỏ lỡ
Niềm hy vọng và sự kiên nhẫn của Bảo Đại kể trên đã không uổng. Mười hai năm sau, năm 1945, cơ hội lại đến với nhà vua một lần nữa. Lần này do người Nhật mang lại sau cuộc đảo chính ngày 9 tháng 3 năm 1945 lật đổ người Pháp của họ. Không còn con đường nào khác tốt hơn và cũng không để lỡ cơ hội bước đi nhũng bước khởi đầu, khi được người Nhật yêu cầu nhà vua đã cho công bố bản Tuyên Ngôn Độc Lập đầu tiên trong lịch sử Việt Nam hiện đại. Chính Phủ Trần Trọng Kim đã được thành lập với các bộ trưởng đều là những nhà tân học có khả năng, và đạo đức nổi tiếng đương thời đứng đầu bởi nhà giáo kiêm học giả Trần Trọng Kim, tác giả của những bộ sách Giáo Khoa Thư và nhất là bộ Việt Nam Sử Lược cho tới khi bài này được viết vẫn còn thông dụng, với sự cộng tác của những tên tuổi quen thuộc với học giới dương thời như Giáo Sư Hoàng Xuân Hãn, Luật Sư Vũ Văn Hiền, Luật Sư kiêm nhà báo Phan Anh, Luật Sư Trần Văn Chương…
Mặc dầu không tồn tại lâu dài, tất cả chỉ được hơn bốn tháng, thực tế còn ngắn hơn nhiều, hoạt động trong hoàn cảnh chiến tranh, bị Việt Minh đánh phá ngay từ đầu rồi tuyên truyền phá hoại và thiếu thốn đủ mọi phương tiện, Chính Phủ Trần Trọng Kim đã tạo được những thành tích đáng ca ngợi. Cả một chương trình hành động nhằm xây dựng một nước Việt Nam mới đã được dự trù bao trùm mọi phạm vi sinh hoạt từ soạn thảo hiến pháp, cải tổ thuế má, Việt Nam hóa giáo dục, thu hồi các nhượng địa, kể cả xứ Nam Kỳ, cứu đói, chống nạn mù chữ … đều đã đồng thời được thực hiện. Quốc hiệu Việt Nam với danh xưng đầy đủ là Đế Quốc Việt Nam đã được lựa chọn cùng với bài Đăng Đàn Cung làm quốc ca, cờ quẻ ly nền vàng ba sọc đỏ với hai sọc trên liền, sọc giữa đứt đoạn làm quốc kỳ. Danh xưng bộ trưởng để gọi những người đứng đầu các bộ được dùng để thay thế bằng danh xưng thượng thư của thời trước, các tên Bắc Bộ, Trung Bộ, Nam Bộ thay thế cho các tên Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ mang nặng dấu vết của thời thuộc địa. Chương trình giáo dục bằng tiếng Việt được biết dưới tên Chương Trình Hoàng Xuân Hãn đã được soạn thảo và áp dụng và đã trở thành nền tảng cho nền giáo dục sau này, rõ hơn những năm đầu của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà, thời Quốc Gia Việt Nam và hai thời Đệ Nhất và Đệ Nhi Cộng Hoà ở Miền Nam. Bài Đăng Đàn Cung tuy được chọn làm quốc ca nhưng trên thực tế thì bài Tiếng Gọi Sinh Viên đã được giới thanh thiếu niên, dưới sự hướng dẫn của các thày giáo ở các trường hát mỗi ngày một nhiều, đã được phổ biến hơn không phải chỉ ở miền Bắc và miền Trung mà luôn cả ở Miền Nam, miền đất cho đến khi Chính Phủ của Thủ Tướng họ Trần được thành lập vẫn chưa thực sự được trả về với lãnh thổ quốc gia,  để sau này trở thành quốc ca, một hiện tương đã nằm trong ký ức của những người thuộc thế hệ trẻ đương thời tới nay vẫn chưa hề phai nhạt.
Nỗ lực lần thứ hai của Bảo Đại tuy nhiên cũng không tồn tại được lâu dài. Thế Chiến Thứ Hai  chấm dứt với sự đầu hàng của Nhật Bản đã một lần nữa làm cho nhà vua phải bỏ dở. Lợi dụng cơ hội, Việt Minh cướp chính quyền ở Hà Nội và các tỉnh miền Bắc và áp lực những thành phần thiên Cộng khiến cho ngày 25 tháng 8 năm 1945 ông phải xuống chiếu thoái vị trao quyền cho Hồ Chí Minh và chính phủ lâm thời của ông này do Việt Minh lãnh đạo. Với Chiếu Thoái Vị, Bảo Đại đã trở thành nổi tiếng với câu nói: “ Trẫm để hạnh phúc của dân Việt Nam lên trên ngai vàng của Trẫm. Trẫm thà làm dân một nước độc lập còn hơn làm vua một nước nô lệ.”
Nỗ lực lần thứ ba: Hiệp Định Élysée và sự thành Lập Quốc Gia Việt Nam – Thâu Hồi xứ Nam Kỳ về cho lãnh thổ của dân tộc  
Bỏ qua những cố gắng của ông thời đầu thập niên ba mươi của thế kỷ trước và những cố gắng của ông sau khi ông tuyên bố độc lập ngày 11 tháng 3 năm 1945 mà tôi tóm tắt như trên, những biến cố ít người được biết đến, công lao lớn nhất mà Hoàng Đế Bảo Đại đã thực hiện được cho những người Việt Quốc Gia không chấp nhận chế độ Cộng Sản hay không sống nổi với chế độ Cộng Sản, đã ở lại, đã về hay dự tính về những vùng kiểm soát của người Pháp vào nửa cuối thập niên 1940 là Hiệp Định Élysée mà ông đã đạt được ngày 8 tháng 3 năm 1949, sau một thời gian dài thương thuyết, dưới hình thức trao đổi văn kiện giữa ông và Tổng Thống Pháp Vincent Auriol. Với Hiệp Định Élysée Quốc Gia Việt Nam đã hình thành để những ai không chấp nhận chính quyền Cộng Sản do Hồ Chí Minh lãnh đạo có chỗ trở về trong danh nghĩa của những công dân của một nước Việt Nam độc lập. Không có Bảo Đại, không có Quốc Gia Việt Nam, tất cả đều được nhìn hoặc như là theo Pháp để trở thành Việt gian làm bồi cho thực dân, đế quốc, hoặc là phải ở lại vùng Việt Minh kiểm soát để sớm muộn cũng bị loại trừ và tiêu diệt. Điều này đã xảy ra. Nói cách khác, Bảo Đại và Hiệp Định Élysée đã đem lại chính nghĩa cho những người đương thời không chấp nhận chủ nghĩa và chế độ Cộng Sản. Chưa hết, với Hiệp Định Élysée, Bảo Đại đã thâu hồi lại xứ Nam Kỳ cho Tổ Quốc Việt Nam một cách hòa bình, không đổ máu mà Hồ Chí Minh và Chính Phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa trước đó qua những thỏa ước 6 tháng 3 rồi 14 tháng 9 năm 1946 hay hội nghị Đà Lạt và Fontainebleau đã không làm được. Lễ thâu hồi đã chính thức được cử hành vào ngày 14 tháng 6 năm 1949. Với tư cách Quốc Trưởng của Quốc Gia Việt Nam, lần đầu tiên ông đã từ Đà Lạt, thủ đô tạm thời của ông về Saigon để long trọng đón phần đất đã từng là thuộc địa của Pháp từ năm 1862 trở về với lãnh thổ quốc gia và người dân Nam Kỳ đã trở thành công dân của Quốc Gia Việt Nam để cùng tham gia xây dựng lại đất nước dù là ở miền Nam, miền Trung hay miền Bắc. Một người dân miền Nam không lâu sau đó đã được bổ nhiệm đứng đầu miền Bắc. Đó là Đốc Phủ Sứ Nguyễn Văn Tâm, với danh vị Thủ Hiến Bắc việt. Đây là một sự thực không ai có thể chối cãi được và khi nói xấu ông người ta chỉ còn cách lơ đi không nói tới mà thôi.
Quốc Gia Việt Nam thường được hiếu là tiền thân của Việt Nam Cộng Hòa, từ đó bị ngộ nhận là có lãnh thổ chỉ là lãnh thổ của Miền Nam Việt Nam sau này tức từ vĩ tuyến 17 trở xuống. Điều này không đúng. Bắt đầu từ thời điểm 14 tháng 6 năm 1949, khi Nam Kỳ trở về với lãnh thổ của Quốc Gia Việt Nam và cho đến khi Hiệp Định Genève được thông qua và trớ thành có hiệu lực, Chính Quyền Quốc Gia Việt Nam của Quốc Trưởng Bảo Đại đã chính thức và hợp pháp kiểm soát những miền đất phía trên vĩ tuyến này, từ Lào Kay, Lai Châu, Cao Bằng, Lạng Sơn, Móng Cáy… cho tới Hà Tiên và mũi Cà Mau, từ đồng bằng cho tới các cao nguyên do người Pháp chiếm giữ trước đó và trao trả.  Nói cách khác, Quốc Gia Việt Nam có lãnh thổ bao trùm đất đai của người Việt từ Bắc chí Nam, từ Biển Đông với các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa (mà Thủ Tướng Chính Phủ Quốc Gia Việt Nam Trần Văn Hữu đã long trọng xác nhận ở Hội Nghị San Francisco vào hai ngày 6 và 7 tháng 9 năm 1951) tới các cao nguyên và miền núi, sau này, từ ngày 14 tháng 6 năm 1949, bao gồm luôn cả Miền Nam hay Nam Kỳ Lục Tỉnh thay vì chỉ có Miền Nam Việt Nam từ vĩ tuyến 17 trở xuống tức lãnh thổ Việt Nam Cộng Hoà về sau này. Cờ vàng ba sọc đỏ và bài Tiếng Gọi Thanh Niên sau này là Tiếng Gọi Công Dân đã được tung bay hay được hát ở kháp nơi hay đới với giới trẻ đương thời, được học sinh các trường trung và tiểu học, mới được mở cửa trở lại sau những ngày đầu của chiến tranh, hát lên buổi sáng trước khi vào lớp. Quốc kỳ này và quốc ca này đã được lựa chọn cùng thời với danh xưng Quốc Gia Việt Nam đã liên tục được duy trì qua các thời Đệ Nhất và Đệ Nhị Cộng Hoà của Miền Nam Việt Nam trong suốt hai mươoi năm tồn tại. Sau này cà hai vẫn được bảo tồn và bảo vệ ở Hải Ngoại coi như tượng hai biểu tương vừa thiêng liêng vừa thân thiết nhất của người Việt ở khắp nơi trên thế giới.  Một sinh hoạt bình thuờng đã thực sự hồi sinh. Các cơ cấu từ chính trị, hành chánh, quân sự, văn hóa, giáo dục mang màu sắc nhân bản vừa cổ truyền, vừa tân tiến theo trào lưu mới đã từng bước một thành hình và làm nền tảng cho các sinh hoạt ở Miền Nam trước khi bị những người Cộng Sản phá bỏ để thay thế bằng những tổ chức riêng của họ. Nên nhớ là với Thỏa Ước Sơ Bộ ngày 6 tháng 3 năm 1946 Hồ Chí Minh ký với đại diện Cao Ủy Pháp ở Đông Dương Jean Sainteny và Tạm Ước 14 tháng 9 ký với Bộ Trướng Pháp Quốc Hải Ngoại Marius Moutet vấn đề thống nhất xứ Nam Kỳ chưa được giải quyết. Nói cách khác Nam kỳ cho tới ngày 14 tháng 6, trước khi được Bảo Đại thu hồi vẫn thuộc quyền cai quản của người Pháp theo các Hòa Ước 1862 và 1874. Sau ngày 14 tháng 6 năam 1954, xứ này mới thực sự trở về với lãnh thổ của Quốc Gia Việt Nam, sau này là Việt Nam Cộng Hòa và luôn luôn nằm ngoài lãnh thổ của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà cho mãi đến sau ngày 30 tháng 4 năm 1975.
Đối với những người thuộc thế hệ sinh từ cuối thập niên 1920 và hai thập niên 1930, 1940, sự hình thành của Quốc Gia Việt Nam đã đem lại cho họ một nền giáo dục nhân bản và tiến bộ, vừa mang những đặc tính của thời xưa, vừa cởi mở, khai phóng để đón nhận những tinh hoa của thời đại thay vì lang thang không được đi học trong nhiều năm trong vùng “kháng chiến”. Nền giáo dục này đã cung cấp cho họ những điều kiện cơ bản để tiến xa hơn về sau này. Cũng vậy với sự thành lập Quân Đội Quốc Gia Việt từ đầu thập niên 1950 mà người ta hầu như đã quên.
Đối với những người làm văn chương, âm nhạc và nghệ thuật sự thành lập Quốc Gia Việt Nam là thời kỳ mở dầu cho một giai đoạn phát triển mới vừa tiếp nối giai đoạn canh tân, trẻ trung, đầy sinh lực và lãng mạn của thời cuối thập niên 1930, đầu thập niên 1940 vừa tràn ngập hân hoan, hào hứng và tin tưởng vào cuộc đấu tranh giành độc lập, thống nhất lãnh thổ và phát triển quốc gia dưới một chính quyền mới không Cộng Sản. Rõ rệt nhất trong hiện tượng này là trường hợp của các nhạc sĩ trong đó có Phạm Duy, Thẩm Oánh, Hùng Lân, Phạm Định Chương…, chỉ kể một vài tên tuổi quen thuộc.
Nói về Hiệp Định Élysée và những thỏa thuận giữa Bảo Đại và người Pháp trước đó, nhiều người cho rằng Cựu Hoàng đã vội vã và không đòi hỏi đúng mức những gì co thể đòi hỏi được. Các vị này chủ trương là phải đòi độc lập hoàn toàn. Điều này đúng nhưng không thực tế. Thời điểm của những năm 1948, 1949 với sự thắng thế mỗi ngày một rõ của Hồng Quân Trung Hoa ở Trung Quốc, cả hai phía người Pháp và Bảo Đại phải cấp tốc giải quyết vấn đề. Không những thế, đuổi Pháp đi thì ngay lập tức lấy gì để chống Việt Minh và ngay lập tức điều hành toàn thể mọi sinh hoạt của đất nước? Vấn dề không đơn giản. Người ta không thể điều đình mà không tương nhượng và dự trù cho những sự hợp tác tương lai.
Đóng góp cuối cùng: Hiệp Ước Paris 04 tháng 06 năm 1954 – một nền Độc Lập hoàn Toàn cho Quốc Gia Việt Nam
Hiệp Định Élysée chỉ là khởi đầu. Nền độc lập do hiệp ước này mang lại chưa thực sự hoàn toàn. Nhiều bước tiến khác còn phải được thực hiện. Bảo Đại đã tiếp tục và đã hoàn tất được công tác này với sự trợ giúp của những trí thức hiểu rõ nước Pháp và người Pháp, giỏi về chính trị và luật pháp có mặt ngay trên đất Pháp và giảng dạy ngay tại các đại học Pháp, những người có đầy đủ học vị, thực học và kinh nghiệm. Đích thân ông, ông đã phải sang Pháp, ở tại chỗ nhằm tự mình theo dõi và đôn đốc. Sau một tiến trình đàm phán gay go và lâu dài, hai hiệp ước đã thành hình. Với hiệp ước thứ nhất, Pháp công nhận hoàn toàn nền độc lập và chủ quyền toàn vẹn của Quốc Gia Việt Nam và qua hiệp ước thứ hai, Việt Nam thỏa thuận gia nhập Liên Hiệp Pháp. Đại Diện cho nước Pháp là Thủ Tướng Joseph Laniel và đại diện cho Việt Nam là Thủ Tướng Bửu Lộc. Ngày được ghi là 04 tháng 6 năm 1954 và địa điểm là Paris, thủ đô của nước Pháp. Bảo Đại đã không có được niềm hạnh phúc mà cả đời ông ấp ủ là được chứng kiến lễ ký kết những hiệp ước này. Ngày 7 tháng 5,  Điện Biên Phủ thất thủ, Hiệp Định Genève đang thành hình và cả hai văn bản đã bị vĩnh viễn xếp lại. Một lần nữa thành công của vị Hoàng Đế cuối củng của Triều Nguyễn đã không trọn vẹn. Điều ta nên nhớ là trong nỗ lực cuối cùng này, ông đã phải dời bỏ quê hương của ông sang Pháp để đích thân gặp các nhân vật lãnh đạo Pháp, kể cả Tổng Thống Auriol, theo dõi và đôn đốc các đại diện của mình, bị báo chí Pháp công kích vì đã đòi hỏi quá nhiều, sau này lại còn bị mang tiếng là ham sống ở nước ngoài không chịu về nước.  Dù sao với hai hiệp ước đề ngày 04 tháng 6 này, ông đã đem lại được những gì ông mong ước cho đất nước và cho thần dân Việt Nam của ông. Thiên Mạng của ông sau đó không còn nữa. Điều đáng tiếc là ông đã không còn trờ về quê hương của ông để làm công dân một nưóc độc lập như ông mong muốn được nữa. Người đời đã quên ông và thần dân của ông dã quên ông hay nếu nhớ tới ông chỉ là nhớ để trách cứ. Mà trách cứ thì luôn luôn dễ hơn là ghi nhận và nhất là ghi ơn. Người ta đã đòi hỏi ở ông quá nhiều mà quên mất một điều là dù là vua, là thiên tử, ông vẫn chỉ là con người, con người với tât cả mọi nhược điểm của con người, nhiều khi không phải do bản chất của người ấy mà do hoàn cảnh gây ra. Bảo Đại đã lên ngôi vào lúc chế độ quân chủ ở Việt Nam đang ở tình trạng suy đồi và bị tấn công từ nhiều phía trong lúc chủ trương dân chủ mỗi ngày mỗi thêm thắng thế. Người ta không biết có bao nhiêu giọt nước mắt đã nhỏ xuống cho ông khi ông qua đời như chúng đã được nhỏ xuống khi ông đọc chiếu thoái vị trước cửa Ngọ Môn hồi năm 1945. Phải chăng sau hơn nửa thế kỷ, hơn 52 năm sau, tất cả đều đã thay đổi? Có điều đất nước Việt Nam vẫn không hề tiến bộ hơn, lãnh thổ quốc gia mà Bảo Đại đã thâu hồi hay xác nhận chủ quyền và để lại cho những người kế vị ông đã bị hao mòn không ít,  và người dân Việt Nam bình thường vẫn chưa tìm lại được cuộc sống thanh bình, no ấm mà bất cứ một vị vua nào trong lịch sử nước nhà đều mong mỏi với một xã hội trong đó “Triệu tính âu ca lạc thịnh thì” như Trần Nguyên Đán đã miêu tả xã hội Đại Việt cuối thời Nhà Trần.
Huntington Beach, CA ngày 03 tháng 02 năm 2013
TS Phạm Cao Dương
Lịch Sử Nào Cho Tuổi Trẻ Việt Nam?

www.vietthuc.org

Thứ Bảy, 22 tháng 11, 2014

Sẽ còn bao nhiêu Nguyễn Tuấn?

Mò mẫm trên facebook, tôi tình cờ tìm thấy link bài viết "Có ai biết Nguyễn Tuấn không?" của tác giả Ngô Nhân Dụng trên trang SBTN. Tò mò click vào link bài viết (ở đây: http://www.sbtn.tv/vi/blog/co-ai-biet-nguyen-tuan-khong-ngo-nhan-dung.html), tôi đọc, và sững sờ lặng đi. Câu chuyện có thật, và quá đau xót.

Đó là câu chuyện về một người vô gia cư gốc Việt vừa qua đời vì tai nạn, đến hôm nay 22/11 là được 49 ngày. Một người có tên là Tuấn, họ Nguyễn, sinh năm 1961, thua tôi 1 tuổi, và thuộc về cái thế hệ đau đớn của chúng tôi.

Một bài viết mà tôi nghĩ bất cứ ai là người VN, dù ở đâu trên thế giới này, cũng cần phải đọc!

Bài viết này khiến tôi nhớ lại một người bạn mà tôi đã gặp và trở thành thân thiết thời tôi còn học ở Úc. Đó là anh Tươi, hơn tôi 15 tuổi (sinh năm 1945, năm Ất Dậu), đã trải qua loạn lạc ở miền Bắc, rồi cuộc di cư vào Nam, là sĩ quan chế độ cũ, đi học tập cải tạo, ra tù tự mình tổ chức đi vượt biên, tự lái tàu đưa gia đình và người thân sang Úc.

Anh rất dễ thương, rất hay giúp đỡ mọi người, và thích tìm gặp người Việt để nói chuyện, đặc biệt là những người mới từ VN sang như bọn tôi lúc ấy. Thế nhưng, dù được anh giúp đỡ tận tình nhưng bọn tôi đều sợ gặp anh, chỉ vì một lý do: Anh suốt ngày nói về chuyện vượt biên, và nói rất nhiều mỗi khi nhắc đến những ký ức đen tối ấy. Như một nỗi ám ảnh không bao giờ quên được. Phụ nữ bị hãm hiếp. Trẻ con chết vì khát, vì đói. Nắng, gió, bão táp, nỗi tuyệt vọng, những ngày dài lê thê ở trên đảo .... Anh không quên một chi tiết nào. Anh nói, như để tự giải thoát.

Còn Tuấn Nguyễn trong bài viết này thì khác. Suốt mấy chục năm trời, anh vẫn giữ mãi trong lòng những điều bí ẩn mà mãi mãi sẽ không ai được biết. Như một người bạn của tôi, với nỗi đau khôn nguôi khi người anh lớn cùng chị dâu một đêm tối nọ giã biệt gia đình để đi vào đêm tối ... và mãi mãi biến mất: Cả chiếc tàu bị mất tích, không còn ai sống sót, không ai nghe tin tức gì cả, mấy chục con người biến vào khoảng không....

Kinh hoàng quá, cuộc chiến tranh mà chúng ta quen được nghe gọi là "thần thánh"

Tôi đang nghĩ, giá mà chúng ta bớt thần thánh đi được một chút, vâng chỉ một chút thôi, thì có lẽ rất nhiều sinh mạng đã không phải mất đi một cách oan uổng như vậy.

Rest in peace, anh Nguyễn Tuấn của tôi.

Sẽ còn bao nhiêu Nguyễn Tuấn, những người Việt bị tước mất quê hương ở khắp nơi trên thế giới này?
---------
Bài viết của ký giả David Monterro về Tuấn Nguyễn ở đây: http://www.dailynews.com/social-affairs/20141025/who-was-tuan-nguyen-friends-unravel-mystery-of-homeless-man-killed-in-la-accident 

Xin trích lại đoạn cuối rất cảm động:

For now, even in death, Nguyen is transient.

He’s currently housed in the county crypt with close to a couple hundred bodies. If nobody identifies and claims him, DNA samples will be collected and stored. Within two to four months, he would then be sent to a crematory in either Orange County or Whittier before being brought back and stored at the Los Angeles County Cemetery.

Those grounds are dotted with shade trees planted along a gently sloping patch of grass just a little ways removed from the white and blue building. Each December, the county conducts a small ceremony for those to be buried in a common grave.

Harvey said unless someone identifies him and gets a probate judge to issue an order to collect his remains, it will take a few years for him to eventually be buried in a simple site marked only by a plaque and the year he died: 2014.

Then the journey and transiency would likely end in December 2017. He’d be settled.

Nguyen would be home.
------
Ngay cả trong cái chết, thân phận của anh vẫn trôi nổi.
 ...
Cuộc phiêu lưu và thân phận nổi trôi của anh có lẽ sẽ kết thúc vào tháng 12 năm 2017. Lúc ấy anh sẽ  được ổn định.

Nguyễn sẽ về quê.

Thứ Hai, 17 tháng 11, 2014

Lảm nhảm về ... chính mình!

Viết về chính mình như thế này thì kỳ, nhưng không thể không viết, hic!

Tôi vừa nhận được một cú điện thoại của một người đồng nghiệp lớn tuổi hơn tôi, trong nghề dạy tiếng Anh. Anh ấy hỏi xin tôi 1 copy của cuốn luận án tiến sĩ mà tôi đã hoàn tất cách đây 17 năm, năm 1997.

Tại sao giờ này lại đòi đọc luận án của tôi? Dạ, là vì nó có liên quan rất mật thiết đến đề án 2020 (đề án ngoại ngữ gần 10 ngàn tỷ mà lâu lâu báo chí vẫn nhắc đến một cách mỉa mai đấy ạ).

Tôi hoàn thành luận án đó năm 1997, và bắt đầu nó vào năm 1994. Lúc ấy, VN bắt đầu mở cửa, và mọi người bắt đầu có nhu cầu đi học ở các nước tư bản. Mà muốn được nhận học thì điều đầu tiên là phải có chứng chỉ năng lực ngoại ngữ ở trình độ chấp nhận được. TOEFL 550 - paper-based - nếu đi Mỹ (thấp nhất), còn đi Anh hoặc Úc thì lúc ấy bắt đầu xuất hiện IELTS (rất mới, chỉ tồn tại chừng 1, 2 năm gì đó).

Lúc ấy, có cuộc tranh cãi nảy lửa về giá trị tương đương của 2 kỳ thi này. Miền Nam, chủ yếu là SG, thì đã biết về TOEFL từ trước năm 1975, nhưng miền Bắc thì chưa biết. Đến khi mở cửa thì do Mỹ cấm vận, không chơi với VN, nên chỉ có mấy nước như Anh, Úc mới có quan hệ, giao lưu, viện trợ giáo dục vv cho VN. Và họ đem theo cái test của họ, đó là IELTS (do Anh với Úc hợp tác để cạnh tranh với TOEFL, lúc ấy là kỳ thi gần như là duy nhất để đánh giá năng lực ngoại ngữ của sinh viên quốc tế).

Cuộc tranh cãi lúc ấy có thể tóm tắt như sau: Giới chuyên môn dạy tiếng Anh của miền Bắc, vừa xa lạ với TOEFL nên không có lý do gì để ủng hộ nó, lại vừa học theo sách của các thầy Anh - Úc nên rất chê TOEFLvì cho rằng nó là một kỳ thi thiên lệch, không đánh giá được chính xác năng lực của người học. Điều này cũng không hẳn là sai, vì TOEFL cũ không phải là một kỳ thi quá tốt - nó rất dễ luyện, nên điểm có thể cao nhưng năng lực có thể vẫn kém (tương tự với TOEIC cũ mà hiện nay VN vẫn đang sử dụng).

Còn dân miền Nam thì dù sao cũng đã quen với TOEFL và thấy nó ... hay, vả lại nếu muốn đi Mỹ thì không có cách nào khác hơn là phải học và thi TOEFL (cũ, trên giấy). Chưa kể, người ta lập luận rằng dù có luyện đi chăng nữa thì người học cũng phải có một trình độ nào đó mới có thể đạt đến số điểm đủ để đi học đại học, và TOEFL đã giúp các trường đại học Mỹ tuyển được người học phù hợp trên khắp thế giới, sao có thể xem là "dỏm" được? Ngược lại, IELTS với cách ra đề và chấm thi chủ quan (speaking và writing - và cả reading nữa, trong những phiên bản đầu của IELTS) thì điểm thi liệu có đáng tin cậy? Cứ thế, cứ thế, hai bên đả phá nhau kịch liệt.

Lúc ấy, mới ngoài 30 tuổi, tôi thấy rất muốn tìm hiểu câu trả lời cho câu hỏi: Nói tóm lại là ai đúng ai sai trong cuộc tranh luận nói trên, hay cả hai cùng đúng một phần và sai một phần? Mà nếu vậy, thì ai đúng cái gì? Và với câu hỏi ấy, tôi miệt mài làm việc trong mấy năm, để ra được một luận án khá thú vị, được các examiner đánh giá cao, chấm điểm đạt mức 1 trong 5 mức, nói chung là nổi đình đám lắm lắm!

Với luận án tiến sĩ như vậy, khi về tôi là người phụ nữ có bằng tiến sĩ đầu tiên trong ngành giảng dạy tiếng Anh, và là người thứ hai trên cả nước có bằng tiến sĩ của ngành này (người đầu tiên là một thầy ở trường ĐH Ngoại thương, hoàn tất trước tôi 1 năm), và là tiến sĩ đầu tiên của trường ĐH KHXH-NV, vì lúc ấy hiệu trưởng hiệu phó trường tôi chỉ mới có phó tiến sĩ (chưa "lên đời"). Và tất nhiên, tôi rất háo hức muốn làm điều này điều khác, muốn cải cách, muốn thay đổi, muốn, muốn .... Để rồi, do muốn nhiều quá (toàn muốn những việc đụng chạm) tôi đã "được" điều đi nơi khác (nói thẳng ra là: đi chỗ khác chơi!), để không được làm gì liên quan trực tiếp đến tiếng Anh nữa, mà làm .... kiểm định chất lượng, cho đến giờ là 10 năm trong nghề kiểm định.

Ở nghề mới ấy, tôi cũng bắt đầu từ đầu, đúng nghĩa là từ con số 0. Mà vẫn làm được, vì lúc ấy có ai biết làm đâu! Với lợi thế tiếng Anh, tôi mò mẫm tự học, rồi tham gia các lớp đào tạo ngắn ngày của khu vực và quốc tế, rồi vừa học vừa làm ... để đến giờ cũng trở thành một loại chuyên gia. Nói cho đúng thì background về đánh giá giáo dục (đánh giá người học) của tôi cũng giúp ích chút ít. Và, lịch sử lặp lại, giờ thì tôi lại (gần như) rời hẳn nghề kiểm định rồi, để ... lại mon men quay về với nghề tiếng Anh, hic!

 Quay lại, để thấy rằng những gì mình đặt ra cách đây 20 năm bây giờ mới được mọi người mò mẫm tìm đến, và hiểu chút ít. Cũng có nghĩa là chỉ riêng lĩnh vực của tôi, và lấy chính tôi làm chuẩn (!!!!) thì đã chậm ít nhất là 20 năm rồi. Vì, nói thẳng ra là thế, sau thời cải cách mạnh mẽ của cuối thập niên 80, đầu 90, thì VN lại quay ngược trở lại với quỹ đạo cũ. Lỡ tàu. Và lỡ nhiều lần lắm rồi, hu hu.

Tôi viết lăng nhăng quá, chỉ là để nguôi ngoai mà thôi. Không, nói cho đúng, tôi đã tiếc, đã xót xa cho mình, cho ngành tiếng Anh của tôi, nhưng cũng đã quên hẳn rồi. Giờ thì tôi dửng dưng lắm. Và hôm nay, nhận được cuộc gọi của người đồng nghiệp, tôi vừa thấy ... mừng vì giờ đây những gì mình nghiên cứu cách đây 20 năm đã bắt đầu có người quan tâm, nhưng ngược lại cũng thấy ... rất buồn, vì tôi đã sắp về hưu, đã rời nhà nước, và đã bỏ nghề một thời gian khá lâu rồi, uổng quá! Giá mà những đề xuất của tôi được nghe, thì ít nhất riêng ngành giảng dạy/kiểm tra đánh giá tiếng Anh của tôi đã đi được đến chỗ nào rồi chứ đâu phải lộn xộn rối rắm như thế này.

Buồn lắm, nhưng rồi tôi tự nghĩ, tôi cũng chẳng phải là người duy nhất rơi vào tình trạng này. Cha con ông nông dân giờ là đại tướng quân của Campuchia là một ví dụ. Chắc chắn là còn nhiều nữa.

Hèn gì mà ông TBT bảo, đến cuối thế kỷ này không biết đã có CNXH hoàn thiện ở VN hay chưa. Nếu CNXH hoàn thiện được hiểu là mô hình Bắc Âu, thì tôi hoàn toàn đồng ý với ông TBT. Có cách nào đi nhanh hơn không nhỉ? À mà không được đi nhanh quá, đi trước mọi người ở VN là một bi kịch đấy!

Giống như tôi đây, các bạn ạ! Các bạn không tin ư? Đọc lại entry này một lần nữa nhé! :-D