Chủ Nhật, 16 tháng 11, 2014

Cuộc bỏ phiếu tín nhiệm tại Việt Nam không chỉ là một màn kịch chính trị (Reuters 13/11/2014)

Bài dịch, đã đăng trên VNTB, tại đây: http://www.ijavn.org/2014/11/cuoc-bo-phieu-tin-nhiem-tai-viet-nam.html
------

Cuộc bỏ phiếu tín nhiệm tại Việt Nam không chỉ là một màn kịch chính trị

Martin Petty
Vũ Thị Phương Anh (dịch)
* Tác giả gửi bài cho VNTB
 
(Reuters) – Cuộc bỏ phiếu tín nhiệm của quốc hội đối với các lãnh đạo hàng đầu của Việt Nam dường như là một việc làm vô nghĩa, vì các đại biểu tham gia bỏ phiếu hầu hết đều là đảng viên Cộng sản, và trong các lựa chọn để bỏ phiếu không có lựa chọn nào là "không tín nhiệm".  

Mặc dù sẽ chẳng có ai bị ảnh hưởng nghiêm trọng, cuộc bỏ phiếu hôm thứ Bảy nhằm đánh giá hoạt động của của khoảng 50 quan chức hàng đầu cũng bắt đầu cho thấy trách nhiệm giải trình, đồng thời hé lộ chút thông tin hiếm hoi về những động thái bên trong của một đảng đang tự tìm lại chính mình sau gần bốn thập niên kiểm soát chặt chẽ .

Việt Nam đang thay đổi nhanh chóng
, và người ta đang đồn rằng có sự chia rẽ nội bộ trong quan điểm phải làm gì trong tình hình hiện nay để vẫn giữ nguyên thể chế. Theo các nhà phân tích, sự chia rẽ này tồn tại giữa một bên là phe giáo điều bảo thủ và bên kia là những cán bộ nghiêng về tư bản và tự do hơn, trong nội bộ của một đảng vốn có truyền thống đồng thuận.

"
Cuộc bỏ phiếu này tạo ra một sự cởi mở nhằm giảm bớt căng thẳng, nhưng rốt cuộc nó chỉ làm cho ta thấy có sự đấu đá nội bộ giữa các phe phái khác nhau," nhà phân tích chính trị nổi tiếng Nguyễn Quang A nhận định.

Dân chúng lâu nay đã âm ỉ bất bình về nạn tham nhũng, chiếm đoạt đất đai và một nền kinh tế nhà nước là chủ đạo nhưng kém hiệu quả. Những vấn đề này đã trở thành cố hữu trong nền kinh tế của Việt Nam sau một thời kỳ tăng trưởng bùng nổ, và giờ đây đang mưng mủ như muốn vỡ ra trên diện rộng, đòi hỏi phải có các biện pháp cấp thiết nhằm khắc phục chúng.

Các chuyên gia
cho rằng không có thách thức nào đối với quyền lực của đảng Cộng sản trong tương lai gần. Quỹ đạo của nền kinh tế có quy mô 178 tỷ đô la này, cùng khả năng nó hiện thực hóa được tiềm năng trở thành một ngôi sao thị trường mới nổi, hoàn toàn phụ thuộc vào phe nào sẽ nắm thế thượng phong.

Cuộc bỏ phiếu diễn ra chỉ hơn một năm trước một đại hội
được tổ chức năm năm một lần, khi đảng Cộng sản lựa chọn người sẽ lãnh đạo bộ máy trong giai đoạn Việt Nam đang theo đuổi việc tham gia sâu hơn với thế giới phương Tây thông qua một loạt các hiệp định thương mại có tiềm năng làm thay đổi luật chơi, và đòi hỏi những nhượng bộ có thể sẽ không làm hài lòng các nhóm lợi ích khác nhau.

"Tôi không nghĩ có bất kỳ
sự bất đồng nào trong việc theo đuổi các thỏa thuận thương mại lớn", ông Nguyễn Quang A nói. "Sự bất đồng chủ yếu liên quan đến việc các thỏa thuận này sẽ ảnh hưởng như thế nào đến lợi ích của các cá nhân và các nhóm đang nắm quyền mà thôi."


Sự chia rẽ trong quốc hội

Cuộc bỏ phiếu tín nhiệm lần đầu tiên diễn ra vào năm trước có thể đã phản tác dụng, vì kết quả của cuộc bỏ phiếu này càng củng cố những đồn đoán về sự cạnh tranh ngấm ngầm giữa Chủ tịch nước và Thủ tướng.

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng
chỉ giành được sự ủng hộ của 42% tổng số các đại biểu quốc hội và bị gần 1/3 tổng số đại biểu chọn mức "tín nhiệm thấp”. Kết quả này trái ngược với Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, người giành được 330 phiếu tín nhiệm cao trên tổng số 498 đại biểu và chỉ nhận có 28 phiếu tín nhiệm thấp.

Các nhà phân tích tin rằng
ông Dũng sẽ tìm cách đưa ra một người kế nhiệm trước khi nghỉ hưu trước đại hội năm 2016, và có lẽ tăng cường ảnh hưởng của mình trong năm nay bằng việc thúc đẩy cải cách ngành ngân hàng đang gặp khó khăn vì nợ xấu, đồng thời tư nhân hóa một phần hàng trăm doanh nghiệp nhà nước đang thua lỗ trầm trọng.

"
Cuộc bỏ phiếu tín nhiệm năm nay diễn ra trong bối cảnh đang có tranh cãi nặng nề trong giới lãnh đạo cấp cao nhất của Việt Nam trước Đại hội Đảng sắp đến ... như vậy, kết quả sẽ làm sáng tỏ ít nhiều về tình hình hiện nay của nền chính trị phe phái này", Phương Nguyễn, một nhà nghiên cứu tại Trung tâm Chiến lược và Nghiên cứu Quốc tế Washington cho biết.

"Người ta tin rằng
Thủ tướng đã hồi phục từ cú đánh của năm ngoái, nếu không phải là đã củng cố được quyền lực của mình. Chúng tôi sẽ chờ xem kết quả bỏ phiếu tín nhiệm có phản ánh điều đó hay không."

Ông Dũng vừa gặp Tổng thống Mỹ Barack Obama hôm thứ Năm, và có thể đã đạt được một số đòn bẩy quan trọng trong kế hoạch theo đuổi một mối quan hệ mạnh mẽ hơn với Mỹ và thách thức Trung Quốc trong cuộc tranh chấp về chủ quyền hàng hải gần đây.

Bế tắc với Trung Quốc có vẻ đã
làm sâu sắc thêm cuộc tranh luận trong nội bộ đảng về sự phụ thuộc vào nước láng giềng Trung Quốc. Điều này đã bộc lộ ra trong tháng Sáu vừa qua, khi 61 đảng viên và cựu đảng viên đã gửi một bức thư ngỏ đến Trung ương đảng Cộng sản và cho rằng sự thất bại trong việc thoát khỏi quỹ đạo của Trung Quốc sẽ là "một tội ác đối với đất nước ".

(Editing by Robert Birsel)
 

Thứ Tư, 12 tháng 11, 2014

“Tâm điểm” nào cho kỳ họp Quốc hội thứ 8 khóa 13?

Bài đã đăng trên Việt Nam Thời Báo, có biên tập lại đôi chút, tại đây: http://www.ijavn.org/2014/11/ky-hop-quoc-hoi-thu-8-tam-iem-nao.html

Dưới đây là bản gốc.
-----------


“Tâm điểm” nào cho kỳ họp Quốc hội thứ 8 khóa 13?

Chọn một điểm nhấn cho kỳ họp Quốc hội thứ 8 khóa 13 có lẽ sẽ không quá khó khăn. Bởi kỳ họp lần này có quá nhiều sự kiện đáng nhớ. Tất cả đều liên quan đến phát biểu của các vị đại biểu.

So với các nước phát triển, đại biểu quốc hội của Việt Nam hẳn không thể giỏi giang và chuyên nghiệp bằng, nhưng khả năng làm xôn xao dư luận với những phát biểu độc đáo thì không ai vượt qua được họ. Có thể kể ra khá nhiều trường hợp từ trước đến nay, nhưng chỉ riêng kỳ họp đang diễn ra cũng đủ cung cấp cho ta rất nhiều ví dụ như thế.

Ngay đầu kỳ họp, đại biểu Đỗ Văn Đương đã làm dư luận ngỡ ngàng. Khi được hỏi liệu Việt Nam có cần thay đổi hoặc điều chỉnh luật lệ gì để phù hợp với Công ước chống tra tấn của Liên hiệp quốc vừa tham gia hay không, ông cho biết hầu như không cần thay đổi gì, vì về cơ bản pháp luật Việt Nam đã tương thích với nội dung Công ước (!). Và để khẳng định chế độ lao tù của Việt Nam là vô cùng tốt đẹp, ông phán: “phạm nhân hiện nay còn sướng hơn sinh viên thời xưa[1]”.

Trong một phiên họp khác, khi nói về nghề luật sư của Việt Nam, cũng vẫn ông Đương đã khẳng định chắc nịch: “'thực chất luật sư ở Việt Nam chỉ bào chữa cho những người có tiền[2]”. Sau đó, bị Liên đoàn luật sư phản đối và yêu cầu đính chính, ông đã kiên quyết không rút lời vì cho rằng “dân biểu nói tiếng nói của dân và không phải truy cứu trách nhiệm gì cả[3]”. Phát biểu trên của ông cũng chẳng có gì sai, vì luật sư đi bào chữa thì đương nhiên phải có thù lao, chứ nếu không thì “sống bằng không khí mà đi bào chữa à?[4]”

Cùng quan điểm đã là dân biểu thì có quyền tha hồ phát biểu mà không phải truy cứu trách nhiệm như ông Đương, trong cuộc họp sáng ngày 31/10/2014 đại biểu Thích Thanh Quyết, một thượng tọa đang giữ chức phó chủ tịch Giáo hội Phật giáo Việt Nam, đã đề nghị nhà nước phải khen ngợi lực lượng quân đội và công an trong thời gian qua, và “phải quyết tâm xây dựng quân đội nước ta mạnh như là quân đội của Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên[5]”. 

Lời phát biểu đầy sát khí của vị tu sĩ Phật giáo này được trực tiếp truyền hình, khiến nhiều Phật tử lắc đầu suy nghĩ về thời kỳ mạt pháp. Một số người khác thì mỉa mai, quyết tâm xây dựng quân đội mạnh như Bắc Triều Tiên để làm gì khi quan hệ Việt – Trung luôn được Nhà nước Việt Nam khẳng định là tốt đẹp, bất chấp việc Trung Quốc liên tục mở rộng xây dựng trên quần đảo Trường Sa của Việt Nam?[6]

Như thể cho rằng nghị trường của Việt Nam chưa đủ sôi động, ông nghị Hoàng Hữu Phước tung ra trên blog cá nhân một loạt bài công kích với lời lẽ thiếu tôn trọng đối với đại biểu Trương Trọng Nghĩa. Sau khi ông Nghĩa gửi báo cáo vụ việc lên Đoàn đại biểu quốc hội TP HCM để đề nghị làm rõ vấn đề, ông Phước đã giải thích ông không nhắm vào cá nhân mà chỉ muốn viết những bài ấy để chỉ ra cái sai của ông Nghĩa mà thôi.

Cái sai mà ông Phước muốn chỉ ra liên quan đến phát biểu của ông Nghĩa rằng kinh tế Việt không thể thấy chân trời mới vì đang đi trên đường ray cũ. Ông Phước cho rằng phát biểu nói trên là sai hoàn toàn, vì đã là đường ray tất phải có sẵn điểm đến, và điểm đến ấy đã được hiến định là “con đường đi lên CNXH[7]”. Phát biểu này khiến mọi người nhớ đến một phát biểu khác rất nổi tiếng của vị lãnh đạo cao nhất của ĐCS Việt Nam, rằng “đến hết thế kỷ này không biết đã có chủ nghĩa xã hội hoàn thiện ở Việt Nam hay chưa”.

Cần nhắc lại là trước đây ông Phước  đã từng viết bài thóa mạ đại biểu Dương Trung Quốc, sau đó đã phải chính thức viết thư xin lỗi. Việc công kích ông Trương Trọng Nghĩa lần này khiến nhiều người đặt câu hỏi về sức khỏe tâm thần của ông Phước. Vấn đề tâm thần của đại biểu quốc hội trở thành một chủ đề được đưa ra thảo luận tại quốc hội.

Rất trào phúng, ông Trần Du Lịch cho rằng nếu cứ như hiện nay thì “một người mới từ bệnh viện tâm thần cũng ứng cử được[8]”. Đại biểu Phạm Khánh Phong Lan, Phó giám đốc Sở Y tế TP.HCM, thẳng thắn đề nghị các ứng viên phải được khám sức khỏe tâm thần. Các phát biểu này sau đó đã được đúc kết thành một tựa báo ngộ nghĩnh như một lời ám chỉ: “Đừng để người tâm thần ứng cử đại biểu Quốc hội[9].”

Kỳ họp thứ 8 của Quốc hội khóa 13 vẫn còn tiếp diễn trong vòng vài ngày tới; các đại biểu vẫn còn cơ hội đưa ra những phát ngôn độc đáo khác nữa. Báo chí lề phải, lề trái cả trong và ngoài nước vẫn tiếp tục rình và chộp những phát biểu độc đáo nhất để … giựt tít bán báo.

Dân chúng sẽ tiếp tục ngao ngán kêu lên: “Dân không bầu đại biểu quốc hội để … cãi lộn[10].” Những nhà báo có tâm huyết và nghiêm túc sẽ tiếp tục viết bài để chỉ ra nhu cầu cải thiện chất lượng đại biểu Quốc hội, để không còn tình trạng tâm điểm của các kỳ họp Quốc hội chỉ là những cuộc cãi vã vô bổ, chứ không phải là tranh cãi những vấn đề nóng hổi liên quan đến quốc kế dân sinh[11].

Để khi kỳ họp qua đi, tổng số nợ công trên đầu mỗi người dân vẫn chẳng giảm đi, đường phố ở Hà Nội và TP Hồ Chí Minh vẫn biến thành sông sau mỗi cơn mưa lớn, sinh viên ra trường vẫn thất nghiệp, người dân vẫn chết trong đồn công an, trẻ em vẫn chết khi tiêm vắc-xin, và tai nạn giao thông vẫn là một nỗi kinh hoàng ….

Tất cả đều không có gì lạ.

Chỉ lạ một điều: Vì sao cho đến nay vẫn còn có những người thắc mắc và than phiền về tình trạng thanh niên thờ ơ với hiện tình của đất nước?


Thứ Ba, 11 tháng 11, 2014

Của chuột và ...

Bài viết này tôi viết dở dang đã lâu rồi (xem bên dưới, sau đoạn chữ nghiêng này), nay ngồi dọn blog, thấy còn trong nháp, thôi thì đăng lại cho khỏi uổng công đã viết.

À mà tôi dừng lại bài này hình như sau khi có mấy blogger gặp nạn thì phải. Thấy họ chẳng làm gì, chỉ viết blog, thế mà cũng bị tạm giam tạm giữ nên tôi ... quá ngại, bèn thôi không quan tâm đến vấn đề thời sự nữa.

Giờ thì những blogger ấy đã được thả ra cả rồi, chắc là không sao, vả lại, tôi có viết gì đâu hu hu.... nên cứ đưa lên xem sao. Khi nào lại nhận được lời nhắc nhở thì lại dừng lại vậy. Ơ mà luật VN đâu có cấm viết blog đâu nhỉ, có cấm nói xấu Đảng và NN nhưng tôi nói xấu bao giờ? Chỉ nói những gì tôi nghĩ thôi mà?

Hừm hừm, khó thật đấy. Thế mà nhà nước VN vẫn khẳng định là vấn đề nhân quyền ở VN đã được cải thiện nhiều lắm rồi đấy!
-----------------

"Của chuột và người", hay "Of mice and men" là tựa của một tác phẩm rất nổi tiếng của nhà văn Mỹ đoạt giải Nobel là John Steinbeck. Tác phẩm này đã được dịch sang tiếng Việt (tựa như tôi đã nêu), và cũng rất nổi tiếng trước năm 1975.

Nhưng đấy là chuyện cách đây gần một thế kỷ rồi. Cuốn Of mice and men được xuất bản từ năm 1937, đúng vào thời suy thoái kinh tế ở Mỹ trong thập niên 1930 của thế kỷ trước. Vì vậy, câu truyện rất u ám, nặng nề. Cứ như là nó báo hiệu sự sụp đổ của chủ nghĩa tư bản vậy.

Sự sụp đổ của CNTB đã không diễn ra. Ngược lại, nó ngày càng lớn mạnh, trong khi CNCS thì sụp đổ bất ngờ vào cuối thập niên 1980, chấm dứt chiến tranh lạnh giữa 2 khối (à, cái này thì VTV nói chứ không phải tôi nhé. Đưa về sự sụp đổ của bức tường Bá Linh cách đây 25 năm, phóng viên VTV đã bình luận thế đấy.)

Nên bây giờ, cuốn "Của chuột và người" không mấy ai đọc nữa, vì nó chỉ còn giá trị lịch sử.

Giờ đây, muốn "hot" thì phải nhắc đến câu nói khác kia: "đánh chuột phải tránh vỡ bình". Câu nói ấy đã làm xôn xao dư luận đến cả tháng nay, và những bàn tán về câu nói này chưa có dấu hiệu dừng lại.

Thật!

Vì tôi cũng tưởng mọi người đã nguôi rồi, không ngờ hôm nay lại tìm thấy một loạt mấy bài viết trên trang của một vị có tên là Nguyễn Thị Tuyến, thành ủy viên, bí thư huyện ủy Chương Mỹ, Hà Nội. Viết với giọng điệu ... rất gây tranh cãi, sắc sảo và thỉnh thoảng cũng cay độc lắm. Đọc rất hay.

Xin đưa về đây để dành, lúc rảnh sẽ đọc kỹ:

http://nguyenthituyen.net/hieu-the-nao-cho-dung-dung-y-cau-danh-chuot-dung-de-vo-binh-cua-tong-bi-thu.html

http://nguyenthituyen.net/chuyen-cai-binh-con-chuot-va-nhung-loi-bia-dat.html

http://nguyenthituyen.net/nguyen-quang-lap-ban-re-ngoi-but-vao-van-truong-ma-quy.html

Vâng, cần có thời gian để đọc kỹ, nghiền ngẫm để thấm thía những lời vàng ngọc của vị thành ủy viên chứ. Để hiểu cho rõ những vấn đề cần hiểu ....


Thứ Năm, 6 tháng 11, 2014

Thử nhìn lại vị trí của Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh trong hành trình dân tộc vào thế kỷ XX (Vĩnh Sính, 1999)

Nguồn: http://www.chungta.com/nd/tu-lieu-tra-cuu/phan_boi_chau_phan_chu_trinh_hanh_trinh_dan_toc/default.aspx
-----------

Thử nhìn lại vị trí của Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh trong hành trình dân tộc vào thế kỷ XX

Vĩnh Sính

03:21' PM - Thứ năm, 06/11/2014
Sực tỉnh trông ra ngỡ sáng lòa,
Đêm sao đêm mãi thế ru mà?


(Tú Xương, “Đêm dài”, đầu thế kỷ XX)

Khoảng một trăm năm trước, khi tại các quầy rượu, quán cà-phê ở những thành phố tiêu biểu cho văn hóa Tây phương vào cuối thế kỷ XIX như Paris, Vienne, Berlin, khách văn nhân nghệ sĩ gặp nhau đàm luận về những tư trào trong văn học nghệ thuật Tây phương lúc bấy giờ như “nghệ thuật vị nghệ thuật” (l’art pour l’art), chủ nghĩa duy mỹ (aestheticism) hay trường phái tự chiêm ngưỡng (narcissism), thì ở xứ Đông Dương xa xôi bên kia nửa vòng trái đất, nước ta hãy còn im lìm trong giấc nồng của đêm dài mất nước và ngay cả cái tên Việt Nam vẫn chưa được mấy ai nghe biết đến. 

Ngọn lửa Cần Vương kháng chiến cuối cùng ở Vũ Quang do Phan Đình Phùng lãnh đạo cũng đã bị dẹp tắt (1896). Dưới chính sách của toàn quyền Paul Doumer là triệt để khai thác nhân lực cùng tài nguyên của xứ thuộc địa này nhằm phục vụ tối đa cho quyền lợi của mẫu quốc, từ 1902 - năm ở Hà Nội người Pháp rầm rộ làm lễ khánh thành cầu Doumer (tức cầu Long Biên sau này) - Đông Dương bắt đầu mang lại những lợi lộc kinh tế và tài chánh cho nước Pháp trong khi tuyệt đại đa số người Việt phải chịu cảnh tôi đòi ngay chính trên quê hương của họ. Về sau, khi viết hồi ký Doumer đã kiêu hãnh ghi lại như sau: “Khi Pháp mới đến Đông Dương, nước An Nam đã chín muồi trong tình cảnh nô lệ”!

Trong hoàn cảnh đất nước bi đát như thế, Phan Bội Châu và Phan Chu Trinh là hai sĩ phu, hai bậc đại hào kiệt đi hàng đầu trong vận động giành lại độc lập dân tộc vào giai đoạn giao thời 25 năm đầu thế kỷ XX. Tuy cùng chung hoài bão cứu nước, lập trường của hai nhà chí sĩ họ Phan trên một số vấn đề căn bản của đất nước lại rất khác nhau, thậm chí có khi tương phản. Trong nhiều năm gần đây, sau nhiều lần đọc lại các trước tác của hai nhận vật kiệt hiệt này, chúng tôi nhận thấy có nhiều kinh nghiệm của người xưa - thành công cũng như thất bại - vẫn còn ý nghĩa cho đến ngày nay.

Trong khuôn khổ bài viết này, ta hãy thử nhìn lại vị trí và đánh giá vai trò của Phan Bội Châu và Phan Chu Trinh trong hành trình dân tộc vào thế kỷ XX.

“Gọi hồn nước”
Vào những năm đầu thế kỷ XX, làn sóng duy tân từ Nhật Bản dội sang nước ta qua những "tân thư" (sách mới) và "tân văn" (báo mới" của Lương Khải Siêu cùng các nhà cải lương Trung Quốc khác. Những trang sách "tân thư" "tân văn" mang đến cho các sĩ phu yêu nước không khí rạo rực của cuộc Minh Trị Duy tân ở Nhật Bản và khí thế sôi sục của Mậu Tuất Chính biến (1898) ở Trung Quốc. Sĩ phu Việt Nam lần đầu tiên nghe đến các học thuyết dân chủ, dân quyền, chủ nghĩa lập hiến và làm quen với các tên nghe lạ tai như Mạnh-đức-tư-cưu (Montesquieu), Lư-thoa (Rousseau), Phúc-lộc-đặc-nhĩ (Voltaire), v.v... 

Từ chỗ "ếch ngồi đáy giếng thấy bao nhiêu trời", họ bắt đầu có tầm nhìn "doanh hoàn" (toàn cầu) - dĩ nhiên điều này không có nghĩa là ai ai nay cũng có thể nhìn một cách khách quan về đất nước hay về thế giới bên ngoài. Quan điểm cạnh tranh sinh tồn, mạnh được yếu thua (survival of the fittest) qua thuyết tiến hóa xã hội (social Darwinism) của Dật-nhĩ-văn (Darwin) mà ngày đó hãy còn gọi là thuyết "vật cạnh" (vạn vật cạnh tranh để sinh tồn), "thiên diễn luận" (sự tiến hóa tự nhiên của sự vật) hay thuyết "tự do đào thải", khiến họ ý thức sâu sắc hơn về hiểm họa mất nước.



Phan Bội Châu về sau đã ghi lại trong tự truyện: "Tôi vì xem những pho sách ấy mới hiểu qua được tình hình cạnh tranh ở trong hoàn hải, thảm trạng đất nước diệt chủng lại càng kích thích trong đầu sâu sắc hơn"[1]. Nỗi lo diệt chủng cũng được nhắc nhở trong bài "Đề tỉnh quốc dân ca" (không rõ tên tác giả) lưu truyền rộng rãi trong nước vào năm 1906:

Nỗi diệt chủng bề thương bề sợ
Nòi giống ta biết có còn không?


Trong hàng ngũ các sĩ phu yêu nước vào đầu thế kỷ XX, Phan Bội Châu có lẽ là người đã đóng vai trò quan trọng nhất trong việc thức tỉnh hồn nước. Thơ văn Phan Bội Châu có ảnh hưởng sâu rộng đối với người đọc không chỉ vì những dòng thơ Phan mang nhạc điệu trầm hùng thiết tha, khi rạo rực sôi nổi, mà cũng vì những gì Phan nói lên thường khơi dậy nỗi nhục mất nước và kích động những cảm xúc sâu xa của tình tự dân tộc. Những câu sau đây ngày ngay đọc đến ta vẫn thấy xao xuyến trong lòng, huống hồ là đối với độc giả sống trong tình trạng "mất nước" vào đầu thế kỷ XX:

Lời huyết lệ gửi về trong nước,
Kể tháng ngày chửa được bao lâu
Nhác trông phong cảnh Thần châu,
Gió mây phẳng lặng dạ sầu ngẩn ngơ...
Hồn cố quốc vẩn vơ vơ vẩn,
Khôn tìm đường dò nhắn hỏi han
Bâng khuâng đỉnh núi chân ngàn,
Khói tuôn khí uất, sóng cuồn trận đau...


("Hải hoại huyết thư" (1906), Lê Đại dịch)


Hoặc giả:
Than ôi! Lục tỉnh Nam Kỳ
Nghìn năm cơ nghiệp còn gì hay không
Mịt mù một giải non sông
Hỏi ai, ai có đau lòng chăng ai...


("Ai cáo Nam kỳ phụ lão" (1907), Phan Bội Châu tự dịch)


Trong bài "Sinh văn cụ Phan Sào Nam" (1940), Huỳnh Thúc Kháng đã diễn tả một cách sống động về sức rung cảm lòng người của ngòi bút Phan Bội Châu:

Miệng giọng cuốc vạch trời kêu giật một,
giữa từng không mù cuốn mây tan,
Tay ngòi lông vỗ án múa chầu ba, đầy mặt
giấy mưa tuôn sấm nổ.
Núi cao reo bốn phía dậy vang,
Buồng kín tỉnh ngàn năm giấc ngủ
[2]


Do ảnh hưởng văn thơ của Phan Bội Châu, mà "hàng nghìn thanh niên đã cắt cụt tóc bím, vất hết sách vở văn chương cử tử cùng cái mộng công danh nhục nhã gắn trên đó, lìa bỏ làng mạc, nhà cửa vợ con, rồi băng ngàn lội suối, bất chấp mọi nỗi đói thiếu, nguy hiểm, khổ sở, để qua Xiêm, qua Tàu, qua Nhật mà học hỏi và trù tính việc đánh Tây" [3]. Ngoài ra, cũng cần để ý là ảnh hưởng của Phan Bội Châu không chỉ giới hạn trong những thế hệ trưởng thành trong nửa đầu thế kỷ XX, mà ngay cả trong thời gian "đất nước phân kỳ", bất luận Nam Bắc, văn thơ Phan đã khơi dậy lòng yêu nước của không biết bao nhiêu thanh niên.

Ý thức "Quốc gia Quốc dân"
So với người cùng thời, Phan Bội Châu sớm ý thức về vận mệnh đất nước và cũng là một trong những sĩ phu đầu tiên đối đầu với các vấn đề liên hệ đến Việt Nam như một "quốc gia quốc dân" (nation-state).

Vì từ "quốc gia quốc dân" (hay "nhà nước quốc dân") vẫn chưa được nhắc đến ngay trong các cuốn từ điển tiếng Việt, Anh Việt hay Pháp Việt, v.v... xuất bản gần đây (những năm cuối cùng của thế kỷ XX!), ta thử tạm mượn định nghĩa của từ này trong một cuốn từ điển tiếng Nhật Bản - một ngôn ngữ có nhiều từ vựng hiện đại "xuất cảng" sang chữ Hán và tiếng Việt vào buổi đầu thế kỷ XX.

Trích:
Kokumin kokka ("Quốc-gia quốc-dân", hay "nhà nước quốc dân"): một quốc gia thống nhất được hình thành dựa trên cơ sở của ý thức về sự đồng nhất của quốc dân, hay dân tộc (Nihongo daijiten [Nhật-Bản-ngữ đại-từ-điển], Tokyo: Kôdansha, 1989, trang 691).
Ngay từ hồi chưa xuất dương, Phan đã từng đi chu du nhiều nơi trong nước - miền Nam xứ Nghệ (quê Phan) từ Huế vào Nam Ngãi, Bình Phú, rồi Gia Định, cho đến tận vùng Thất Sơn ở Châu Đốc; miền Bắc từ Nam Định, Hà Nội, lên tận rừng Yên Thế của Đề Thám - nhằm tìm cách kết giao đặng mưu đồ việc nước với những người có nghĩa khí, từ sĩ phu tới các "hảo hán" trong giới "lục lâm giang hồ" sống ngoài vòng pháp luật. 

Trong thời kỳ Đông Du (1905-1909), hàng ngày tiếp xucs và lo việc ăn học cho các thành viên từ Nam chí Bắc, Phan ý thức sâu sắc về tình trạng thiếu đồng thuận giữa người Việt với nhau do một lý do khá đơn giản: đây là lần đầu tiên các thanh niên này có dịp tiếp xúc, đối thoại và sinh hoạt với nhau. Trong Việt nam quốc sử khảo (1908), Phan nêu lên 5 điều khiếm khuyết trong dân trí nước ta: hay nghi kỵ lẫn nhau, coi trọng những điều xa hoa vô ích (như trong việc hôn nhân, cúng bái, v.v ...), biết lợi mình chứ không biết hợp quần, tiếc của riêng mà không nghĩ đến lợi chung, biết thân mình mà không nghĩ đến việc nước [4].

 Ý thức "quốc gia quốc dân" trong tư tưởng cũng như hành động của Phan phải nói là một sự đề kháng đối với chính sách "chia để trị" của chính quyền đô hộ, khác hẳng với đầu óc địa phương hẹp hòi thường thấy ngay ở các nhân vật tai to mặt lớn trong nước lúc bấy giờ. Bình tình mà nói, bệnh chia rẽ, óc địa phương không chỉ do chính sách cai trị của người nước ngoài, bởi lẽ ngay khi người Việt nắm lấy vận mệnh đất nước, vẫn không thấy những biện pháp tích cực nhằm khắc phục tư tưởng cục bộ "ăn cây nào, rào cây ấy" hay tình trạng "phép vua thua lệ làng". Đóng góp của Phan trên mặt này ngay từ hồi đầu thế kỷ đúng là một điểm son đáng trân trọng, cần được ghi nhớ.

Cũng cần để ý rằng "vong quốc" (mất nước), "đồng bệnh" (cùng bệnh) và "quang phục" (khôi phục vinh quang đã mất) là những từ thông dụng trong thuật ngữ chính trị ở Trung Quốc, Hàn Quốc và Việt Nam - ba nước "cùng mang bện mất nước" - vào đầu thế kỷ XX. "Vong quốc" ở đây có nghĩa là mất độc lập, mất chủ quyền. Phan Bội Châu giải thích: "Gọi là một nước thì phải có nhân dân, có đất đai, có chủ quyền. Thiếu một trong ba cái ấy đều không đủ tư cách làm một nước" [5]. Bởi vậy không phải ngẫu nhiên mã những nỗ lực khôi phục độc lập ở ba nước Đông Á nói trên thường lấy tên "quang phục": vận động lật đổ triều đình Mãn Thanh ở Trung Quốc do Thái Nguyên Bồi khởi xướng năm 1904 lấy tên là Quang phục Hội (về sau gia nhập Đồng minh Hội của Tôn Dật Tiên); ngày Hàn Quốc lấy lại độc lập, thoát khỏi ách cai trị của người Nhật gọi là ngày Kwangbok (tức Quang Phục, 15/8/1945); và cái tên Việt Nam Quang phục Hội do Phan Bội Châu cùng các đồng chí thành lập ở Quảng Đông (1912) cũng không ngoài nghĩa đó.

Việt Nam - Từ Quân chủ tới Dân chủ
Ai là người đầu tiên phổ biến cái tên Việt Nam vào đầu thế kỷ XX? Trả lời câu hỏi thoạt nhìn có vẻ vô-thưởng-vô-phạt này sẽ giúp ta nhận thức rõ hơn về vai trò của Phan Bội Châu và Quang phục Hội.
Quốc hiệu "Việt Nam" nguyên đã có từ đầu thời vua Gia Long, nhưng trên thực tế không mấy khi được sử dụng. Sử sách chép là vua Gia Long lúc đầu khi mới lên ngôi (1802) muốn đặc quốc hiệu là Nam Việt, nhưng vua Gia Khánh nhà Thanh không chấp thuận, lý do là quốc hiệu này khơi lại chuyện Triệu Đà và chính quyền cát cứ ở nước Nam Việt đời Hán ngày trước. Thanh triều chỉ chấp thuận sai sứ sang phong vương sau đó hai năm (1804) khi quốc hiệu Nam Việt đã được đổi ngược lại thành Việt Nam [6]. 

Bước sang thế kỷ XX, trong khi người nước ngoài đều dùng tên "An Nam" để chỉ nước ta, theo thiển ý của chúng tôi, Phan Bội Châu là người đầu tiên đã phổ biến cái tên Việt Nam ngay từ khi mới sang Nhật Bản. Bằng cớ là Phan đã dùng tên Việt Nam trong các trước tác viết trong thời kỳ Đông Du: Việt Nam vong quốc sử (1905), Tân Việt Nam (1906), Việt Nam thảm trạng (1907?), Việt Nam quốc sử khảo (1908). Ngoài ra, sau khi giải tán Duy Tân Hội, như đã nói ở trên, Phan cùng đồng chí cũng đã dùng tên Việt Nam (thay vì An Nam hay các tên khác) khi đặt tên Việt Nam Quang phục Hội vào năm 1912.

Tuy Quang phục Hội có một lịch sử đáng chú ý, nhưng điều ngạc nhiên là trước đây ít người nói tới. Những điều giới thiệu sau đây có thể tìm thấy ngay trong "Phan Bội Châu niên biểu" (hay "Tự phán") chứ không phải tìm đâu xa xôi. Trước hết, Quang phục Hội không chỉ là hội đoàn theo nghĩa thông thường mà trên hết thực tế là một "chính phủ lâm thời" (lưu vong), có quy định cả quốc kỳ, quân đội (Việt Nam Quang phục Quân), quân kỳ, và phát hành cả giấy bạc (dưới dạng "quân dụng phiếu") "in bằng điện, tinh xảo như giấy bạc Tàu". Quang phục Hội cũng đã quy định lá quốc kỳ đầu tiên của Việt Nam. 

Theo lời kể lại của Phan Bội Châu, "một sự quái lại" là trước đó "nước ta chỉ có cờ hoàng đế mà không có quốc kỳ". Bởi vậy, Quang phục Hội mới "chế định cờ ngũ tinh" (năm ngôi sao) làm lá quốc kỳ đầu tiên. Năm ngôi sao trên lá cờ này có hình liên kết với nhau (ngũ tinh liên châu), tiêu biểu cho ba kỳ của Việt Nam, cộng thêm Lào và Cămpuchia (!). Quốc kỳ Quang phục Hội có nền vàng, tượng trưng cho nhân chủng da vàng của người Việt, màu hồng của năm ngôi sao biểu tượng cho vị trí phương Nam của nước Việt ("Nam phương thuộc hỏa, hỏa sắc hồng"). Hình dạng quân kỳ cũng giống như quốc kỳ, điểm khác nhau là thay vì hồng tinh (sao hồng), quân kỳ dùng bạch tinh (sao trắng), nhằm "tỏ rõ mục đích" của Việt Nam Quang phục Quân là "cốt đánh đổ chính phủ người da trắng".

Tôn chỉ "độc nhất" của Quang phục Hội là "khôi phục nền độc lập của Việt Nam" và thành lập một nước "cộng hòa dân quốc". Nói một cách khác, với sự thành lập của Quang phục Hội, lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam chủ nghĩa quân chủ đã bị phủ nhận và chủ nghĩa dân chủ "được xác định". Dĩ nhiên Phan Bội Châu đã đóng vai trò quan trọng trong sự chuyển hướng đường lối của Quang phục Hội [7]. Cho dù việc thay đổi "ngọn cờ quân chủ" (mà Phan Bội Châu đã đề cao để chống Pháp lúc xuất dương) thành lá cờ dân chủ phần nhiều là do ảnh hưởng của Cách mạng Tân Hợi (1911) ở Trung Quốc, nhưng trong bối cảnh lịch sử nửa đầu thế kỷ XX ở Việt Nam, sự kiện này có ý nghĩa như một khúc nhạc dạo đầu báo hiệu sự cáo chung của chế độ quân chủ ở nước ta mà trên thực tế sẽ xảy ra trong quá trình ba, bốn mươi năm sau đó.

"Bạo động kịch liệt" và bế tắc

Khác hẳn với chủ trương ôn hòa của Phan Châu Trinh là duy tân để tự cường rồi mới dành độc lập; Phan Bội Châu chủ trương bạo động, một phần vì bản tính ("sinh bình tôi vốn ôm chủ nghĩa cấp khích" [8]) và một phần do áp lực của "bọn anh em trong phái cấp khích ở Nghệ Tĩnh... hối thúc tôi trong việc quân giới" [9].

Lật đổ chính quyền thuộc địa Pháp bằng phương tiện võ trang (quân sự), đối với Phan, là phương cách duy nhất để lấy lại độc lập cho Việt Nam. Tuy nhiên, Phan cho rằng người Việt tự mình không địch nổi người Pháp, do đó phải cậy vào một cường quốc khác. Sở dĩ Phan và các đồng chí trong Duy Tân Hội chọn Nhật Bản để cầu viện vì Nhật là nước "đồng văn đồng chủng" mà lại vừa mới thắng Nga. Sau khi bị nhà đương cuộc Nhật trục xuất khỏi Nhật, Phan chuyển hướng, muốn liên kết với các nước "đồng bệnh" - trước hết là Trung Quốc - chống lại "cường quyền". Tuy nhiên, suốt đời Phan không rời chủ nghĩa Liên Á (Asianism), tin rằng nếu không có sự giúp đỡ của các nước "đồng văn đồng chủng" như Trung Quốc, Nhật Bản... thì Việt Nam không thể nào lấy lại độc lập.

Phan Châu Trinh (1872-1926)
Ông là nhà cách mạng xã hội, có tư tưởng dân chủ đầu tiên, là nhà văn hóa, một nhân cách lớn.
Phan Châu Trinh là một tấm gương sáng trong phong trào Duy Tân đầu thế kỷ 20. Ông là một nhà nho yêu nước có nhiều suy nghĩ tiến bộ. Có thể xem ông là người có tư tưởng dân chủ sớm nhất trong số các nhà nho yêu nước tiến bộ đầu thế kỷ.
Đặc biệt hơn nữa, ông chọn con đường dấn thân tranh đấu nhưng ôn hòa, bất bạo động. Ông coi dân chủ cấp bách hơn độc lập và coi việc dùng luật pháp, cai trị quy củ có thể quét sạch hủ bại phong kiến.
Với tinh thần yêu nước nồng nàn, suốt đời gắn bó với vận mệnh đất nước, với cuộc sống sôi nổi, gian khó và thanh bạch, ông xứng đáng để hậu thế ngưỡng mộ, noi theo ngày hôm nay...
Nhận thức về quan hệ quốc tế của Phan vừa lỗi thời vừa rất chủ quan. Có thể nói một trong những lý do khiến Phan thất bại là vì mặc dầu đứng trong tư thế người lãnh đạo một phong trào chống Pháp, Phan không bao giờ có ý định tìm hiểu về người Pháp và nước Pháp. Theo phương châm ngày xưa "kẻ thù của địch là bạn ta", Phan ngỏ ý cầu viện một cách bừa bãi với các nước mà Phan coi là có quyền lợi xung đột với Pháp lúc bấy giờ: Đức, Nga, và đặc biệt là Trung Quốc và Nhật Bản. 

Phan cả tin và chủ quan về những "nước bạn", rồi với trạng thái tâm lý được diễn tả và châm biếm qua câu ca dao "Thương thì thương cả đường đi, ghét thì ghét cả tông chi họ hàng" (hoặc "Thương thì trái ấu cũng tròn, không thương trái bồ hòn cũng méo"), Phan tưởng rằng những "nước bạn" sẽ là những đồng minh muôn thuở, bất luận trong tình huống nào và vô hình trung cho rằng "Pháp là nước duy nhất có ý đồ xâm chiếm Việt Nam". Vì Phan hoạt động trong giai đoạn mà ý thức hệ (hệ tư tưởng) chính trị chưa chia phối hàng ngũ người Việt trong nước cũng như hải ngoại, nên mặc dầu những thuật ngữ Phan dùng có thể khác những thuật ngữ của các thế hệ sau, nhưng phải nói trạng thái tâm lý nói trên vẫn thể hiện đậm nét trong quan niệm đối ngoại của Việt Nam ít ra mãi cho đến gần đây.
 
Chủ trương bạo động của Phan Bội Châu tùy thời điểm có mức độ khác nhau. Chẳng hạn, sau khi sang Nhật để xin viện trợ quân sự chống lại Pháp, Phan gặp Lương Khải Siêu, và sau khi nghe lời khuyên chí tình của họ Lương, Phan mới chuyển hướng sang việc gửi thanh niên sang Nhật du học. Qua bút đàm, Lương khuyên Phan: "Quý quốc chớ lo không có ngày độc lập, mà chỉ nên lo quốc dân không có đủ tư cách độc lập... Thực lực của quý quốc là dân trí, dân khí và nhân tài". 

Mặc dầu thời kỳ Đông Du là khoảng thời gian mà chính Phan xem là "đắc ý" nhất trong đời, Phan vẫn còn vương vấn với khuynh hướng "bạo động" nên cũng không hết lòng tin tưởng vào vai trò của giáo dục. Phan mượn câu nói của Mã-Chí-Nê (Mazzini) làm chủ thuyết của mình: "Giáo dục dữ bạo động đồng thời tịnh hành" (Giáo dục và bạo động cùng tiến hành song song) [10]. Sau khi bị trục xuất khỏi Nhật (1909), bôn ba sang Xiêm, rồi cuối cùng trở về Quảng Đông thành lập Quang phục Hội (1912), Phan chủ trương "bạo động kịch liệt" nhằm "tìm cái sống trong muôn vạn cái chết" và những mong bạo động sẽ là "môi giới để cải lương giáo dục"!

Trái hẳn với Phan Bội Châu, châm ngôn của Phan Châu Trinh là "Vọng ngoại tắc ngu, bạo động tắc tử" (Không nên cậy vào nước ngoài, cậy vào nước ngoài là ngu; không nên bạo động, bạo động là chết) và "ỷ Pháp cầu tiến bộ" mà trên thực tế có nghĩa là phải tạm thời chấp nhận chính quyền thuộc địa nhằm mở mang dân trí và cải cách chế độ cai trị của người Pháp, rồi từng bước phục hồi nền độc lập quốc gia. Khi bị tù ở Côn Đảo, Phan Châu Trinh đã từng nói: "Chưa có tư cách quốc dân độc lập, dầu có nhờ cậy sức nước ngoài chỉ diễn cái trò 'đổi chủ làm đầy tớ lần thứ hai', không ích gì... mình không tự lập, ai cũng là kẻ cừu của mình, Triều Tiên, Đài Loan là cái gương rõ ràng, người Nhật chắc gì hơn người Pháp" [11].

Phan Châu Trinh là nhà sĩ phu đầu tiên hô hào dân quyền ở nước ta [12]. Ông chống bạo động, dấy phong trào duy tân "chấn dân khí, khai dân trí, hậu dân sinh" và chủ trương "tự lực khai hóa" không phải vì ươn hèn sợ hãi, mà bở vì ông thấy dân trí nước ta còn quá thấp. Theo ông, trong tình trạng như vậy thì dầu có giành được độc lập "cũng không phải là điều hành phúc cho dân". Ông là người quả cảm, có khí phách, không sợ hiềm nghi hay gièm pha, dám đưa ra một chủ thuyết khác hầu hết mọi người đương thời. Phan Tây Hồ là một nhà cách mạng theo đúng nghĩa của nó.

Vì Phan Bội Châu theo chủ thuyết bạo động nên không phải ngẫu nhiên mà phần lớn những sinh viên du học ở Nhật và Trung Quốc vào đầu thế kỷ (dưới ảnh hưởng của Phan) đã học những trường quân sự, và đại đa số những người này cuối cùng đã hy sinh trong những vụ bạo động, mưu toan ám sát người Pháp cùng những người Việt cộng tác với chính quyền thuộc địa, hay các binh biến lẻ tẻ. Than tiếc cho sự việc này, Phan Châu Trinh đã viết: "Phải chi dùng số người xuất dương đó phân tán trong nước, đem trí thức, trình độ cao đó khiến cho mười mấy triệu người trong nước cũng có trí thức cao lên để tranh dành với Pháp" [13]. Bởi vậy, trong lời tựa của tập tự truyện "Phan Bội Châu niên biểu" mà tác giả đã viết với sự cân nhắc và phản tỉnh sâu lắng trong tuổi già, Phan Bội Châu ghi: "Chân trời góc bể gần ba mươi năm, vì liên lụy với tôi mà kẻ chết người tù, họa tràn quận quốc, độc trôi đồng bào... Anh em chúng ta nếu xem cái gương thất bại trước mà gấp lo tìm cách cải lương, sẽ mở ra một lối thành công sau...". 

Phan Bội Châu khuyên đồng bào nên xem cuộc đời họat động của mình như một "chiếc xe đã bị lật đằng trước nhằm cảnh giác" (tiền xa phúc, hậu xa giới) mà mở lối thành công. Những lời này của Phan Bội Châu nên được xem như là những lời phản tính và nhắn nhủ chân thành của một nhà đại hào kiệt "có lòng thương nước" nhưng vô tình đã "không biết cái đạo thương nước". Bình luận về Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh đã có những nhận xét sắc bén và thẳng thừng như sau: "Ông Phan Bội Châu tư chất thông minh, chí khí rất to lớn, sớm có quan niệm quốc gia. Trong thời đại nước Việt Nam chuộng khoa cử, ông cũng là người có học thức lầm lạc (mậu vọng) những dụng công rất nhiều, lòng tự tin mãnh liệt, cho nên những ưu và khuyết điểm cùng tập quán của dân tộc Việt Nam đều ăn sâu vào não tủy ông ta. Cho nên có thể cho ông là người xứng đáng đại biểu cho tập tánh của người Việt Nam." Hoặc giả: "Ông là người lịch sử dân tộc trên hai ngàn năm, nào ưu điểm, nhược điểm đã hun đúc thành con người đó" [14].

Nền độc lập mà Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh cùng các sĩ phu khác vào đầu thế kỷ hằng mơ ước ngày nay đã về trong tay người Việt. Nhưng vấn đề dân chủ, dân trí, dân sinh mà Phan Chu Trinh hằng nhắc nhở từ đầu thế kỷ vẫn là những vấn đề hiện thực nóng bỏng của đất nước sau chiến tranh. Thực tâm giải quyết những vấn đề này sẽ mang lại sinh khí cho dân tộc, đất nước nhờ đó sẽ được hồi sinh.

Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh là hai nhân vật kiệt hiệt của đất nước, nhưng chỗ đứng của họ trong cuộc hành trình dân tộc trong 100 năm qua lại khác nhau như âm với dương. Mặc dầu chúng ta cần đánh giá vai trò thức tỉnh hồn nước và ý thức quốc gia quốc dân của Phan Bội Châu, nhưng đồng thời cần nhận thức rằng Sào Nam tiên sinh không phải là người đã đề xướng dân chủ, dân trí và dân sinh. Làm việc đó đã có tiếng nói hùng hồn của Phan Chu Trinh. Bởi vậy, khi đọc lại những lời Tây Hồ viết vào đầu thế kỷ, ta vẫn nghe sang sảng tựa hồ như tiên sinh đang đăng đàn diễn thuyết đâu đây.
Tháng 8-1999

Tham khảo:
[1] "Tự phán" (TP, tức Phan Bội Châu niên biểu) (Huế: Nhà xuất bản Anh Minh, 1956), trang 27. Khi trích dẫn từ sách này, chúng tôi đã tham khảo nguyên văn chữ Hán và đôi khi đã sửa đổi vài chỗ trong bản dịch quốc ngữ cho sát với nguyên văn và nghe thuận tai hơn.
[2] Xem Nguyễn Q. Thắng, "Huỳnh Thúc Kháng - Con người và thơ văn" (Sàigòn: Phủ Quốc-Vụ-Khanh đặc trách văn hóa, 1972), trang 278
[3] Đặng Thai Mai, "Văn thơ Phan Bội Châu" (Hà Nội: Nhà xuất bản Văn học, 1967), trang 105.
[4] Xem "Việt Nam quốc sử khảo", trong "Những tác phẩm của Phan Bội Châu" (Hà Nội: Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, 1982), trang 223-237.
[5] Như trên, trang 217
[6] Xem Kawamoto Kunie, "Etsunanjin no ketsuda" (Quyết đoán của người Việt), trong cuốn "Kanji minzoku ketsudan" (Quyết đoán của những dân tộc dùng chữ Hán) do Hashimoto Mantaro, Suzuki Takao và Yamada Hisamu biên soạn. (Tokyo: Taishukan Shoten, 1987), trang 481.
[7] Về các tư liệu trích trong phần này, xem "Tự phán", trang 146-154.
[8] "Tự phán", trang 150.
[9] NTT, trang 51
[10] "Tự phán", trang 53
[11] Minh-Viên Huỳnh Thúc Kháng, "Thi tù tùng thoại" (Sàigòn: Nam Cường, 1951), trang 105.
[12] Xem Nguyễn Văn Xuân, "Phong trào Duy Tân" (Đà Nẵng: Nhà xuất bản Đà Nẵng, 1995), trang 107.
[13] Phan Chu Trinh, "Pháp Việt liên hiệp hậu chi Tân Việt Nam" (Nước Việt Nam mới sau khi liên hiệp với Pháp), bản dịch của Nguyễn Q. Thắng và Nguyễn Văn Tường, trong Nguyễn Q. Thắng, "Phan Chu Trinh - Cuộc đời và tác phẩm" (TP Hồ Chí Minh: Nhà xuất bản TP Hồ Chí Minh, 1987), trang 252.
[14] Như trên, trang 251-254.

Thứ Năm, 30 tháng 10, 2014

Viết nhân dịp nhận món quà của người bạn nhỏ

Tôi thích gọi em là người bạn nhỏ, dù em bằng đúng tuổi con trai tôi. Và dù tôi với em xưng hô cô và em, theo kiểu thầy trò, giống như tôi vẫn thường xưng hô với những sinh viên của mình, dù tuổi của họ có khi còn hơn tuổi tôi hoặc thường là chỉ kém trong vòng chục tuổi đổ lại (đối với học viên sau đại học), hoặc chỉ bằng con cháu tôi, như trường hợp của em. Vâng, dù có xưng hô như thế nào, và tuổi tác ra sao, tôi vẫn xem em như một người bạn đúng nghĩa - một người bạn nhỏ, that is.

Hôm nay, tôi nhận được món quà của em, người bạn nhỏ ấy. Không bất ngờ, vì hôm trước (lâu lâu rồi) đã thấy em gửi mail hỏi địa chỉ để gửi sách. Em vốn là ... mọt sách (có lẽ thế), và điều này cũng khá giống tôi, nên tôi cũng thấy bình thường, nghĩ rằng chắc em thấy một cuốn sách gì hay nên muốn gửi cho tôi. Tôi trả lời, rồi quên mất. Mãi cho đến hôm nay, khi nhận cuốn sách, và là món quà sinh nhật muộn của em gửi đến tôi. Muộn đến 2 tháng, nên em bèn cân bằng nó bằng cách đề tặng nó cho tôi nhân dịp Noel, và lần này thì sớm - sớm hẳn hai tháng. Như vậy, xét về thời gian mà nói thì nó đúng là perfect timing, không sớm và cũng không muộn một chút nào cả. Brilliant! :-D

Có một điều lạ lùng là sinh nhật tôi cũng rất gần sinh nhật của em, chỉ cách nhau có vài ngày. Đủ gần để tôi với em có cùng một lá số tử vi của phương tây - cùng là Virgo, tuổi Xử Nữ. Tuổi của những con người im im, buồn buồn, có vẻ hiền hiền nhưng thực ra cũng rất ... lì (well, kiên trì, nếu ai muốn dùng một từ đẹp đẽ hơn). Những người thích ở nhà đọc sách hơn là đi ra ngoài vui chơi, đàn đúm. Nếu có gặp gỡ bạn bè, những người ấy cũng chỉ thích gặp một nhóm nhỏ vài người quen rất thân. Có lẽ sẽ là một quán cà phê nho nhỏ nào đó ở một nơi yên tĩnh. Những người có ít bạn, nhưng tình bạn của họ có thể kéo dài nhiều chục năm trời. (Riêng tôi thì phải thêm câu này nữa: Và một khi đã nghỉ chơi với ai - do thấy rằng người ấy không còn xứng đáng với tình bạn của mình vì lý do nào đó - thì sẽ không bao giờ nhìn mặt nhau nữa!!)

Cuốn sách của em tặng tôi là cuốn tuyển tập truyện ngắn của nhà văn nữ đoạt giải Nobel văn học năm 2013. Hẳn là em nghĩ tôi thích tác giả này (mà quả là tôi thích thật), vì tôi đã bỏ công dịch hết một truyện ngắn của bà sang tiếng Việt và đăng trên blog. Thậm chí tôi còn rủ rê một người bạn khác của tôi - một người mà tôi có thể gọi là người bạn lớn, giống như tôi gọi em là người bạn nhỏ - cùng dịch và tìm cách xuất bản một tập truyện của Alice Munro nữa cơ. Nhưng rồi ... cái tính "cả thèm chóng chán" (lời của mẹ tôi) cố hữu của tôi đã thắng thế: tôi chỉ dịch được đúng 1 truyện đó, và đang dịch dở dang một truyện khác, và ... bỏ dở hoàn toàn.

Well, tôi cũng có thể tự bào chữa cho mình bằng cách nói (chống chế) rằng thời gian qua tôi có nhiều thay đổi trong công việc khiến không thể tập trung được. Nhưng tôi cũng biết nếu không có gì thay đổi thì có lẽ tôi cũng vẫn .. " cả thèm chóng chán" như thế thôi. Nói cho chính xác thì cũng không phải là chán, mà vì tôi quá say sưa với cuộc sống này, nên đã biết qua về Alice Munro rồi (vd thế) thì tôi sẽ phải tạm gác lại để lại lao vào những cuộc tìm hiểu, những đợt phiêu lưu với những điều khác đang diễn ra quanh mình. Như ... biểu tình ở Hongkong, với cuộc cách mạng dù, chẳng hạn. Hoặc ... phân tầng xếp hạng trường đại học, ví dụ thế. Danh sách có thể còn dài thêm nhiều nữa.

Nhưng điều đó không có nghĩa là tôi quên hẳn những thói quen cũ, những người quen cũ, những "tình yêu" cũ (tình yêu nói theo nghĩa rộng, các bạn nhé!). Tôi sẽ nhớ đến họ, đến chúng khi tôi đã quá mệt mỏi với những đợt tìm hiểu, những cuộc phiêu lưu với cái mới, và cần một chút không gian riêng để thở, một chút thời gian riêng để lắng lại. Và cuốn truyện ngắn chọn lọc của Alice Munro đến với tôi vào một lúc tôi đang cần lắng lại như thế.

Hai mươi ba truyện ngắn trong một cuốn sách hơn bốn trăm trang giấy khổ nhỏ (paperback). Tôi sẽ nhâm nhi đọc nó trong một thời gian chưa biết là dài hay ngắn. Tôi không bao giờ biết được, vì đối với tôi, đời là một chuyến đi, và cuộc đi quan trọng hơn đích đến. Cứ tha thẩn ngắm đường, còn đến nơi thì không cần thiết, mà thậm chí là điều không mong đợi. Vì đến nơi là chấm dứt cuộc đi. Tôi sẽ đọc nhẩn nha khi nào mình cần, khi nào có thời gian, khi nào có tâm trạng, hoặc khi nào không có tâm trạng gì cả, chỉ trống không, trống không. Lúc này là một lúc tôi quá đầy nên trở thành trống không như thế.

Mấy giòng chữ đề tặng của em mềm và hơi run. Có ai biết rằng tôi là người biết xem chữ viết để đoán tính cách không nhỉ? Tôi nghĩ, có lẽ em mua cuốn sách này trong một buổi đi nhà sách, lang thang một mình, thơ thẩn nhớ nhà, và chợt nghĩ đến tôi. Tôi nghĩ em giống tôi nhiều điểm, mà cũng khác rất nhiều. Nếu không tin, hãy nhìn chữ viết (tôi đùa đấy!). Nhưng quả thật, chữ của em đều đặn, nét mỏng và mềm, hơi run. Chữ viết của tôi thì ngược lại, mạnh, đậm, dứt khoát, rất không đều (tiếng Anh có lẽ là rugged), cứng, không bao giờ run. Xét theo tử vi phương Đông thì tôi với em là hai thái cực, trái ngược nhau hoàn toàn. Tôi là dương nữ, còn em là âm nam (cùng tuổi con trai tôi). Tuổi mèo, nên  có chút gì mềm mỏng, uể oải, bẽn lẽn, nhưng xa cách và ... chảnh của loài mèo. Tôi là chuột, xù xì, xấu xí, có sao để vậy, không dressed up, thô ráp, nhưng năng động, chạy đôn chạy đáo suốt ngày đêm. Sao tôi với em lại có ít nhiều đồng cảm, nhỉ? Không biết được, tình bạn đối với tôi cũng là một món quà. Một bông hoa đẹp, hoặc thơm, hoặc vừa thơm vừa đẹp, trên đoạn đường tôi đi qua.

Cám ơn em về món quà, về tình bạn, về hương thơm em đã tỏa ra trên đường tôi đi. Tôi đã bị attracted bởi vẻ đẹp và hương thơm của hoa, tôi đã dừng lại, và đã viết bài này ghi lại những cảm xúc. Rồi tôi sẽ tiếp tục đi, sẽ quên em, sẽ bận rộn với nhiều cái mới mẻ khác. Để một lúc nào đó khi cần lắng lại, kỷ niệm về tình bạn dễ thương ấy lại ùa về. Và làm cho tôi mỉm cười, và thấy trong lòng nhẹ nhõm.

Bài viết này cũng là một món quà nhỏ mà tôi tặng cho em. Cho một sinh nhật muộn, và một Giáng sinh sớm. Và là một lời cám ơn, một lời cầu chúc. Ở nơi xa, mong mọi điều tốt đẹp nhất sẽ đến với em, em nhé, người bạn nhỏ của tôi.







Thứ Ba, 28 tháng 10, 2014

Lảm nhảm về những việc không đâu ...

Chẳng hiểu tại sao, hôm nay tôi lại muốn nghe lại một số bản nhạc tiếng Anh mà bọn tôi đã rất thích thời còn là sinh viên.

Thời sinh viên của chúng tôi là cuối thập niên 1970, đầu thập niên 1980. Và chẳng biết tôi có thiên vị không, nhưng tôi cảm thấy nhạc pop của thập niên 70 và 80 là hay nhất. Cái này chắc là hội chứng tô phở đầu tiên quá!

Ai chưa biết thì xin giải thích: Phở Bắc vốn xuất phát từ miền Bắc, nhưng khi vào Nam nó bị thay đổi rất nhiều. Cho nên người Bắc ở ngoài Bắc vào mà ăn phở của miền Nam thì chê ghê lắm. Mất hết vị phở, chằng còn nhận ra đó là phở nữa! Phở gì mà lại ăn với rau húng quế (vốn chỉ để ăn ... tiết canh), rồi giá trụng, lại còn xịt tương đen tương đỏ vào nữa, hầm bà lằn hết! Thật là ... không biết phải nói thế nào nữa!

Nhưng với những người sinh ra và lớn lên ở miền Nam như tôi (dù tôi là gốc Bắc Kỳ, nói chính xác là Bắc Kỳ 54 tức BK 9 nút) thì phở Nam mới đúng là phở! Vì tô phở đầu tiên mà tôi được ăn là tô phở như tôi mô tả ở trên, và I fell in love with it, như người ta thường nói. Nên lần đầu tiên tôi ăn phở Bắc - được hẳn một người Bắc sành ăn dẫn đi ăn, "thế này mới đúng là phở chứ" - thì quả thật, tôi thấy ... chẳng ngon gì cả.

Cái gì mà chỉ có bánh, thịt, nước dùng, có rắc hành ngò ở trên. Sao, hết rồi ư? Thế còn mấy bình tương đen, tương đỏ, rồi đĩa rau, đĩa giá của tôi đâu? Hừ hừ ...

Nào, lạc đề thế đủ rồi. Giờ quay lại mấy bản nhạc của thập niên 70, 80 chứ.

Nhạc tiếng Anh thời ấy tôi đã nghe nhiều, và thích cũng nhiều. Mỗi bài sẽ phù hợp với những tâm trạng khác nhau. Nhưng có một bài mà lúc nào tôi cũng thích - và bây giờ đang rất muốn nghe lại - là bài Imagine của John Lennon.

Vâng, hãy chúng ta hãy tưởng tượng ...

Tưởng tượng một đất nước thanh bình, dân chủ, tự do và phát triển ...

Tưởng tượng một xã hội công bằng, con người được tôn trọng, và chan chứa tình thương ...

Tưởng tượng đi các bạn, có ai đánh thuế mình đâu?

Và xin các bạn thưởng thức bài hát qua giọng hát vô cùng đáng yêu của cô bé tài năng Connie Talbot:

https://www.youtube.com/watch?v=GPeB6kGxWY0

Thứ Bảy, 25 tháng 10, 2014

Joshua Wong với việc giảng dạy đạo đức và lòng yêu nước theo "mô hình TQ" ở Hongkong

Báo chí thế giới hiện đang liên tục đưa tin về cậu bé Joshua Wong, cậu bé chỉ mới 17 tuổi (còn chưa đủ tuổi lái xe) nhưng đã là thủ lĩnh có kinh nghiệm của phong trào dân chủ trong học sinh ở Hongkong. Từ năm 15 tuổi, cậu đã thành lập nhóm "Scholarism" năm 2012 để phản đối việc giảng dạy đạo đức và lòng yêu nước theo "mô hình Trung Quốc" cho học sinh Hongkong. Bài viết dưới đây, được đăng trên trang blog của tờ Wall Street Journal từ năm 2012, cho chúng ta biết thêm về bối cảnh ra đời của nhóm Scholarism.
-----------------
Nguồn: http://blogs.wsj.com/chinarealtime/2012/07/16/hong-kong-school-leaflets-praise-one-party-system/


16 tháng 07, 2012, 4:18p.m HKT
Tài liệu giảng dạy về 'Mô hình Trung Quốc' làm Hồng Kông phẫn nộ (Blog WSJ, 16/7/2012)

Chính phủ Trung Quốc hiện nay đang được lãnh đạo bởi những nhà lãnh đạo "tiến bộ, vị tha, và đoàn kết", đó là nội dung trích từ một cuốn sách nhỏ được gửi đến tất cả các trường công tại Hong Kong, và điều này đã gây ra một cuộc tranh cãi tại thành phố này; các nhà phê bình gọi đó là "sự tẩy não".
"Mô hình Trung Quốc", cuốn sách nhỏ in màu dài 34 trang, nhằm mục đích bày tỏ sự kính trọng đối với hệ thống độc đảng của Trung Quốc và lên án hệ các thống đa đảng tương tự như ở Mỹ, vì chúng sẽ gây ra “những tranh chấp đảng phái ác liệt.”
Cuốn sách nhỏ này đã được Trung tâm Quốc gia Dịch vụ Giáo dục Hồng Kông (một tổ chức nhận tài trợ của nhà nước) in ra để thúc đẩy sự hiểu biết và quảng bá sâu rộng hơn về văn hóa và lịch sử của Trung Quốc tại Hồng Kông.
"Cuốn sách này chỉ là một tài liệu tham khảo cho giáo viên nhằm giúp học sinh hiểu rõ hơn về Trung Quốc", ông Wong Chi Ming (Hoàng Chí Minh), giám đốc trung tâm cho biết. Từ năm 2008 đến năm 2011, trung tâm này đã nhận được khoảng 8.000.000 đô la Hồng Kông (khoảng 1 triệu USD) từ chính phủ Hồng Kông, trong đó 2.300.000 đô la Hồng Kông (297.000 USD) được dùng để xuất bản các tài liệu giảng dạy.
Cuộc tranh cãi về cuốn sách "Mô hình Trung Quốc" nổ ra vào thời điểm nhạy cảm trong mối quan hệ giữa Hồng Kông với Trung Quốc. Mặc dù vùng đất vốn là thuộc địa cũ của Anh này đã được trả về cho Trung Quốc kiểm soát vào năm 1997, nhưng nó vẫn tiếp tục vận hành theo hệ thống chính trị độc lập của riêng mình với đầy đủ các quyền tự do. Vào ngày 01 tháng 07 vừa qua, hàng chục ngàn người đã tràn ngập đường phố của Hồng Kông trong một cuộc biểu tình chỉ trích sự can thiệp của Bắc Kinh vào các hoạt động chính trị địa phương, và kêu gọi ông Leung Chun-ying (Lương Chấn Anh), thị trưởng vừa tuyên thệ nhậm chức mới đây, phải từ chức, vì những người ủng hộ dân chủ của thành phố cho rằng ông ta quá “thân thiết” với chính quyền Bắc Kinh.
"Chúng ta nên tìm kiếm sự thật, và không nên nhắm mắt hoặc giấu đi tất cả những điều không tốt về đất nước của mình", nghị sĩ Wong Chi-sing (Hoàng Tinh Trì) nói. Ông là một trong một số những nhà lập pháp lên tiếng phê phán chính phủ đã hỗ trợ cho việc xuất bản các tài liệu giáo dục đầy thiên lệch trong một buổi điều trần gần đây tại Quốc hội.. “Cách làm này, vốn đã được dùng trong Cách mạng văn hóa, là hoàn toàn không thể chấp nhận được bởi vì đó chính là tẩy não."
Ngoài việc ca ngợi những ưu điểm của hệ thống chính trị của Trung Quốc, cuốn sách này – đã được phân phát 30.000 bản trong vòng hai tháng vừa qua – còn có hình ảnh tươi cười của Chủ tịch Trung Quốc Hu Jintao (Hồ Cẩm Đào) khi đến thăm nông dân ở Hà Nam và hình ảnh một người lính giải phóng quân Trung Quốc mặc đồng phục đang phát thuốc cho dân chúng ở châu Phi. Các giáo viên được toàn quyền sử dụng tập sách theo phán đoán của riêng mình.
Ban đầu Hồng Kông dự định bắt buộc phải dạy môn "đạo đức và lòng yêu nước" trong tất cả mọi trường công bắt đầu từ tháng chín này, nhưng sự phẫn nộ tràn lan của dân chúng đã khiến chính phủ phải hoãn việc thực hiện chương trình giáo dục mới cho đến năm 2015. Theo kết quả dò của Đại học Hong Kong, chỉ có 37% người dân Hồng Kông cho biết họ tự hào khi được trở thành công dân Trung Quốc sau khi Hồng Kông được trả lại cho Trung Quốc vào năm 1997, con số thấp nhất được ghi nhận kể từ năm 2001.
Bộ trưởng giáo dục Hong Kong, Eddie Ng (Ngô Khắc Kiện) cho biết mục đích của việc giáo dục đạo đức và lòng yêu nước là nhằm "khuyến khích học sinh thảo luận các vấn đề từ nhiều góc độ khác nhau", và khẳng định thêm rằng không có quy định nào cấm thảo luận về những chủ đề nhạy cảm.
Chẳng hạn, cuốn sách nhỏ này cũng nêu những vấn đề gây tranh cãi như vụ phần mềm kiểm duyệt "Green Dam" của Trung Quốc, hoặc sự cố sữa nhiễm độc và vụ tai tiếng “Bố tao là Lý Cường", trong đó người con trai của một quan chức có nhiều mối quan hệ chính trị khi lái xe đụng phải một phụ nữ trẻ trong khuôn viên một trường đại học đã thách thức như vậy trước khi rời khỏi hiện trường.
- Te-Ping Chen và Trinna Leong