Tình cờ đọc một tựa bài viết trên SciDev.net có cụm từ public good (nguyên văn: clean technology as a public good), lại nhớ đến một cuộc tranh cãi mệt mỏi với một đồng nghiệp về cách dịch từ này, nên ghi lại ở đây vài ý để chính mình nhớ, và chia sẻ với những ai ... không may láng cháng đến trang blog này của mình.
Nếu ai tra nghĩa của cụm từ public good sẽ thấy nó có một số nghĩa khác nhau, ví dụ như những định nghĩa sau theo trang search của google:
Definitions of Public good on the Web:
In economics, a public good is a good that is non-rivaled and non-excludable. This means, respectively, that consumption of the good by one individual does not reduce availability of the good for consumption by others; and that no one can be effectively excluded from using the good. ...
en.wikipedia.org/wiki/Public_good
The general welfare of the people; the best interests of the community
en.wiktionary.org/wiki/public_good
A good that cannot be charged for in relation to use (like the view of a park or survival of a species), so there is no incentive to produce or maintain the good. ...
www.economics.noaa.gov/
a good, such as national defense, that costs little or nothing for an extra individual to enjoy and the costs of preventing any individual from the enjoyment of which are high; public goods have the properties of nonrivalrous consumption and nonexcludability.
www2.wwnorton.com/college/econ/stec3/economics/glossary.htm
A pure public good is characterized by its nonexclusive nature: anyone can benefit from it, and a person's use of the good does not diminish ...
www.minneapolisfed.org/community_education/student/essay/topics/gloss97.cfm
a good or service that has the characteristics of non-rivalry in consumption and non-excludability (chapter 15)
www.johnwiley.com.au/highered/eco2e/micro/student-res/glossary.html
a good or service that is provided to the public without profit
libraryclass103.wordpress.com/2009/01/20/definitions-set-1/
những chỗ in đậm (bold) là mình mới thêm vào để nhấn mạnh. cần lưu ý: public good có khi được đối xử như một từ đếm được (a good, goods), và có khi được đối xử như một từ không đếm được (chỉ dùng the ... good - giống như the young, the old, the ugly vv).
và rắc rối chính là ở chỗ này đây. khi dùng đếm được, thì phải dịch là hàng hóa, dịch vụ (các định nghĩa ở trên đã làm rõ), còn khi không đếm được, thì phải dùng với nghĩa ích lợi (và có thể dùng the public good hoặc the common good, nghĩa giống nhau, cả hai đều dịch là công ích).
chỉ có vậy thôi, ai không tin cứ dùng ngữ học dữ liệu mà kiểm tra (có thể kiểm tra trên google, ai không rõ cách làm thì hỏi chủ nhân của blog này). thế mà mình lại xui xẻo, bị một người biết một mà không biết hai, chê rằng là mình không đúng mà lại còn dám sửa người khác!
thế nên mới nói dịch là một nghề rất là thù địch, có thể bị phục binh bất cứ nơi nào!
dịch mà không phản, ấy mới là dịch vậy!
Blog này là hậu thân của BlogAnhVu đã bị tôi xóa do một số vấn đề kỹ thuật. Như tên gọi của blog, Just for myself, nó chỉ là nhật ký cá nhân, dù ở dạng mở, nhằm ghi lại những suy nghĩ và cảm xúc của chính tôi về những vấn đề xung quanh mình. Vì là nhật ký mở, tôi cũng chia sẻ đến những người đồng cảm, nhưng không chịu trách nhiệm nếu ai đó lấy bài đi và sử dụng ở nơi khác với những mục đích riêng. Nếu có comment, xin sử dụng ngôn từ hòa nhã, lịch sự, tôn trọng những quan điểm khác biệt.
Thứ Hai, 9 tháng 11, 2009
Thứ Sáu, 6 tháng 11, 2009
Another piece of good news!
Here is the URL to another lesson bank (free) from the Internet:
http://www.newsenglishlessons.com/
Here you can choose the appropriate lesson from a bank, with MP3 files and pdf lesson activities. And for all levels, all (well, almost all) topics imaginable.
Go there and make use of this free resource!
http://www.newsenglishlessons.com/
Here you can choose the appropriate lesson from a bank, with MP3 files and pdf lesson activities. And for all levels, all (well, almost all) topics imaginable.
Go there and make use of this free resource!
Thứ Năm, 5 tháng 11, 2009
Phản biện cần thông tin khoa học
Phản biện cần thông tin khoa học
http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=235958&ChannelID=3
Thứ Năm, 27/12/2007, 08:04 (GMT+7)
Bộ Y tế: quyết định dừng sử dụng mắm tôm là cần thiết
TT (Hà Nội) - Quyết định dừng sử dụng mắm tôm trên phạm vi toàn quốc vào thời điểm cao trào của dịch tả là phù hợp với tình hình thực tế, là biện pháp cần thiết trong trường hợp khẩn cấp có dịch bệnh đặc biệt nguy hiểm đe dọa sức khỏe và tính mạng người dân.
Hôm qua 26-12, Bộ Y tế đã có thông báo chính thức, khẳng định như trên, trả lời băn khoăn của dư luận xung quanh quyết định dừng sử dụng mắm tôm.
Trong thông báo này, Bộ Y tế dẫn kết quả cuộc điều tra 61 người bệnh đầu tiên trong vụ dịch, trong đó mắm tôm bị nghi là thực phẩm mang mầm bệnh và có nhiều khả năng gây bệnh. Bộ Y tế cũng cho rằng cùng với các hoạt động chống dịch khác, quyết định dừng sử dụng mắm tôm đã góp phần vào kết quả dập tắt dịch tả trong vòng hơn một tháng.
L.ANH
Tưởng rằng không có gì để nói thêm nữa trong vụ mắm tôm, nhưng khi đọc được bản tin trên đây, cúng tôi không thể không có thêm vài hàng bình luận.
Bộ Y tế vẫn viện dẫn kết quả 61 người bệnh đầu tiên có tiền sử ăn mắm tôm để kết luận rằng mắm tôm là thủ phạm của vụ bệnh tả và tiêu chảy cấp tính. Một người đọc bình thường phải hỏi ngay: tại sao mắm tôm? Thế còn các “thói quen” khác như ăn uống khác như ăn cơm, ăn rau sống, uống nước, uống bia, tắm sông, v.v… thì sao?
Thật là ngạc nhiên khi động từ “nghi” được sử dụng để “kết tội” một yếu tố dịch tễ học. Trong khoa học, phải có giả thuyết khoa học và kiểm định giả thuyết khoa học (chứ không thể nói “nghi” được). Dựa vào lí do sinh học gì để nói mắm tôm là thủ phạm bộc phát bệnh, khi hàng chục nghiên cứu trong y văn chỉ ra rằng với nồng độ muối lên đến >15% thì vi khuẩn tả không thể tồn tại.
Ngoài ra, vi khuẩn tả không thể tồn tại trong môi trường pH<3.>
Câu văn “Bộ Y tế cũng cho rằng cùng với các hoạt động chống dịch khác, quyết định dừng sử dụng mắm tôm đã góp phần vào kết quả dập tắt dịch tả trong vòng hơn một tháng” hàm nói đến một mối liên hệ nhân-quả (cause-effect relation). Lí giải của Bộ Y tế có thể diễn giải một cách gọn như sau: sau khi mắm tôm bị cấm, số bệnh nhân giảm xuống; suy ra, mắm tôm là nguyên nhân.
Nếu dùng cách lí giải và logic trên, chúng ta cũng có thể tiên đoán: ngưng cấm mắm tôm, bệnh tả sẽ bộc phát. Nhưng điều đó đã không xảy ra. Do đó, lí giải trên cũng có vấn đề về logic và thực tế. Thật ra, chúng tôi thấy cách lí giải như thế của Bộ Y tế quá dễ dãi, và càng không phù hợp chút nào đối với một ngành hoạt động được xem là khoa học: ngành y tế.
Dịch tiêu chảy và bệnh tả vừa qua không phải là lần đầu ở nước ta. Trong quá khứ, đã có hàng chục vụ như thế. Thật ra, năm nào các bệnh viện cũng đều có điều trị nhiều ca bệnh tiêu chảy và bệnh tả. Nhưng trong thời gian đó mắm tôm vẫn được sản xuất, vẫn được phân phối, và vẫn được tiêu thụ. Như vậy có thể cho rằng mắm tôm là thủ phạm không? Câu trả lời quá hiển nhiên!
Nếu mắm tôm là nguyên nhân gây bệnh thì tại sao 134 mẫu mắm tôm được lấy đi xét nghiệm và tất cả đều âm tính với vi khuẩn tả? Xác suất của một kết quả 134/134 âm tính như thế là bao nhiêu? Thấp lắm. Nếu không tin, Bộ Y tế thử hỏi các chuyên gia trong Bộ tính toán thử xem. Nếu cần, chúng tôi có thể hướng dẫn (miễn phí) cách tính.
Nói tóm lại, những phát biểu mới nhất của Bộ Y tế liên quan đến mắm tôm vẫn chưa mang tính thuyết phục. Chưa thuyết phục vì các phát biểu này thiếu khoa học tính, và không phù hợp với thực tế.
Có lẽ Bộ Y tế nên công bố cho quần chúng biết cách thu thập thông tin về 61 bệnh nhân đó ra sao (cụ thể câu hỏi nào được đặt ra và ai thu thập các thông tin đó), và xử lí các thông tin đó như thế nào, mà Bộ đi đến kết luận lúc ban đầu. Các thông tin này sẽ giúp cho sự phản biện khách quan hơn và không phải mang tính một chiều như hiện nay.
Posted by Nguyễn Văn Tuấn at 4:57 PM
http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=235958&ChannelID=3
Thứ Năm, 27/12/2007, 08:04 (GMT+7)
Bộ Y tế: quyết định dừng sử dụng mắm tôm là cần thiết
TT (Hà Nội) - Quyết định dừng sử dụng mắm tôm trên phạm vi toàn quốc vào thời điểm cao trào của dịch tả là phù hợp với tình hình thực tế, là biện pháp cần thiết trong trường hợp khẩn cấp có dịch bệnh đặc biệt nguy hiểm đe dọa sức khỏe và tính mạng người dân.
Hôm qua 26-12, Bộ Y tế đã có thông báo chính thức, khẳng định như trên, trả lời băn khoăn của dư luận xung quanh quyết định dừng sử dụng mắm tôm.
Trong thông báo này, Bộ Y tế dẫn kết quả cuộc điều tra 61 người bệnh đầu tiên trong vụ dịch, trong đó mắm tôm bị nghi là thực phẩm mang mầm bệnh và có nhiều khả năng gây bệnh. Bộ Y tế cũng cho rằng cùng với các hoạt động chống dịch khác, quyết định dừng sử dụng mắm tôm đã góp phần vào kết quả dập tắt dịch tả trong vòng hơn một tháng.
L.ANH
Tưởng rằng không có gì để nói thêm nữa trong vụ mắm tôm, nhưng khi đọc được bản tin trên đây, cúng tôi không thể không có thêm vài hàng bình luận.
Bộ Y tế vẫn viện dẫn kết quả 61 người bệnh đầu tiên có tiền sử ăn mắm tôm để kết luận rằng mắm tôm là thủ phạm của vụ bệnh tả và tiêu chảy cấp tính. Một người đọc bình thường phải hỏi ngay: tại sao mắm tôm? Thế còn các “thói quen” khác như ăn uống khác như ăn cơm, ăn rau sống, uống nước, uống bia, tắm sông, v.v… thì sao?
Thật là ngạc nhiên khi động từ “nghi” được sử dụng để “kết tội” một yếu tố dịch tễ học. Trong khoa học, phải có giả thuyết khoa học và kiểm định giả thuyết khoa học (chứ không thể nói “nghi” được). Dựa vào lí do sinh học gì để nói mắm tôm là thủ phạm bộc phát bệnh, khi hàng chục nghiên cứu trong y văn chỉ ra rằng với nồng độ muối lên đến >15% thì vi khuẩn tả không thể tồn tại.
Ngoài ra, vi khuẩn tả không thể tồn tại trong môi trường pH<3.>
Câu văn “Bộ Y tế cũng cho rằng cùng với các hoạt động chống dịch khác, quyết định dừng sử dụng mắm tôm đã góp phần vào kết quả dập tắt dịch tả trong vòng hơn một tháng” hàm nói đến một mối liên hệ nhân-quả (cause-effect relation). Lí giải của Bộ Y tế có thể diễn giải một cách gọn như sau: sau khi mắm tôm bị cấm, số bệnh nhân giảm xuống; suy ra, mắm tôm là nguyên nhân.
Nếu dùng cách lí giải và logic trên, chúng ta cũng có thể tiên đoán: ngưng cấm mắm tôm, bệnh tả sẽ bộc phát. Nhưng điều đó đã không xảy ra. Do đó, lí giải trên cũng có vấn đề về logic và thực tế. Thật ra, chúng tôi thấy cách lí giải như thế của Bộ Y tế quá dễ dãi, và càng không phù hợp chút nào đối với một ngành hoạt động được xem là khoa học: ngành y tế.
Dịch tiêu chảy và bệnh tả vừa qua không phải là lần đầu ở nước ta. Trong quá khứ, đã có hàng chục vụ như thế. Thật ra, năm nào các bệnh viện cũng đều có điều trị nhiều ca bệnh tiêu chảy và bệnh tả. Nhưng trong thời gian đó mắm tôm vẫn được sản xuất, vẫn được phân phối, và vẫn được tiêu thụ. Như vậy có thể cho rằng mắm tôm là thủ phạm không? Câu trả lời quá hiển nhiên!
Nếu mắm tôm là nguyên nhân gây bệnh thì tại sao 134 mẫu mắm tôm được lấy đi xét nghiệm và tất cả đều âm tính với vi khuẩn tả? Xác suất của một kết quả 134/134 âm tính như thế là bao nhiêu? Thấp lắm. Nếu không tin, Bộ Y tế thử hỏi các chuyên gia trong Bộ tính toán thử xem. Nếu cần, chúng tôi có thể hướng dẫn (miễn phí) cách tính.
Nói tóm lại, những phát biểu mới nhất của Bộ Y tế liên quan đến mắm tôm vẫn chưa mang tính thuyết phục. Chưa thuyết phục vì các phát biểu này thiếu khoa học tính, và không phù hợp với thực tế.
Có lẽ Bộ Y tế nên công bố cho quần chúng biết cách thu thập thông tin về 61 bệnh nhân đó ra sao (cụ thể câu hỏi nào được đặt ra và ai thu thập các thông tin đó), và xử lí các thông tin đó như thế nào, mà Bộ đi đến kết luận lúc ban đầu. Các thông tin này sẽ giúp cho sự phản biện khách quan hơn và không phải mang tính một chiều như hiện nay.
Posted by Nguyễn Văn Tuấn at 4:57 PM
Cơ sở khoa học của Bộ Y tế (bổ sung)
Cơ sở khoa học của Bộ Y tế (bổ sung)
Theo dõi những câu hỏi và trả lời trực tuyến do báo Tuổi trẻ tổ chức hôm thứ Bảy về vụ qui định lái xe gắn máy, tôi thấy nhiều người dân đặt câu hỏi hay, hết sức thiết thực, nhưng ngược lại những câu trả lời của các quan chức y tế và chuyên gia thì quá thất vọng. Thất vọng vì họ không trả lời câu hỏi của người dân, hay trả lời mà cứ như là hô khẩu hiệu tuyên truyền, hoàn toàn không có một bằng chứng khoa học nào cả. Xin trích dẫn vài câu hỏi, trả lời, và bình luận của tôi như sau:
Hỏi: Xin chào quý cơ quan, cho tôi được phép hỏi tại sao lại ra luật như vậy mà chưa xem xét ý kiến củq người dân. Tôi biết "Nhà nước này là của dân và do dân" mà đúng không? Ông Bộ Y tế thực tế đã xem xét kỹ các yếu tố trên về tai nạn giao thông chưa mà dám ra quy định như vậy? Tôi đã chạy xe máy gần 20 năm nay rồi mà chưa có lần nào gây tai nạn giao thông... mặc dù tôi không đủ tiêu chuẩn như quy định của Bộ Y tế mới đề ra như hiện nay. Tôi mong các cơ quan chức năng nên xem xét lại vấn đề này. (Cô minh, 39 tuổi, minhnghi2009@yahoo.com).
Trả lời: Đúng như vậy, Nhà nước của ta là Nhà nước của dân, do dân và vì dân. Mọi quy định của pháp luật đều vì lợi ích của người dân. Mọi hoạt động của Bộ Y tế cũng vì mục đích cao đẹp đó. Cũng vì xuất phát từ vấn đề bảo đảm an toàn và hạnh phúc của dân khi tham gia giao thông mà chúng tôi có quy định tiêu chuẩn sức khỏe người lái xe.
Xin chúc mừng chị đã đảm bảo an toàn giao thông trong 20 năm qua, chúc chị luôn luôn có "phong độ" như vậy trong thời gian tới. Chị chưa nói rõ về sự thiếu hụt về sức khỏe của chị nên chúng tôi chưa có bình luận gì. Quan điểm của Bộ Y tế khi xây dựng quy định này là phù hợp với chuyên môn, tạo điều kiện tối đa cho người dân nhưng phải bảo đảm an toàn giao thông. Khi quy định này đi vào thực tiễn, nếu có điểm nào chưa phù hợp, chúng tôi sẵn sàng sửa đổi, bổ sung.
Bình luận: Có ai dám tin rằng qui định này “vì lợi ích của người dân” không, khi mà có đến 5-6 triệu phụ nữ Việt Nam có nguy cơ không được phép lái xe gắn máy trên 50 cc hay lái xe ôtô. Đảm bảo an toàn giao thông? Bằng chứng nào cho thấy giao thông sẽ an toàn hơn nếu áp dụng mấy qui định mới này? Tôi nghĩ vị quan chức này chưa trả lời câu hỏi của người hỏi.
Hỏi: Từ xưa đến nay có ai gây ra tai nạn giao thông duới 1m45 hay dưới 40kg không? Cho dù có cao hay nặng đi chăng nữa thì nếu không có ý thức trong việc tham gia điều khiển phương tiện giao thông thì cũng có thể gây ra những hậu quả nghiêm trọng. Những người "lùn" và "ốm" có thể là do trời sinh người ta vậy chứ bản thân họ có muốn không? Nếu cấm họ thi lấy bằng và điều khiển phương tiện giao thông cơ giới vậy có phải là phân biệt đối xử không? (nguyen minh phuong, 30 tuổi, elvisphuong84@yahoo.com).
Trả lời: Mọi người đều thừa nhận rằng sức khỏe là một trong nhiều yếu tố ảnh hưởng đến an toàn giao thông. Nội dung này đã luật pháp khẳng định. Tôi hoàn toàn đồng tình với bạn về vấn đề ý thức của người tham gia giao thông, bạn có thấy rằng rất nhiều tai nạn giao thông xảy ra trong thời gian qua là do ý thức của người tham gia giao thông quá kém. Chúng tôi ban hành quy định này cũng là nhằm bảo đảm an toàn giao thông cho mọi người. Với những người không đủ điều kiện về sức khỏe lái xe máy trên 50cm3, vì sự an toàn giao thông của cá nhân và cộng đồng, có thể lựa chọn phương tiện giao thông phù hợp như xe gắn máy dung tích xi lanh dưới 50cm3.
Bình luận: Vị quan chức này vẫn chưa trả lời một câu hỏi rất hay và rất thực tế. Câu hỏi là có ai gây ra tai nạn giao thông dưới 145 cm hay dưới 40 kg không, mà ông quan chức này nói “mọi người đều …”! Mọi người là ai? Nếu muốn nói là “theo quan điểm của tôi” thì nói phức cho rồi, sao lại nói “mọi người”? Chắc chắc rất nhiều người trong thời gian qua không đồng tình và bất đồng ý với Bộ Y tế. Xin đừng ngụy biện theo kiểu mượn danh quần chúng (“mọi người”) để biện minh cho quan điểm phi khoa học của Bộ.
Hỏi: Tôi từng du học ở Mỹ và được cấp bằng lái xe ở đó. Tôi còn nhớ quá trình tiến hành các thủ tục cấp phép họ không có một yêu cầu nào về các chứng nhận sức khỏe. Vậy mà tổ chức giao thông ở họ vẫn tốt, tai nạn ít hơn Việt Nam rất nhiều. Vậy xin hỏi các cơ sở khoa học của quy định Tiêu chuẩn sức khỏe của Bộ Y tế là như thế nào? Tiêu chuẩn cần thiết cho ai? Cho xã hội? Cho các cá nhân điều khiển phương tiện? Cho các cơ sở, các cá nhân trực tiếp khám và ban hành giấy chứng nhận sức khỏe? Hay bộ chỉ muốn chứng tỏ mình quan trọng? (Tran Minh, 34 tuổi, thcongdan1@gmail.com).
Trả lời: Chào bạn Tran Minh, Bộ Y tế là cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân, về mặt này Bộ Y tế đúng là một cơ quan quan trọng, chắc bạn và mọi người cũng đồng ý với tôi như vậy. Cơ sở khoa học của tiêu chuẩn sức khỏe chủ yếu dựa trên kết quả điều tra quốc gia năm 2001-2002. Trong những ngày vừa qua, có nhiều ý kiến không đồng tình với một số tiêu chuẩn về thể lực: chiều cao, cân nặng, vòng ngực ... Có thể có những tiêu chuẩn cần phải có sự điều chỉnh cho phù hợp với thực tế về thể lực của người Việt Nam hiện tại nhưng việc đưa ra tiêu chuẩn vẫn cần thiết đối với đảm bảo an toàn giao thông cho chính người điều khiển phương tiện và cho những người khác. Người điều khiển phương tiện có quyền lựa chọn phương tiện phù hợp với điều kiện thể lực, sức khỏe phù hợp với chính mình.
Bình luận: Lại một câu hỏi về cơ sở khoa học của những qui định của Bộ Y tế, nhưng cách hỏi chứng tỏ người hỏi nắm vững vấn đề và có trình độ khoa học. Tuy nhiên, câu trả lời thì giống như không trả lời, vì không hàm chứa một information content (nội dung). Nói rằng cơ sở khoa học là một cuộc điều tra 2001-2002 hoàn toàn không có ý nghĩa gì cả. Kết quả của cuộc điều tra đó là gì? Có phải cuộc điều tra đó có mục tiêu phân tích mối liên hệ giữa thể trạng và tai nạn giao thông không? Tôi không tin như vậy, bởi vì ngay cả Bộ trưởng GTVT còn nói chẳng có nghiên cứu nào như thế trong quá khứ cả. Như vậy, vị quan chức này vẫn chưa trả lời câu hỏi của bạn đọc.
Hỏi: Dạ thưa thầy, dưới cái nhìn của nhà nhân trắc học, thầy có nhận định thế nào về những số đo ước lượng (chiều cao, cân nặng, vòng ngực) trong quy định của Bộ Y tế ban hành, những con số đó có hợp lý hay không? Ngoài ra, việc không chấp nhận cho những người không đủ 1 trong 83 hạng mục sức khỏe (nhiều hạng mục khá mơ hồ) sẽ ảnh hưởng rất nhiều tới người dân, điều đó có quan tâm tới ý nghĩa nhân văn đúng mực chưa ạ? Em xin cảm ơn thầy và kính chúc thầy luôn mạnh khỏe! (Mai Trần, 25 tuổi, pixie_spring@yahoo.com.au)
Trả lời: Chào bạn, về các số đo và tiêu chuẩn thể lực, quy định của Bộ Y tế là có cơ sở khoa học. Tuy vậy, theo "qui tắc 1 - 2 - 3 s (sigma)" cũng có một số cần điều chỉnh, vì người Việt nói chung "nhỏ thó".
Thí dụ, vòng ngực trung bình của nam và nữ thanh niên Việt Nam hiện nay là 75-80cm. Quy định chung cho cả hai giới là vòng ngực phải trên 72cm là chưa phù hợp. Tôi tham gia tiểu ban hình thể các kỳ thi hoa hậu Việt Nam từ năm 1998 đến nay, thấy có nhiều bạn nữ vòng ngực chỉ có 72-73cm nhưng khỏe mạnh và vẫn tham gia thi, vào đến vòng biểu diễn!
Quy định về thể lực và tình trạng sinh lý-bệnh tật là điều cần thiết cho người điều khiển phương tiện giao thông. Ở nước ta từ năm 2001, Bộ Y tế đã có quy định về việc này, nhưng không được phổ biến rộng rãi, chứ đây không phải là lần đầu tiên có quy định. Chính vì vậy, nhiều người cảm thấy có điều gì đó thiếu tính nhân văn.
Bình luận: Lại một câu hỏi rất hay: căn cứ vào bằng chứng nào mà Bộ Y tế đi đến những tiêu chuẩn cụ thể đó. Thế nhưng, một lần nữa, câu trả lời thì rất khó hiểu. Không biết các bạn thì sao, chứ tôi chẳng hiểu cái “qui tắc 1-2-3s (sigma)” là qui tắc gì cả. (Nếu bạn nào hiểu, làm ơn giải thích cho tôi biết). Ngoài ra, tôi không hiểu cái logic của phát biểu “vòng ngực trung bình của nam và nữ thanh niên Việt Nam hiện nay là 75-80cm. Quy định chung cho cả hai giới là vòng ngực phải trên 72cm là chưa phù hợp”. Tại sao chưa hợp lí? Dựa vào tiêu chuẩn gì để nói là hợp lí hay không hợp lí? Số liệu của tôi (chỉ ở nữ) cho thấy vòng ngực trung bình là 80 cm với độ lệch chuẩn là 5.11 cm. Nói cách khác, có khoảng 95% nữ (trên 16 tuổi) có vòng ngực dao động từ 70 cm đến 90 cm. Nhưng mấy con số này chẳng liên quan gì đến câu hỏi của bạn đọc: tại sao có tiêu chuẩn 72 cm? Theo tôi, vị quan chức này vẫn chưa trả lời câu hỏi.
Nói chung, qua vài câu trả lời của các quan chức mà tôi trích dẫn trên đây, tôi thấy rõ ràng rằng những qui định về chiều cao, cân nặng, vòng ngực, v.v… mà Bộ Y tế đưa ra trong việc xét duyệt cấp bằng lái xe gắn máy hoàn toàn không có một cơ sở khoa học đáng tin cậy nào cả. Xin lặp lại để nhấn mạnh: hoàn toàn không có cơ sở khoa học nào cả.
Đọc qua những trả lời của các nhà khoa học và quan chức này, tôi thấy họ sử dụng cụm từ “khoa học” và “cơ sở khoa học” rất tùy tiện. Điều đáng ngạc nhiên (hay không ngạc nhiên) là mấy quan chức và chuyên gia này đều có bằng tiến sĩ, thậm chí mang hàm giáo sư! Tôi không biết họ hiểu thế nào là khoa học. Nhưng tôi hiểu khoa học bằng cách phân biệt giữa khoa học thật và ngụy khoa học dỏm hay ngụy khoa học (pseudoscience) như sau:
Khoa học
Ngụy khoa học
Tất cả những phát hiện, khám phá của khoa học được lưu truyền trong các tập san chuyên ngành. Các báo cáo được chấp nhận công bố trong các tập san này đều được qua kiểm tra về sự chính xác và phương pháp, bằng những tiêu chuẩn khoa học mà cộng đồng khoa học chấp nhận.
Tài liệu của khoa học dỏm chủ yếu nhắm vào công chúng. Vì nhắm vào công chúng nên giới ngụy khoa học thường đăng bài ở những tạp chí dành cho người không chuyên môn, và do đó, bài báo không có kiểm tra về phương pháp hay tính chính xác.
Tất cả kết quả nghiên cứu đều phải có khả năng tái xác nhận (repeatability). Nói một cách khác, nếu có một nghiên cứu đã được công bố bởi một nhà khoa học nào đó; nếu một nhà nghiên cứu khác lặp lại nghiên cứu đó bằng những phương pháp và với điều kiện đã được mô tả, phải đạt được những kết quả tương tự.
Kết quả không có khả năng lặp lại hay kiểm tra. Mọi “nghiên cứu,” nếu có, thường được mô tả một cách mù mờ, ỡm ờ, để cố tình không cho người khác biết rõ là họ đã làm gì và làm bằng cách nào.
Đối với các nhà khoa học, tất cả những sai lầm, thất bại đều được khai thác triệt để, xem xét kĩ lưỡng để học hỏi. Những lí thuyết sai lầm có thể cho ra những kết quả đúng nhưng ngẫu nhiên; tuy nhiên, không một lí thuyết đúng nào có thể cho ra những kết quả sai lầm.
Đối với giới làm khoa học dỏm, những sai lầm, thất bại thường được bỏ qua, dấu đi, hay chối bỏ. Họ chỉ tuyên truyền những gì hợp với ý định và chủ kiến của họ.
Thuyết phục bằng bằng chứng, bằng lí luận dựa vào logic hay lập luận, bằng cách dựa vào dữ kiện, không đi ra ngoài dữ kiện.
Thuyết phục bằng niềm tin và sự trung thành. Khoa học dỏm có một yếu tố tôn giáo; nó cố gắng cải đạo, chứ không thuyết phục. Nó đòi hỏi người ta phải tin, mặc kệ cho sự thật có đi ngược lại niềm tin.
Theo thời gian, các nhà khoa học tìm tòi và học hỏi thêm và duyệt lại những kết luận hay lí thuyết cũ. Một khi bằng chứng mới mâu thuẫn với bằng chứng cũ, bằng chứng cũ sẽ bị thay thế. Không tiến bộ, lí thuyết và kết luận không bao giờ được thay đổi.
Ý tưởng cũ không bao giờ được bỏ bất kể bằng chứng mới ra sao.
Không nhắm vào danh vọng và thị trường kinh tế hay chính trị.
Giới ngụy khoa học sống nhờ vào việc buôn bán những sản phẩm đáng ngờ (sách, báo, dầu ăn, thuốc trị bách bệnh, v.v…) hay xuất hiện trên đài phát thanh, đài phát hình để tìm đến danh vọng.
Khoa học dựa vào sự thật (facts). Những sự thật phải được quan sát hay thu thập bằng những phương pháp khách quan. Khoa học dựa vào những sự thật có thể thấy, có thể nghe, có thể sờ được, chứ không dựa vào kinh nghiệm cá nhân hay suy luận theo cảm tính. Điều quan trọng và cần thiết trong khoa học là không chỉ sự thật, mà là sự thật có liên quan đến vấn đề đang được điều tra. Những sự thật này phải được thu thập (i) có tổ chức, trực tiếp, và khách quan; (ii) độc lập với lí thuyết; và (iii) một cách tin cậy để làm nền tảng cho suy luận.
Dựa vào những tiêu chuẩn trên, tôi phải nói rằng những qui định của Bộ Y tế rất phi khoa học. Phi khoa học vì chưa có một nghiên cứu nào về mối liên hệ giữa thể trạng và an toàn giao thông để đi đến làm luật hay ra qui định như thế. Thật ra, nghiên cứu từ nước ngoài cho thấy qui định của Bộ Y tế đi ngược lại bằng chứng khoa học. Và, như tôi chỉ ra trong bài trước, họ còn sai về giả định đơn giản như chiều dài của chân và chiều cao. Một giả định đơn giản như thế mà Bộ còn sai thì câu hỏi đặt ra là họ còn sai chỗ nào nữa.
Hôm qua, tôi về xem lại qui định về lái xe bên Úc, tôi chẳng thấy một qui định nào về chiều cao, cân nặng, vòng ngực, hay bệnh tật để được hay không được lái xe cả. Trong giấy xin bằng lái xe, họ yêu cầu người đứng đơn khai báo những bệnh tật chưa không cấm lái xe.
Để chắc ăn, tôi xem trên trang web giao thông vận tải của Chính phủ Úc thì thấy họ liệt kê một số bệnh có thể ảnh hưởng đến khả năng lái xe như hay bị chóng mặt, rối loạn về ngủ, cận thị, tiểu đường, bệnh tâm thần, bệnh tim, và một số bệnh liên quan đến tuổi tác. Nhưng họ còn nói thêm rằng mắc những bệnh này không có nghĩa là bạn không được lái xe, mà có nghĩa là bạn nên đến khám bác sĩ để tự mình biết đánh giá an toàn và cẩn thận trong khi lái xe.
Tôi nghĩ cách hay nhất là rút lại qui định này để bớt một gánh nặng cho người dân.
NVT
===
TB. Viết xong bài này tôi thấy trên Diễn đàn có giới thiệu 1 bài rất hay với tựa đề là "Có bệnh không nên làm quản lý" của Nguyên Lâm sau đây:
http://www.viet-studies.info/kinhte/NguyenLam_LamQuanLy.htm
Công luận vẫn chưa hết choáng váng vì những quy định của Bộ Y tế đưa ra về “Tiêu chuẩn sức khỏe người điều khiển phương tiện giao thông cơ giới”. Trong đó có những chi tiết khiến tất cả những người bình thường đều phải có phản ứng như: những người thấp bé, nhẹ cân (chưa cao đủ 1,45m, nặng chưa tới 40 kg) hoặc ngực lép (vòng ngực trung bình dưới 72cm) không đủ điều kiện lái xe gắn máy từ 50-175cm3; người có bệnh viêm loét thực quản, hẹp thực quản, loét dạ dày, sa trực tràng, trĩ, viêm gan mãn tính, to gan, teo gan, người bị vỡ xương hàm...không được phép lái xe…Nhìn vào những tiêu chí này, người ta nhận ra một vài triệu chứng của những căn bệnh hình như đã thành mãn tính đối với một số nhà quản lý công quyền.
Thứ nhất, đó là bệnh về não trạng duy ý chí, bề trên. Duy ý chí vì đáng lẽ ra pháp luật xuất phát từ thực tế, trên những đòi hỏi của thực tế, pháp luật ở nước ta nhiều khi do các cơ quan quản lý ban hành trước theo suy đoán, ý thích của mình, mà không hỏi người dân, sau đó người dân mới tham gia thụ động. Bề trên vì họ chỉ đứng trên kia nhìn xuống, mà không chịu xuống nhìn, cho rằng mình lúc nào cũng đúng, dân chỉ việc làm theo mà thôi.
Nói đến não trạng cũng vì nhà quản lý công quyền đã đưa ra những quy định “vô cùng… ngớ ngẩn”, “lạ lùng”, không giống ai như vậy. Nó khiến cho mỗi người bình thường đều phải tự hỏi, không hiểu “mấy ổng” có vấn đề hay không, nghi hoặc về não trạng của họ.
Thứ hai, đó là bệnh về mắt, cụ thể là thiển cận. Chẳng lẽ cơ quan quản lý không nhận ra những điều đơn giản như đâu phải cứ thấp bé nhẹ cân là nguyên nhân gây ra tai nạn và to béo nặng cân thì không gây tai nạn? Họ cũng không nhìn thấy được gì hơn ngoài 1,45m hay sao?
Thứ ba, đó là bệnh về tai. Họ đã không biết lắng nghe. Lắng nghe ở đây không phải là một hoạt động bản năng nghe thông thường mà là một hoạt động có ý thức, là quá trình thu nhận thông tin; nó bao gồm cả quá trình tiếp nhận, phân loại, xử lý, lưu giữ và sử dụng thông tin. Về mặt tâm lí và tình cảm thì lắng nghe còn là sự chấp nhận và đồng cảm với những ai sẽ chịu ảnh hưởng của quy định quản lý. Cơ quan quản lý trong trường hợp này không hiểu đã nghe ai, nghe từ đâu, nhưng rõ ràng là họ không hề bỏ công ra lắng nghe từ chính những người có liên quan trực tiếp nhất.
Thứ tư, đó là bệnh về chân tay. Nhà quản lý trong trường hợp này lười đến nỗi chẳng buồn động chân động tay để làm những thao tác tối thiểu như thảo luận đến nơi đến chốn trước khi cho ra những quy định như vậy. Đấy là chưa nói đến những động tác nhọc nhằn, tốn công sức, thời gian như điều tra xã hội học, nghiên cứu đa ngành, đánh giá tác động…
Thứ năm, đó là bệnh về tim. Cơ quan quản lý đã không hề động lòng, tỏ ra vô cảm trước mưu sinh của hàng triệu con người. Họ coi con người như một vật thí nghiệm khi vụng chèo, vụng cả chống rằng, trong khi thực thi, Bộ Y tế sẽ sửa đổi, bổ sung sớm nếu thấy quy định không phù hợp thực tế. Và như một tác giả viết, họ đã làm trái với nguyên tắc y đức số một của ngành y là “không làm hại người”, khi làm tổn hại về vật chất và cả tinh thần của hàng triệu người.
Thực ra, đã có những cơ chế phòng bệnh. Trước hết, đó là tự phòng bệnh lấy với nhau. Trong mỗi bộ, Bộ Y tế cũng vậy, đều có Vụ Pháp chế có trách nhiệm thẩm định văn bản của Bộ mình, rồi lấy ý kiến trong Bộ trước khi đưa ra ngoài. Tiếp đó, văn bản được gửi đi lấy ý kiến các bộ ngành khác, gửi sang Bộ Tư pháp thẩm định. Thế nhưng, những cơ chế này hiện nay có vẻ như chưa đủ sức đề kháng trước những căn bệnh nói trên. Cơ chế khiếu kiện hành chính nước ta cũng hơi trái khoáy khi chỉ cho phép kiện văn bản ảnh hưởng đến cá thể, mà không được kiện những văn bản có phạm vi ảnh hưởng rộng như Quyết định của Bộ Y tế. Còn tòa án hiến pháp lại chưa có ở nước ta, trong khi Quyết định này rõ ràng tác động xấu đến quyền đi lại- một quyền cơ bản của hàng triệu công dân, và phân biệt đối xử, kỳ thị với những người bị thiệt thòi.
Trong Luật Ban hành Văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi năm 2008 đã có quy định cơ quan ban hành văn bản phải tiến hành đánh giá tác động của văn bản, nếu không sẽ không được chấp nhận. Theo đó, cần đánh giá chi phí, hệ quả, những tác động có thể xảy ra đối với các nhóm trong xã hội, các khu vực, hoặc toàn bộ xã hội và nền kinh tế từ sự thay đổi chính sách hoặc pháp luật, được thực hiện trong qua trình làm luật, sửa đổi bổ sung các quy định pháp luật hoặc ban hành chính sách mới. Điều quan trọng, cơ bản nhất là nó đưa ra nhiều phương án khác nhau, và nghiên cứu, phân tích, đánh giá, so sánh tác động của các giải pháp đó, lựa chọn chính sách, cung cấp cho các cơ quan có thẩm quyền, để họ có thể lựa chọn được giải pháp tốt nhất. Phương pháp này thiết lập các tiêu chí để đánh giá và so sánh các tác động đó. Đây là sự tiếp nhận một thông lệ tốt của nhiều nước. Tuy nhiên, theo Luật, Quyết định của Bộ lại không phải là văn bản quy phạm pháp luật. Hơn nữa, Luật này đến tháng 1/2009 mới có hiệu lực. Như vậy, hiện tại chỉ còn trông chờ vào Cục kiểm tra văn bản của Bộ Tư pháp có tiếng nói phản biện, và Bộ Y tế “bỗng dưng” khỏi bệnh chăng?
Còn đối với các dạng văn bản quy phạm pháp luật khác, trong quá trình lấy ý kiến góp ý Nghị định thực thi Luật này, nhiều chuyên gia đã khuyến nghị phải đánh giá tác động đối với tất cả những văn bản nào ảnh hưởng đến nhiều người, nhóm dân cư trong xã hội. Phòng bệnh hơn chữa bệnh, nếu được chấp thuận, đây sẽ là một bộ lọc gạn lọc những văn bản không cần thiết, một cơ chế phát hiện, phòng ngừa việc ra đời những văn bản “lạ lùng” như vậy.
Cuối cùng, như một giáo sư có nói, “cần ban hành gấp quy định: người thiếu chất xám thì không được làm quản lý”. Người dân cũng tự hỏi: “mấy ổng” mắc nhiều bệnh vậy thì có đủ tiêu chuẩn để ngồi ở cái ghế quản lý công quyền, quyết những chuyện của hàng triệu con người như chúng ta?
Nguyên Lâm
Posted by Nguyễn Văn Tuấn at 3:45 PM
Links to this post
bàn lại tiêu chuẩn sức khỏe để cấp giấy phép lái xe
nlđ - 1 giờ 56 phút trước (nlđ) - theo bộ trưởng bộ tư pháp hà hùng cường, hôm nay, 29-10, bộ y tế sẽ chủ trì cuộc họp liên bộ tư pháp, công an, gtvt, lđ-tb-xh nhằm bàn lại một số nội dung liên quan đến tiêu chuẩn sức khỏe để được cấp ...
Posted by atOctober 28, 2008 10:41 AM
"tiêu chuẩn đi xe máy không thực tế, gây tốn kém"
vnexpress - 2 giờ 20 phút trước "quy định chiều cao, cân nặng đi xe máy của bộ y tế có nhiều điểm khiến người dân băn khoăn bởi tính không thực tế và đưa ra quá nhiều tiêu chuẩn gây tốn kém", bộ trưởng tư pháp hà hùng cường trao đổi với ...
Posted by atOctober 28, 2008 4:15 AM
bộ y tế nhận lỗi, hạ 83 xuống còn 40 tiêu chuẩn!
vnn - 2 giờ 30 phút trước. bộ y tế đã phải hạ chuẩn đối với người muốn sử dụng phương tiện giao thông. thay vì 83 tiêu chuẩn, nay bộ này dự kiến rút xuống còn... 40. cơ sở khoa học của bộ y tế - blog tuấn nguyễn ...
Posted by atOctober 27, 2008 3:38 PM
Theo dõi những câu hỏi và trả lời trực tuyến do báo Tuổi trẻ tổ chức hôm thứ Bảy về vụ qui định lái xe gắn máy, tôi thấy nhiều người dân đặt câu hỏi hay, hết sức thiết thực, nhưng ngược lại những câu trả lời của các quan chức y tế và chuyên gia thì quá thất vọng. Thất vọng vì họ không trả lời câu hỏi của người dân, hay trả lời mà cứ như là hô khẩu hiệu tuyên truyền, hoàn toàn không có một bằng chứng khoa học nào cả. Xin trích dẫn vài câu hỏi, trả lời, và bình luận của tôi như sau:
Hỏi: Xin chào quý cơ quan, cho tôi được phép hỏi tại sao lại ra luật như vậy mà chưa xem xét ý kiến củq người dân. Tôi biết "Nhà nước này là của dân và do dân" mà đúng không? Ông Bộ Y tế thực tế đã xem xét kỹ các yếu tố trên về tai nạn giao thông chưa mà dám ra quy định như vậy? Tôi đã chạy xe máy gần 20 năm nay rồi mà chưa có lần nào gây tai nạn giao thông... mặc dù tôi không đủ tiêu chuẩn như quy định của Bộ Y tế mới đề ra như hiện nay. Tôi mong các cơ quan chức năng nên xem xét lại vấn đề này. (Cô minh, 39 tuổi, minhnghi2009@yahoo.com).
Trả lời: Đúng như vậy, Nhà nước của ta là Nhà nước của dân, do dân và vì dân. Mọi quy định của pháp luật đều vì lợi ích của người dân. Mọi hoạt động của Bộ Y tế cũng vì mục đích cao đẹp đó. Cũng vì xuất phát từ vấn đề bảo đảm an toàn và hạnh phúc của dân khi tham gia giao thông mà chúng tôi có quy định tiêu chuẩn sức khỏe người lái xe.
Xin chúc mừng chị đã đảm bảo an toàn giao thông trong 20 năm qua, chúc chị luôn luôn có "phong độ" như vậy trong thời gian tới. Chị chưa nói rõ về sự thiếu hụt về sức khỏe của chị nên chúng tôi chưa có bình luận gì. Quan điểm của Bộ Y tế khi xây dựng quy định này là phù hợp với chuyên môn, tạo điều kiện tối đa cho người dân nhưng phải bảo đảm an toàn giao thông. Khi quy định này đi vào thực tiễn, nếu có điểm nào chưa phù hợp, chúng tôi sẵn sàng sửa đổi, bổ sung.
Bình luận: Có ai dám tin rằng qui định này “vì lợi ích của người dân” không, khi mà có đến 5-6 triệu phụ nữ Việt Nam có nguy cơ không được phép lái xe gắn máy trên 50 cc hay lái xe ôtô. Đảm bảo an toàn giao thông? Bằng chứng nào cho thấy giao thông sẽ an toàn hơn nếu áp dụng mấy qui định mới này? Tôi nghĩ vị quan chức này chưa trả lời câu hỏi của người hỏi.
Hỏi: Từ xưa đến nay có ai gây ra tai nạn giao thông duới 1m45 hay dưới 40kg không? Cho dù có cao hay nặng đi chăng nữa thì nếu không có ý thức trong việc tham gia điều khiển phương tiện giao thông thì cũng có thể gây ra những hậu quả nghiêm trọng. Những người "lùn" và "ốm" có thể là do trời sinh người ta vậy chứ bản thân họ có muốn không? Nếu cấm họ thi lấy bằng và điều khiển phương tiện giao thông cơ giới vậy có phải là phân biệt đối xử không? (nguyen minh phuong, 30 tuổi, elvisphuong84@yahoo.com).
Trả lời: Mọi người đều thừa nhận rằng sức khỏe là một trong nhiều yếu tố ảnh hưởng đến an toàn giao thông. Nội dung này đã luật pháp khẳng định. Tôi hoàn toàn đồng tình với bạn về vấn đề ý thức của người tham gia giao thông, bạn có thấy rằng rất nhiều tai nạn giao thông xảy ra trong thời gian qua là do ý thức của người tham gia giao thông quá kém. Chúng tôi ban hành quy định này cũng là nhằm bảo đảm an toàn giao thông cho mọi người. Với những người không đủ điều kiện về sức khỏe lái xe máy trên 50cm3, vì sự an toàn giao thông của cá nhân và cộng đồng, có thể lựa chọn phương tiện giao thông phù hợp như xe gắn máy dung tích xi lanh dưới 50cm3.
Bình luận: Vị quan chức này vẫn chưa trả lời một câu hỏi rất hay và rất thực tế. Câu hỏi là có ai gây ra tai nạn giao thông dưới 145 cm hay dưới 40 kg không, mà ông quan chức này nói “mọi người đều …”! Mọi người là ai? Nếu muốn nói là “theo quan điểm của tôi” thì nói phức cho rồi, sao lại nói “mọi người”? Chắc chắc rất nhiều người trong thời gian qua không đồng tình và bất đồng ý với Bộ Y tế. Xin đừng ngụy biện theo kiểu mượn danh quần chúng (“mọi người”) để biện minh cho quan điểm phi khoa học của Bộ.
Hỏi: Tôi từng du học ở Mỹ và được cấp bằng lái xe ở đó. Tôi còn nhớ quá trình tiến hành các thủ tục cấp phép họ không có một yêu cầu nào về các chứng nhận sức khỏe. Vậy mà tổ chức giao thông ở họ vẫn tốt, tai nạn ít hơn Việt Nam rất nhiều. Vậy xin hỏi các cơ sở khoa học của quy định Tiêu chuẩn sức khỏe của Bộ Y tế là như thế nào? Tiêu chuẩn cần thiết cho ai? Cho xã hội? Cho các cá nhân điều khiển phương tiện? Cho các cơ sở, các cá nhân trực tiếp khám và ban hành giấy chứng nhận sức khỏe? Hay bộ chỉ muốn chứng tỏ mình quan trọng? (Tran Minh, 34 tuổi, thcongdan1@gmail.com).
Trả lời: Chào bạn Tran Minh, Bộ Y tế là cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân, về mặt này Bộ Y tế đúng là một cơ quan quan trọng, chắc bạn và mọi người cũng đồng ý với tôi như vậy. Cơ sở khoa học của tiêu chuẩn sức khỏe chủ yếu dựa trên kết quả điều tra quốc gia năm 2001-2002. Trong những ngày vừa qua, có nhiều ý kiến không đồng tình với một số tiêu chuẩn về thể lực: chiều cao, cân nặng, vòng ngực ... Có thể có những tiêu chuẩn cần phải có sự điều chỉnh cho phù hợp với thực tế về thể lực của người Việt Nam hiện tại nhưng việc đưa ra tiêu chuẩn vẫn cần thiết đối với đảm bảo an toàn giao thông cho chính người điều khiển phương tiện và cho những người khác. Người điều khiển phương tiện có quyền lựa chọn phương tiện phù hợp với điều kiện thể lực, sức khỏe phù hợp với chính mình.
Bình luận: Lại một câu hỏi về cơ sở khoa học của những qui định của Bộ Y tế, nhưng cách hỏi chứng tỏ người hỏi nắm vững vấn đề và có trình độ khoa học. Tuy nhiên, câu trả lời thì giống như không trả lời, vì không hàm chứa một information content (nội dung). Nói rằng cơ sở khoa học là một cuộc điều tra 2001-2002 hoàn toàn không có ý nghĩa gì cả. Kết quả của cuộc điều tra đó là gì? Có phải cuộc điều tra đó có mục tiêu phân tích mối liên hệ giữa thể trạng và tai nạn giao thông không? Tôi không tin như vậy, bởi vì ngay cả Bộ trưởng GTVT còn nói chẳng có nghiên cứu nào như thế trong quá khứ cả. Như vậy, vị quan chức này vẫn chưa trả lời câu hỏi của bạn đọc.
Hỏi: Dạ thưa thầy, dưới cái nhìn của nhà nhân trắc học, thầy có nhận định thế nào về những số đo ước lượng (chiều cao, cân nặng, vòng ngực) trong quy định của Bộ Y tế ban hành, những con số đó có hợp lý hay không? Ngoài ra, việc không chấp nhận cho những người không đủ 1 trong 83 hạng mục sức khỏe (nhiều hạng mục khá mơ hồ) sẽ ảnh hưởng rất nhiều tới người dân, điều đó có quan tâm tới ý nghĩa nhân văn đúng mực chưa ạ? Em xin cảm ơn thầy và kính chúc thầy luôn mạnh khỏe! (Mai Trần, 25 tuổi, pixie_spring@yahoo.com.au)
Trả lời: Chào bạn, về các số đo và tiêu chuẩn thể lực, quy định của Bộ Y tế là có cơ sở khoa học. Tuy vậy, theo "qui tắc 1 - 2 - 3 s (sigma)" cũng có một số cần điều chỉnh, vì người Việt nói chung "nhỏ thó".
Thí dụ, vòng ngực trung bình của nam và nữ thanh niên Việt Nam hiện nay là 75-80cm. Quy định chung cho cả hai giới là vòng ngực phải trên 72cm là chưa phù hợp. Tôi tham gia tiểu ban hình thể các kỳ thi hoa hậu Việt Nam từ năm 1998 đến nay, thấy có nhiều bạn nữ vòng ngực chỉ có 72-73cm nhưng khỏe mạnh và vẫn tham gia thi, vào đến vòng biểu diễn!
Quy định về thể lực và tình trạng sinh lý-bệnh tật là điều cần thiết cho người điều khiển phương tiện giao thông. Ở nước ta từ năm 2001, Bộ Y tế đã có quy định về việc này, nhưng không được phổ biến rộng rãi, chứ đây không phải là lần đầu tiên có quy định. Chính vì vậy, nhiều người cảm thấy có điều gì đó thiếu tính nhân văn.
Bình luận: Lại một câu hỏi rất hay: căn cứ vào bằng chứng nào mà Bộ Y tế đi đến những tiêu chuẩn cụ thể đó. Thế nhưng, một lần nữa, câu trả lời thì rất khó hiểu. Không biết các bạn thì sao, chứ tôi chẳng hiểu cái “qui tắc 1-2-3s (sigma)” là qui tắc gì cả. (Nếu bạn nào hiểu, làm ơn giải thích cho tôi biết). Ngoài ra, tôi không hiểu cái logic của phát biểu “vòng ngực trung bình của nam và nữ thanh niên Việt Nam hiện nay là 75-80cm. Quy định chung cho cả hai giới là vòng ngực phải trên 72cm là chưa phù hợp”. Tại sao chưa hợp lí? Dựa vào tiêu chuẩn gì để nói là hợp lí hay không hợp lí? Số liệu của tôi (chỉ ở nữ) cho thấy vòng ngực trung bình là 80 cm với độ lệch chuẩn là 5.11 cm. Nói cách khác, có khoảng 95% nữ (trên 16 tuổi) có vòng ngực dao động từ 70 cm đến 90 cm. Nhưng mấy con số này chẳng liên quan gì đến câu hỏi của bạn đọc: tại sao có tiêu chuẩn 72 cm? Theo tôi, vị quan chức này vẫn chưa trả lời câu hỏi.
Nói chung, qua vài câu trả lời của các quan chức mà tôi trích dẫn trên đây, tôi thấy rõ ràng rằng những qui định về chiều cao, cân nặng, vòng ngực, v.v… mà Bộ Y tế đưa ra trong việc xét duyệt cấp bằng lái xe gắn máy hoàn toàn không có một cơ sở khoa học đáng tin cậy nào cả. Xin lặp lại để nhấn mạnh: hoàn toàn không có cơ sở khoa học nào cả.
Đọc qua những trả lời của các nhà khoa học và quan chức này, tôi thấy họ sử dụng cụm từ “khoa học” và “cơ sở khoa học” rất tùy tiện. Điều đáng ngạc nhiên (hay không ngạc nhiên) là mấy quan chức và chuyên gia này đều có bằng tiến sĩ, thậm chí mang hàm giáo sư! Tôi không biết họ hiểu thế nào là khoa học. Nhưng tôi hiểu khoa học bằng cách phân biệt giữa khoa học thật và ngụy khoa học dỏm hay ngụy khoa học (pseudoscience) như sau:
Khoa học
Ngụy khoa học
Tất cả những phát hiện, khám phá của khoa học được lưu truyền trong các tập san chuyên ngành. Các báo cáo được chấp nhận công bố trong các tập san này đều được qua kiểm tra về sự chính xác và phương pháp, bằng những tiêu chuẩn khoa học mà cộng đồng khoa học chấp nhận.
Tài liệu của khoa học dỏm chủ yếu nhắm vào công chúng. Vì nhắm vào công chúng nên giới ngụy khoa học thường đăng bài ở những tạp chí dành cho người không chuyên môn, và do đó, bài báo không có kiểm tra về phương pháp hay tính chính xác.
Tất cả kết quả nghiên cứu đều phải có khả năng tái xác nhận (repeatability). Nói một cách khác, nếu có một nghiên cứu đã được công bố bởi một nhà khoa học nào đó; nếu một nhà nghiên cứu khác lặp lại nghiên cứu đó bằng những phương pháp và với điều kiện đã được mô tả, phải đạt được những kết quả tương tự.
Kết quả không có khả năng lặp lại hay kiểm tra. Mọi “nghiên cứu,” nếu có, thường được mô tả một cách mù mờ, ỡm ờ, để cố tình không cho người khác biết rõ là họ đã làm gì và làm bằng cách nào.
Đối với các nhà khoa học, tất cả những sai lầm, thất bại đều được khai thác triệt để, xem xét kĩ lưỡng để học hỏi. Những lí thuyết sai lầm có thể cho ra những kết quả đúng nhưng ngẫu nhiên; tuy nhiên, không một lí thuyết đúng nào có thể cho ra những kết quả sai lầm.
Đối với giới làm khoa học dỏm, những sai lầm, thất bại thường được bỏ qua, dấu đi, hay chối bỏ. Họ chỉ tuyên truyền những gì hợp với ý định và chủ kiến của họ.
Thuyết phục bằng bằng chứng, bằng lí luận dựa vào logic hay lập luận, bằng cách dựa vào dữ kiện, không đi ra ngoài dữ kiện.
Thuyết phục bằng niềm tin và sự trung thành. Khoa học dỏm có một yếu tố tôn giáo; nó cố gắng cải đạo, chứ không thuyết phục. Nó đòi hỏi người ta phải tin, mặc kệ cho sự thật có đi ngược lại niềm tin.
Theo thời gian, các nhà khoa học tìm tòi và học hỏi thêm và duyệt lại những kết luận hay lí thuyết cũ. Một khi bằng chứng mới mâu thuẫn với bằng chứng cũ, bằng chứng cũ sẽ bị thay thế. Không tiến bộ, lí thuyết và kết luận không bao giờ được thay đổi.
Ý tưởng cũ không bao giờ được bỏ bất kể bằng chứng mới ra sao.
Không nhắm vào danh vọng và thị trường kinh tế hay chính trị.
Giới ngụy khoa học sống nhờ vào việc buôn bán những sản phẩm đáng ngờ (sách, báo, dầu ăn, thuốc trị bách bệnh, v.v…) hay xuất hiện trên đài phát thanh, đài phát hình để tìm đến danh vọng.
Khoa học dựa vào sự thật (facts). Những sự thật phải được quan sát hay thu thập bằng những phương pháp khách quan. Khoa học dựa vào những sự thật có thể thấy, có thể nghe, có thể sờ được, chứ không dựa vào kinh nghiệm cá nhân hay suy luận theo cảm tính. Điều quan trọng và cần thiết trong khoa học là không chỉ sự thật, mà là sự thật có liên quan đến vấn đề đang được điều tra. Những sự thật này phải được thu thập (i) có tổ chức, trực tiếp, và khách quan; (ii) độc lập với lí thuyết; và (iii) một cách tin cậy để làm nền tảng cho suy luận.
Dựa vào những tiêu chuẩn trên, tôi phải nói rằng những qui định của Bộ Y tế rất phi khoa học. Phi khoa học vì chưa có một nghiên cứu nào về mối liên hệ giữa thể trạng và an toàn giao thông để đi đến làm luật hay ra qui định như thế. Thật ra, nghiên cứu từ nước ngoài cho thấy qui định của Bộ Y tế đi ngược lại bằng chứng khoa học. Và, như tôi chỉ ra trong bài trước, họ còn sai về giả định đơn giản như chiều dài của chân và chiều cao. Một giả định đơn giản như thế mà Bộ còn sai thì câu hỏi đặt ra là họ còn sai chỗ nào nữa.
Hôm qua, tôi về xem lại qui định về lái xe bên Úc, tôi chẳng thấy một qui định nào về chiều cao, cân nặng, vòng ngực, hay bệnh tật để được hay không được lái xe cả. Trong giấy xin bằng lái xe, họ yêu cầu người đứng đơn khai báo những bệnh tật chưa không cấm lái xe.
Để chắc ăn, tôi xem trên trang web giao thông vận tải của Chính phủ Úc thì thấy họ liệt kê một số bệnh có thể ảnh hưởng đến khả năng lái xe như hay bị chóng mặt, rối loạn về ngủ, cận thị, tiểu đường, bệnh tâm thần, bệnh tim, và một số bệnh liên quan đến tuổi tác. Nhưng họ còn nói thêm rằng mắc những bệnh này không có nghĩa là bạn không được lái xe, mà có nghĩa là bạn nên đến khám bác sĩ để tự mình biết đánh giá an toàn và cẩn thận trong khi lái xe.
Tôi nghĩ cách hay nhất là rút lại qui định này để bớt một gánh nặng cho người dân.
NVT
===
TB. Viết xong bài này tôi thấy trên Diễn đàn có giới thiệu 1 bài rất hay với tựa đề là "Có bệnh không nên làm quản lý" của Nguyên Lâm sau đây:
http://www.viet-studies.info/kinhte/NguyenLam_LamQuanLy.htm
Công luận vẫn chưa hết choáng váng vì những quy định của Bộ Y tế đưa ra về “Tiêu chuẩn sức khỏe người điều khiển phương tiện giao thông cơ giới”. Trong đó có những chi tiết khiến tất cả những người bình thường đều phải có phản ứng như: những người thấp bé, nhẹ cân (chưa cao đủ 1,45m, nặng chưa tới 40 kg) hoặc ngực lép (vòng ngực trung bình dưới 72cm) không đủ điều kiện lái xe gắn máy từ 50-175cm3; người có bệnh viêm loét thực quản, hẹp thực quản, loét dạ dày, sa trực tràng, trĩ, viêm gan mãn tính, to gan, teo gan, người bị vỡ xương hàm...không được phép lái xe…Nhìn vào những tiêu chí này, người ta nhận ra một vài triệu chứng của những căn bệnh hình như đã thành mãn tính đối với một số nhà quản lý công quyền.
Thứ nhất, đó là bệnh về não trạng duy ý chí, bề trên. Duy ý chí vì đáng lẽ ra pháp luật xuất phát từ thực tế, trên những đòi hỏi của thực tế, pháp luật ở nước ta nhiều khi do các cơ quan quản lý ban hành trước theo suy đoán, ý thích của mình, mà không hỏi người dân, sau đó người dân mới tham gia thụ động. Bề trên vì họ chỉ đứng trên kia nhìn xuống, mà không chịu xuống nhìn, cho rằng mình lúc nào cũng đúng, dân chỉ việc làm theo mà thôi.
Nói đến não trạng cũng vì nhà quản lý công quyền đã đưa ra những quy định “vô cùng… ngớ ngẩn”, “lạ lùng”, không giống ai như vậy. Nó khiến cho mỗi người bình thường đều phải tự hỏi, không hiểu “mấy ổng” có vấn đề hay không, nghi hoặc về não trạng của họ.
Thứ hai, đó là bệnh về mắt, cụ thể là thiển cận. Chẳng lẽ cơ quan quản lý không nhận ra những điều đơn giản như đâu phải cứ thấp bé nhẹ cân là nguyên nhân gây ra tai nạn và to béo nặng cân thì không gây tai nạn? Họ cũng không nhìn thấy được gì hơn ngoài 1,45m hay sao?
Thứ ba, đó là bệnh về tai. Họ đã không biết lắng nghe. Lắng nghe ở đây không phải là một hoạt động bản năng nghe thông thường mà là một hoạt động có ý thức, là quá trình thu nhận thông tin; nó bao gồm cả quá trình tiếp nhận, phân loại, xử lý, lưu giữ và sử dụng thông tin. Về mặt tâm lí và tình cảm thì lắng nghe còn là sự chấp nhận và đồng cảm với những ai sẽ chịu ảnh hưởng của quy định quản lý. Cơ quan quản lý trong trường hợp này không hiểu đã nghe ai, nghe từ đâu, nhưng rõ ràng là họ không hề bỏ công ra lắng nghe từ chính những người có liên quan trực tiếp nhất.
Thứ tư, đó là bệnh về chân tay. Nhà quản lý trong trường hợp này lười đến nỗi chẳng buồn động chân động tay để làm những thao tác tối thiểu như thảo luận đến nơi đến chốn trước khi cho ra những quy định như vậy. Đấy là chưa nói đến những động tác nhọc nhằn, tốn công sức, thời gian như điều tra xã hội học, nghiên cứu đa ngành, đánh giá tác động…
Thứ năm, đó là bệnh về tim. Cơ quan quản lý đã không hề động lòng, tỏ ra vô cảm trước mưu sinh của hàng triệu con người. Họ coi con người như một vật thí nghiệm khi vụng chèo, vụng cả chống rằng, trong khi thực thi, Bộ Y tế sẽ sửa đổi, bổ sung sớm nếu thấy quy định không phù hợp thực tế. Và như một tác giả viết, họ đã làm trái với nguyên tắc y đức số một của ngành y là “không làm hại người”, khi làm tổn hại về vật chất và cả tinh thần của hàng triệu người.
Thực ra, đã có những cơ chế phòng bệnh. Trước hết, đó là tự phòng bệnh lấy với nhau. Trong mỗi bộ, Bộ Y tế cũng vậy, đều có Vụ Pháp chế có trách nhiệm thẩm định văn bản của Bộ mình, rồi lấy ý kiến trong Bộ trước khi đưa ra ngoài. Tiếp đó, văn bản được gửi đi lấy ý kiến các bộ ngành khác, gửi sang Bộ Tư pháp thẩm định. Thế nhưng, những cơ chế này hiện nay có vẻ như chưa đủ sức đề kháng trước những căn bệnh nói trên. Cơ chế khiếu kiện hành chính nước ta cũng hơi trái khoáy khi chỉ cho phép kiện văn bản ảnh hưởng đến cá thể, mà không được kiện những văn bản có phạm vi ảnh hưởng rộng như Quyết định của Bộ Y tế. Còn tòa án hiến pháp lại chưa có ở nước ta, trong khi Quyết định này rõ ràng tác động xấu đến quyền đi lại- một quyền cơ bản của hàng triệu công dân, và phân biệt đối xử, kỳ thị với những người bị thiệt thòi.
Trong Luật Ban hành Văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi năm 2008 đã có quy định cơ quan ban hành văn bản phải tiến hành đánh giá tác động của văn bản, nếu không sẽ không được chấp nhận. Theo đó, cần đánh giá chi phí, hệ quả, những tác động có thể xảy ra đối với các nhóm trong xã hội, các khu vực, hoặc toàn bộ xã hội và nền kinh tế từ sự thay đổi chính sách hoặc pháp luật, được thực hiện trong qua trình làm luật, sửa đổi bổ sung các quy định pháp luật hoặc ban hành chính sách mới. Điều quan trọng, cơ bản nhất là nó đưa ra nhiều phương án khác nhau, và nghiên cứu, phân tích, đánh giá, so sánh tác động của các giải pháp đó, lựa chọn chính sách, cung cấp cho các cơ quan có thẩm quyền, để họ có thể lựa chọn được giải pháp tốt nhất. Phương pháp này thiết lập các tiêu chí để đánh giá và so sánh các tác động đó. Đây là sự tiếp nhận một thông lệ tốt của nhiều nước. Tuy nhiên, theo Luật, Quyết định của Bộ lại không phải là văn bản quy phạm pháp luật. Hơn nữa, Luật này đến tháng 1/2009 mới có hiệu lực. Như vậy, hiện tại chỉ còn trông chờ vào Cục kiểm tra văn bản của Bộ Tư pháp có tiếng nói phản biện, và Bộ Y tế “bỗng dưng” khỏi bệnh chăng?
Còn đối với các dạng văn bản quy phạm pháp luật khác, trong quá trình lấy ý kiến góp ý Nghị định thực thi Luật này, nhiều chuyên gia đã khuyến nghị phải đánh giá tác động đối với tất cả những văn bản nào ảnh hưởng đến nhiều người, nhóm dân cư trong xã hội. Phòng bệnh hơn chữa bệnh, nếu được chấp thuận, đây sẽ là một bộ lọc gạn lọc những văn bản không cần thiết, một cơ chế phát hiện, phòng ngừa việc ra đời những văn bản “lạ lùng” như vậy.
Cuối cùng, như một giáo sư có nói, “cần ban hành gấp quy định: người thiếu chất xám thì không được làm quản lý”. Người dân cũng tự hỏi: “mấy ổng” mắc nhiều bệnh vậy thì có đủ tiêu chuẩn để ngồi ở cái ghế quản lý công quyền, quyết những chuyện của hàng triệu con người như chúng ta?
Nguyên Lâm
Posted by Nguyễn Văn Tuấn at 3:45 PM
Links to this post
bàn lại tiêu chuẩn sức khỏe để cấp giấy phép lái xe
nlđ - 1 giờ 56 phút trước (nlđ) - theo bộ trưởng bộ tư pháp hà hùng cường, hôm nay, 29-10, bộ y tế sẽ chủ trì cuộc họp liên bộ tư pháp, công an, gtvt, lđ-tb-xh nhằm bàn lại một số nội dung liên quan đến tiêu chuẩn sức khỏe để được cấp ...
Posted by atOctober 28, 2008 10:41 AM
"tiêu chuẩn đi xe máy không thực tế, gây tốn kém"
vnexpress - 2 giờ 20 phút trước "quy định chiều cao, cân nặng đi xe máy của bộ y tế có nhiều điểm khiến người dân băn khoăn bởi tính không thực tế và đưa ra quá nhiều tiêu chuẩn gây tốn kém", bộ trưởng tư pháp hà hùng cường trao đổi với ...
Posted by atOctober 28, 2008 4:15 AM
bộ y tế nhận lỗi, hạ 83 xuống còn 40 tiêu chuẩn!
vnn - 2 giờ 30 phút trước. bộ y tế đã phải hạ chuẩn đối với người muốn sử dụng phương tiện giao thông. thay vì 83 tiêu chuẩn, nay bộ này dự kiến rút xuống còn... 40. cơ sở khoa học của bộ y tế - blog tuấn nguyễn ...
Posted by atOctober 27, 2008 3:38 PM
Bằng chứng khoa học
Thursday, October 30, 2008
Bằng chứng khoa học
Sáng nay đi làm băng qua ngã tư đường có đèn giao thông gần bệnh viện St Vincent’s tôi chú ý đến hai bà cụ mặc đồng phục lao động đang ngồi chăm chú nhìn xe qua lại và bấm nút như đồng tiền. Tò mò, tôi đến hỏi hai bà làm gì, thì được biết là nhiệm vụ của họ là đếm số lượng xe qua lại. Tôi hỏi tại sao phải 2 người, thì bà cụ nói vì có hai con đường, một bà theo dõi xe đi chiều dọc, còn một bà theo dõi xe đi theo chiều ngang. Tại sao làm việc này? Tại vì có người than phiền là ngã tư này có vẻ ưu tiên cho một luồng xe, và thế là không công bằng, cho nên Nha Công chánh phải làm thu thập dữ liệu để xem than phiền đó có đúng không, và phía bên nào nhiều xe hơn phía bên nào, rồi từ đó sẽ sửa lại (nếu cần) thời gian đèn đỏ và đèn xanh. Hai bà cụ sẽ làm việc này trong vòng 3 ngày để thu thập dữ liệu.
Có thể nói rằng lời than phiền của dân chúng tương đối nhỏ. Nếu có chậm trễ vài giây cũng chẳng dẫn đến thiệt thòi gì đáng kể. Nhưng vấn đề không phải chỉ vài giây, mà là tích lũy suốt ngày thì sẽ gây ảnh hưởng đến năng suất lao động và bất công . Nhưng trước khi thay đổi chu trình đèn đường, Nha Công chánh phải cẩn thận thu thập dữ liệu để làm cơ sở khoa học.
Nhìn người lại nghĩ đến ta. Người ta chỉ vì một việc nhỏ như thế mà còn phải cẩn thận thu thập dữ liệu để đảm bảo tính khách quan, còn ở nước ta, một qui định ảnh hưởng đến hàng triệu người mà chẳng hề trình bày được một thông tin khoa học nào đáng tin cậy, chẳng làm được một nghiên cứu khoa học nào. Tìm trong Pubmed, hoàn toàn không có một nghiên cứu nào về thể trạng và an toàn giao thông ở Việt Nam. Hoàn toàn không. Ấy thế mà các quan chức nhà ta mở miệng ra là nói là “có cơ sở khoa học”! Tôi nghĩ chắc họ hiểu lầm ý nghĩa của cơ sở khoa học, chứ chẳng phải nói dóc gì đâu.
Tôi là người tin vào trường phái y học thực chứng (evidence-based medicine), làm gì cũng phải căn cứ vào bằng chứng thu thập và xử lí có hệ thống. Đành rằng bằng chứng khoa học cũng có thể sai, nhưng không dựa vào bằng chứng khoa học thì sai lầm sẽ nhiều hơn và nghiêm trọng hơn. Hi vọng rằng qua bài học “chiều cao cân nặng” này Bộ Y tế sẽ rút ra nhiều kinh nghiệm để bà con nhờ trong tương lai.
Nguồn: tuan's blog
NVT
Posted by Nguyễn Văn Tuấn at 2:55 PM
Bằng chứng khoa học
Sáng nay đi làm băng qua ngã tư đường có đèn giao thông gần bệnh viện St Vincent’s tôi chú ý đến hai bà cụ mặc đồng phục lao động đang ngồi chăm chú nhìn xe qua lại và bấm nút như đồng tiền. Tò mò, tôi đến hỏi hai bà làm gì, thì được biết là nhiệm vụ của họ là đếm số lượng xe qua lại. Tôi hỏi tại sao phải 2 người, thì bà cụ nói vì có hai con đường, một bà theo dõi xe đi chiều dọc, còn một bà theo dõi xe đi theo chiều ngang. Tại sao làm việc này? Tại vì có người than phiền là ngã tư này có vẻ ưu tiên cho một luồng xe, và thế là không công bằng, cho nên Nha Công chánh phải làm thu thập dữ liệu để xem than phiền đó có đúng không, và phía bên nào nhiều xe hơn phía bên nào, rồi từ đó sẽ sửa lại (nếu cần) thời gian đèn đỏ và đèn xanh. Hai bà cụ sẽ làm việc này trong vòng 3 ngày để thu thập dữ liệu.
Có thể nói rằng lời than phiền của dân chúng tương đối nhỏ. Nếu có chậm trễ vài giây cũng chẳng dẫn đến thiệt thòi gì đáng kể. Nhưng vấn đề không phải chỉ vài giây, mà là tích lũy suốt ngày thì sẽ gây ảnh hưởng đến năng suất lao động và bất công . Nhưng trước khi thay đổi chu trình đèn đường, Nha Công chánh phải cẩn thận thu thập dữ liệu để làm cơ sở khoa học.
Nhìn người lại nghĩ đến ta. Người ta chỉ vì một việc nhỏ như thế mà còn phải cẩn thận thu thập dữ liệu để đảm bảo tính khách quan, còn ở nước ta, một qui định ảnh hưởng đến hàng triệu người mà chẳng hề trình bày được một thông tin khoa học nào đáng tin cậy, chẳng làm được một nghiên cứu khoa học nào. Tìm trong Pubmed, hoàn toàn không có một nghiên cứu nào về thể trạng và an toàn giao thông ở Việt Nam. Hoàn toàn không. Ấy thế mà các quan chức nhà ta mở miệng ra là nói là “có cơ sở khoa học”! Tôi nghĩ chắc họ hiểu lầm ý nghĩa của cơ sở khoa học, chứ chẳng phải nói dóc gì đâu.
Tôi là người tin vào trường phái y học thực chứng (evidence-based medicine), làm gì cũng phải căn cứ vào bằng chứng thu thập và xử lí có hệ thống. Đành rằng bằng chứng khoa học cũng có thể sai, nhưng không dựa vào bằng chứng khoa học thì sai lầm sẽ nhiều hơn và nghiêm trọng hơn. Hi vọng rằng qua bài học “chiều cao cân nặng” này Bộ Y tế sẽ rút ra nhiều kinh nghiệm để bà con nhờ trong tương lai.
Nguồn: tuan's blog
NVT
Posted by Nguyễn Văn Tuấn at 2:55 PM
Thế nào là “Cơ sở khoa học”
Thursday, October 30, 2008
Thế nào là “Cơ sở khoa học” ?
Hai chữ “khoa học” đang trở thành một loại ngôn ngữ thời thượng của một số người muốn tăng trọng lượng cho phát biểu của mình. Các quan chức, không chỉ riêng ngành y tế, sử dụng hai chữ đó như là một dấu ấn cho độ tin cậy của những nhận xét. Nhưng tôi e rằng hai chữ “khoa học” đã bị hiểu lầm, rồi từ hiểu lầm dẫn đến lạm dụng, và lạm dụng khoa học dẫn đến việc gây khó khăn cho nhiều người và bất bình đẳng trong xã hội.
Khi được hỏi dựa trên cơ sở nào mà Bộ Y tế ra qui định người lái xe gắn máy trên 50 cc phải có chiều cao trên 145 cm và cân nặng trên 40 kg, các quan chức y tế cho biết họ dựa trên “cơ sở khoa học”. Họ giải thích thêm rằng đó là những số liệu về chiều cao và trọng lượng trung bình tính từ một cuộc điều tra nhân trắc học ở nước ta vào thập niên 1990. Phát biểu của một quan chức y tế cho biết: “Người Việt Nam 20-24 tuổi, nam có chiều cao là 163,72±4,67cm, cân nặng là 52,11±4,70 và nữ có chiều cao là 153,00±4,32cm, cân nặng là 44,60±4,22. […] Như vậy, việc quy định người có chiều cao dưới 1m45 hoặc cân nặng dưới 40kg thì không được lái xe A1 là có cơ sở khoa học và cũng phù hợp với hầu hết người dân Việt Nam.” Ngoài ra, Bộ Y tế còn cho biết họ đã tham khảo với các chuyên gia về nhân trắc học, xã hội học, chuyên gia pháp luật, và các giáo sư và những vị có uy tín trong ngành y tế.
Thật khó hiểu được cái logic biện chứng cho tiêu chuẩn thể trạng về an toàn giao thông bằng một liên kết giữa những con số trung bình và qui định về một ngưỡng chiều cao hay cân nặng. Thật ra, một liên kết như càng không thể xem đó là giải thích “khoa học”. Thế thì câu hỏi đặt ra là: cơ sở khoa học là gì? Theo cách hiểu được cộng đồng khoa học nhất trí, một qui định hay phát biểu được xem là khoa học nếu hội đủ ít nhất là 3 điều kiện: dữ liệu thật, công bố trước công chúng, và tính tái xác định. Một qui định hay phát biểu không hội đủ 3 điều kiện này không thể xem là mang tính khoa học được.
Khoa học dựa vào sự thật hay dữ liệu thật. Những sự thật phải được quan sát hay thu thập và đo lường bằng những phương pháp chuẩn. Điều quan trọng và cần thiết trong khoa học là không chỉ sự thật, mà là dữ liệu có liên quan đến vấn đề đang được điều tra. Ở đây vấn đề đang được quan tâm là an toàn giao thông và yếu tố gây nên tai nạn giao thông, chứ không phải những con số thống kê mang tính mô tả về chiều cao, cân nặng, hay vòng ngực. Do đó, đưa ra những con số trung bình từ một cuộc điều tra cộng đồng (chưa hẳn là một nghiên cứu khoa học) chẳng có liên quan gì đến an toàn giao thông không thể xem là bằng chứng khoa học được.
Khoa học không dựa vào kinh nghiệm cá nhân (dù cá nhân đó là chuyên gia) hay suy luận theo cảm tính. Theo y học thực chứng, ý kiến cá nhân của các giáo sư và chuyên gia có giá trị khoa học thấp nhất. Điều này đúng vì lịch sử y tế và y học cho thấy suy luận theo cảm tính đã gây ra rất nhiều tác hại cho bệnh nhân. Do đó, dựa vào ý kiến của chuyên gia thì không thể nói đó là bằng chứng khoa học được.
Bằng chứng khoa học là những kết quả và dữ liệu nghiên cứu đã được công bố trên các tập san khoa học chuyên ngành, và các tập san này có hệ thống bình duyệt (phản biện) từ các chuyên gia. Người viết bài này đã xem qua thư viện y sinh học quốc tế và chưa thấy bất cứ một nghiên cứu nào từ Việt Nam về mối liên hệ giữa chiều cao, cân nặng, hay vòng ngực và tai nạn giao thông. Các nghiên cứu từ nước ngoài cho thấy chẳng có mối tương quan nào giữa chiều cao hay trọng lượng và tai nạn giao thông, nhất là ở nữ. Do đó, chưa có thể nói rằng những qui định của Bộ Y tế về thể trạng để cấp bằng lái xe gắn máy là dựa vào bằng chứng khoa học được.
Để mang tính chất khoa học, tất cả kết quả nghiên cứu đều phải có khả năng tái xác nhận. Liên quan đến đặc tính này, có thể nói mối liên hệ giữa chiều dài của chân và chiều cao mang tính khoa học, bởi vì nghiên cứu từ Việt Nam, Đài Loan, Trung Quốc, và Nhật đều cho ra một kết quả nhất quán: chiều dài của chân bằng 46% chiều cao khi đứng. Kết quả của một nghiên cứu đơn thuần chưa thể xem là mang tính khoa học nếu kết quả này chưa được lặp lại nhiều lần trong nhiều quần thể khác nhau. Do đó, giả định của Bộ Y tế cho rằng chiều dài của chân bằng 51,7% chiều cao (để qui định chiều cao tối thiếu 145 cm) là không có cơ sở khoa học. Cho đến nay, chúng ta chưa thấy bất cứ một mối liên hệ nào giữa thể trạng và tai nạn giao thông tại Việt Nam, cho nên chúng ta có quyền nghi ngờ “cơ sở khoa học” của Bộ Y tế.
Y tế và y khoa ngày nay dựa vào bằng chứng khoa học (còn gọi là y học thực chứng – evidence-based medicine). Bằng chứng khoa học có thể không hoàn hảo, nhưng dựa vào bằng chứng khoa học chúng ta ít sai hơn là dựa vào kinh nghiệm và niềm tin duy ý chí. Do đó, ở các nước tiên tiến ngày nay, mọi chính sách y tế công cộng đều dựa vào bằng chứng từ nghiên cứu khoa học và kiến thức thực địa, chứ không phải dựa vào ý kiến cá nhân của chuyên gia hoặc một chỉ đạo duy ý chí nào.
Chính vì dựa vào bằng chứng khoa học về mối liên hệ giữa việc thắt dây an toàn và tai nạn giao thông mà ở các nước phương Tây, Nhà nước có qui định bắt buộc người lái xe và hành khách xe ôtô phải thắt dây an toàn, hay người đi xe gắn máy và xe đạp phải đội nón bảo hộ. Nhưng vì chưa đủ bằng chứng khoa học về thể trạng và an toàn giao thông, cho nên chưa có nước nào dựa vào chiều cao hay cân nặng hay vòng ngực để hạn chế cấp bằng lái xe gắn máy. Thật vậy, ở các nước phương Tây, người khuyết tật, người mắc bệnh mãn tính như tiểu đường, thấp khớp, cao huyết áp, v.v… cũng được quyền lái xe.
Những lí giải trên đây cho thấy rõ ràng rằng qui định của Bộ Y tế chẳng những không có cơ sở khoa học, mà còn không phù hợp với trào lưu quốc tế, và vô hình chung gây khó khăn cho hàng triệu người, nhất là phụ nữ, và như đã chứng minh trong bài trước, gây bất bình đẳng xã hội một cách nghiêm trọng.
Điều đáng khích lệ là Bộ Y tế đã thấy sai lầm và đã rút lại qui định này. Nhưng quan trọng hơn là Bộ cần phải tài trợ nhiều nghiên cứu khoa học hơn nữa để trong tương lai các chính sách của Bộ mang tính khoa học hơn.
Nguồn: tuan's blog
Posted by Nguyễn Văn Tuấn at 10:18 PM
Thế nào là “Cơ sở khoa học” ?
Hai chữ “khoa học” đang trở thành một loại ngôn ngữ thời thượng của một số người muốn tăng trọng lượng cho phát biểu của mình. Các quan chức, không chỉ riêng ngành y tế, sử dụng hai chữ đó như là một dấu ấn cho độ tin cậy của những nhận xét. Nhưng tôi e rằng hai chữ “khoa học” đã bị hiểu lầm, rồi từ hiểu lầm dẫn đến lạm dụng, và lạm dụng khoa học dẫn đến việc gây khó khăn cho nhiều người và bất bình đẳng trong xã hội.
Khi được hỏi dựa trên cơ sở nào mà Bộ Y tế ra qui định người lái xe gắn máy trên 50 cc phải có chiều cao trên 145 cm và cân nặng trên 40 kg, các quan chức y tế cho biết họ dựa trên “cơ sở khoa học”. Họ giải thích thêm rằng đó là những số liệu về chiều cao và trọng lượng trung bình tính từ một cuộc điều tra nhân trắc học ở nước ta vào thập niên 1990. Phát biểu của một quan chức y tế cho biết: “Người Việt Nam 20-24 tuổi, nam có chiều cao là 163,72±4,67cm, cân nặng là 52,11±4,70 và nữ có chiều cao là 153,00±4,32cm, cân nặng là 44,60±4,22. […] Như vậy, việc quy định người có chiều cao dưới 1m45 hoặc cân nặng dưới 40kg thì không được lái xe A1 là có cơ sở khoa học và cũng phù hợp với hầu hết người dân Việt Nam.” Ngoài ra, Bộ Y tế còn cho biết họ đã tham khảo với các chuyên gia về nhân trắc học, xã hội học, chuyên gia pháp luật, và các giáo sư và những vị có uy tín trong ngành y tế.
Thật khó hiểu được cái logic biện chứng cho tiêu chuẩn thể trạng về an toàn giao thông bằng một liên kết giữa những con số trung bình và qui định về một ngưỡng chiều cao hay cân nặng. Thật ra, một liên kết như càng không thể xem đó là giải thích “khoa học”. Thế thì câu hỏi đặt ra là: cơ sở khoa học là gì? Theo cách hiểu được cộng đồng khoa học nhất trí, một qui định hay phát biểu được xem là khoa học nếu hội đủ ít nhất là 3 điều kiện: dữ liệu thật, công bố trước công chúng, và tính tái xác định. Một qui định hay phát biểu không hội đủ 3 điều kiện này không thể xem là mang tính khoa học được.
Khoa học dựa vào sự thật hay dữ liệu thật. Những sự thật phải được quan sát hay thu thập và đo lường bằng những phương pháp chuẩn. Điều quan trọng và cần thiết trong khoa học là không chỉ sự thật, mà là dữ liệu có liên quan đến vấn đề đang được điều tra. Ở đây vấn đề đang được quan tâm là an toàn giao thông và yếu tố gây nên tai nạn giao thông, chứ không phải những con số thống kê mang tính mô tả về chiều cao, cân nặng, hay vòng ngực. Do đó, đưa ra những con số trung bình từ một cuộc điều tra cộng đồng (chưa hẳn là một nghiên cứu khoa học) chẳng có liên quan gì đến an toàn giao thông không thể xem là bằng chứng khoa học được.
Khoa học không dựa vào kinh nghiệm cá nhân (dù cá nhân đó là chuyên gia) hay suy luận theo cảm tính. Theo y học thực chứng, ý kiến cá nhân của các giáo sư và chuyên gia có giá trị khoa học thấp nhất. Điều này đúng vì lịch sử y tế và y học cho thấy suy luận theo cảm tính đã gây ra rất nhiều tác hại cho bệnh nhân. Do đó, dựa vào ý kiến của chuyên gia thì không thể nói đó là bằng chứng khoa học được.
Bằng chứng khoa học là những kết quả và dữ liệu nghiên cứu đã được công bố trên các tập san khoa học chuyên ngành, và các tập san này có hệ thống bình duyệt (phản biện) từ các chuyên gia. Người viết bài này đã xem qua thư viện y sinh học quốc tế và chưa thấy bất cứ một nghiên cứu nào từ Việt Nam về mối liên hệ giữa chiều cao, cân nặng, hay vòng ngực và tai nạn giao thông. Các nghiên cứu từ nước ngoài cho thấy chẳng có mối tương quan nào giữa chiều cao hay trọng lượng và tai nạn giao thông, nhất là ở nữ. Do đó, chưa có thể nói rằng những qui định của Bộ Y tế về thể trạng để cấp bằng lái xe gắn máy là dựa vào bằng chứng khoa học được.
Để mang tính chất khoa học, tất cả kết quả nghiên cứu đều phải có khả năng tái xác nhận. Liên quan đến đặc tính này, có thể nói mối liên hệ giữa chiều dài của chân và chiều cao mang tính khoa học, bởi vì nghiên cứu từ Việt Nam, Đài Loan, Trung Quốc, và Nhật đều cho ra một kết quả nhất quán: chiều dài của chân bằng 46% chiều cao khi đứng. Kết quả của một nghiên cứu đơn thuần chưa thể xem là mang tính khoa học nếu kết quả này chưa được lặp lại nhiều lần trong nhiều quần thể khác nhau. Do đó, giả định của Bộ Y tế cho rằng chiều dài của chân bằng 51,7% chiều cao (để qui định chiều cao tối thiếu 145 cm) là không có cơ sở khoa học. Cho đến nay, chúng ta chưa thấy bất cứ một mối liên hệ nào giữa thể trạng và tai nạn giao thông tại Việt Nam, cho nên chúng ta có quyền nghi ngờ “cơ sở khoa học” của Bộ Y tế.
Y tế và y khoa ngày nay dựa vào bằng chứng khoa học (còn gọi là y học thực chứng – evidence-based medicine). Bằng chứng khoa học có thể không hoàn hảo, nhưng dựa vào bằng chứng khoa học chúng ta ít sai hơn là dựa vào kinh nghiệm và niềm tin duy ý chí. Do đó, ở các nước tiên tiến ngày nay, mọi chính sách y tế công cộng đều dựa vào bằng chứng từ nghiên cứu khoa học và kiến thức thực địa, chứ không phải dựa vào ý kiến cá nhân của chuyên gia hoặc một chỉ đạo duy ý chí nào.
Chính vì dựa vào bằng chứng khoa học về mối liên hệ giữa việc thắt dây an toàn và tai nạn giao thông mà ở các nước phương Tây, Nhà nước có qui định bắt buộc người lái xe và hành khách xe ôtô phải thắt dây an toàn, hay người đi xe gắn máy và xe đạp phải đội nón bảo hộ. Nhưng vì chưa đủ bằng chứng khoa học về thể trạng và an toàn giao thông, cho nên chưa có nước nào dựa vào chiều cao hay cân nặng hay vòng ngực để hạn chế cấp bằng lái xe gắn máy. Thật vậy, ở các nước phương Tây, người khuyết tật, người mắc bệnh mãn tính như tiểu đường, thấp khớp, cao huyết áp, v.v… cũng được quyền lái xe.
Những lí giải trên đây cho thấy rõ ràng rằng qui định của Bộ Y tế chẳng những không có cơ sở khoa học, mà còn không phù hợp với trào lưu quốc tế, và vô hình chung gây khó khăn cho hàng triệu người, nhất là phụ nữ, và như đã chứng minh trong bài trước, gây bất bình đẳng xã hội một cách nghiêm trọng.
Điều đáng khích lệ là Bộ Y tế đã thấy sai lầm và đã rút lại qui định này. Nhưng quan trọng hơn là Bộ cần phải tài trợ nhiều nghiên cứu khoa học hơn nữa để trong tương lai các chính sách của Bộ mang tính khoa học hơn.
Nguồn: tuan's blog
Posted by Nguyễn Văn Tuấn at 10:18 PM
Thứ Bảy, 26 tháng 9, 2009
Ghi chép về việc ... dịch!
Dịch là một việc làm rất ... thù địch!
Thật vậy, quân thù ẩn nấp khắp nơi (phục binh), và ta luôn luôn có thể bị ... đánh úp bất cứ lúc nào!
Đơn cử một ví dụ: hôm nọ đi ăn cơm với khách, lúc tráng miệng có món trái cây thập cẩm, bình thường thì chỉ có dưa hấu (water melon! - well, phải văn ôn vũ luyện chứ nếu không thì khi cần lại quên béng chứ chẳng chơi!), thơm (pineapple!), và có lẽ thường là có bưởi (grape fruit!), hoặc chuối (bannana - well I'm not very sure about the spelling, will have to check), thì tự nhiên hôm ấy trên đĩa trái cây lại xuất hiện thêm một món, là ... củ sắn (????).
Về nhà, kể điều này với con gái 12 tuổi, vốn là một cô bé xem mẹ là nhất thế giới (!) về mọi mặt (?), nhưng nhất là về tiếng Anh (còn phải nói!), thì con bé trả lời ngon lành: tiếng Anh là yam bean! Và tất nhiên là mẹ không tin!
Tra tự điển thì chắc là không có, hoặc cũng khó mà đúng (đúng hơn là khó biết đúng sai), nên PAnh ta bèn tra mạng (trăm năm trong cõi người ta, cái gì không biết thì tra google mà lại!), và ... quả nhiên nó là yam bean!!!!
The moral of this: keep learning (even if it's from your daughter!), and of course, keep reviewing!
Còn hôm nay thì có từ này dịch từ Việt sang Anh đây, ghi lên luôn để cho nó ... nhớ:
paradigm dịch ra tiếng Việt là gì?
một vài từ tương đương tìm thấy trên mạng:
mô thức, hệ thuyết (paradigm shift = chuyển đổi hệ thuyết), khung mẫu, mô hình, hệ hình (!), vv. PAnh ta chọn "mô thức" vì thấy ... nó có vẻ hợp với những gì mình hay gặp với từ paradigm này.
vậy, anh em ơi, paradigm là mô thức, mà mô thức là paradigm nhé! nhớ lấy để đề phòng bị ... đánh úp trong tương lai!
Thật vậy, quân thù ẩn nấp khắp nơi (phục binh), và ta luôn luôn có thể bị ... đánh úp bất cứ lúc nào!
Đơn cử một ví dụ: hôm nọ đi ăn cơm với khách, lúc tráng miệng có món trái cây thập cẩm, bình thường thì chỉ có dưa hấu (water melon! - well, phải văn ôn vũ luyện chứ nếu không thì khi cần lại quên béng chứ chẳng chơi!), thơm (pineapple!), và có lẽ thường là có bưởi (grape fruit!), hoặc chuối (bannana - well I'm not very sure about the spelling, will have to check), thì tự nhiên hôm ấy trên đĩa trái cây lại xuất hiện thêm một món, là ... củ sắn (????).
Về nhà, kể điều này với con gái 12 tuổi, vốn là một cô bé xem mẹ là nhất thế giới (!) về mọi mặt (?), nhưng nhất là về tiếng Anh (còn phải nói!), thì con bé trả lời ngon lành: tiếng Anh là yam bean! Và tất nhiên là mẹ không tin!
Tra tự điển thì chắc là không có, hoặc cũng khó mà đúng (đúng hơn là khó biết đúng sai), nên PAnh ta bèn tra mạng (trăm năm trong cõi người ta, cái gì không biết thì tra google mà lại!), và ... quả nhiên nó là yam bean!!!!
The moral of this: keep learning (even if it's from your daughter!), and of course, keep reviewing!
Còn hôm nay thì có từ này dịch từ Việt sang Anh đây, ghi lên luôn để cho nó ... nhớ:
paradigm dịch ra tiếng Việt là gì?
một vài từ tương đương tìm thấy trên mạng:
mô thức, hệ thuyết (paradigm shift = chuyển đổi hệ thuyết), khung mẫu, mô hình, hệ hình (!), vv. PAnh ta chọn "mô thức" vì thấy ... nó có vẻ hợp với những gì mình hay gặp với từ paradigm này.
vậy, anh em ơi, paradigm là mô thức, mà mô thức là paradigm nhé! nhớ lấy để đề phòng bị ... đánh úp trong tương lai!
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)